Tải bản đầy đủ (.doc) (34 trang)

Lợi thế trong sản xuất và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (301.66 KB, 34 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn mười năm thực hiện đường lối mới của Đảng và Nhà nước sản
xuất cũng như xuất khẩu gạo đã từng bước phát triển. Từ một nước thiếu
lương thực nay đã là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, sản lượng xuất gạo
của Việt Nam hàng năm tăng lên liên tục, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đang
chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh của các sản phẩm ở từng
vùng, từng địa phương trong cả nước. Kim ngạch xuất khẩu gạo cũng tăng lên
đều đặn, thị trường được mở rộng liên tục. Hiện nay, lúa gạo của Việt Nam đã
có mặt ở trên 80 quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên điều đó không có nghĩa xuất khẩu gạo của nước ta đã phát
triển vững chắc và đạt hiệu quả cao. Mặc dù đã tham gia xuất khẩu gạo được
13 năm nhưng hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn còn thấp. Có nhiều
vấn đề nổi cộm trong xuất khẩu gạo như: chất lượng gạo còn thấp, chênh lệch
giá xuất khẩu của Việt Nam và thế giới còn lớn. Khả năng cạnh tranh của
Việt Nam trên thị trường thế giới chủ yếu dựa vào giá thấp, thị trường không
ổn định. Hệ thống thu gom xuất khẩu còn yếu kém, đơn lẻ nên chưa phù hợp
và đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu. Quản lý điều hành của các Bộ, ngành liên
quan còn chậm, thiếu linh hoạt, chính vì thế việc xuất khẩu gạo của Việt Nam
còn kém hiệu quả và thua thiệt nhiều.
Hiện nay, số lượng xuất khẩu của ta nhiều song lại phải bán với giá thấp
vì chưa hấp dẫn với khách hàng quốc tế. Nguyên nhân của vấn đề này vẫn là
mối quan tâm của tất cả các nhà lãnh đạo, các ngành liên quan bởi họ vẫn
chưa tìm ra lối thoát thực sự cho sản phẩm gạo Việt Nam trên trường quốc tế.
Nhận thức được lợi ích to lớn và những khó khăn mà xuất khẩu gạo
nước ta đang gặp phải, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Lợi thế trong sản xuất
và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam ”.
1
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU
THỤ LÚA GẠO
Nền kinh tế mỗi nước đều có những nguồn lực nhất định ( đất đai, tiền


vốn, kỹ thuật lao động ...) nguồn lực luôn gắn với nguồn lực khan hiếm. Để
sản xuất mặt hàng nào đó với số lượng bao nhiêu nhiều hay ít thì nền kinh tế
phải có sự lựa chọn để phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý. Xét dưới góc
độ hiệu quả kinh tế, đương nhiên các nước sẽ lựa chọn các mặt hàng nào có
lợi thế so sánh cao nhất để thông qua trao đổi thương mại tận dụng và phát
huy các lợi thế so sánh sẵn có và tiết kiệm được nguồn lực, nâng cao hiệu quả
sản xuất.
Từ thế kỷ 18, các nhà kinh tế học người Anh là Adamsmith và David
Ricardo đã đưa ra “ Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối so sánh” cho đến nay vẫn
được coi là lý thuyết nền tảng của thương mại quốc tế. Lợi thế cạnh tranh
được coi như vấn đề có tính chiến lược và sách lược của từng quốc gia, để
phát huy các yếu tố về lợi thế tuyệt đối và so sánh trong quá trình sản xuất và
trao đổi thương mại.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRONG XEM XÉT LỢI THẾ SẢN XUẤT VÀ
XUẤT KHẨU LÚA GẠO VIỆT NAM.
1.Lợi thế tuyệt đối:
Thực chất của lợi thế tuyệt đối là việc so sánh chi phí sản xuất của cùng
một loại sản phẩm ở các nước khác nhau. Nước có chi phí sản xuất cao hơn sẽ
nhập sản phẩm từ có nước có chi phí sản xuất thấp hơn, mọi nguồn lực tập
trung cho việc sản xuất sản phẩm mà nước đó có chi phí sản xuất thấp để xuất
khẩu. Theo Adam Smith thì chi phí sản xuất thấp phải xuất phát từ việc quốc
gia đó có lợi thế về nguồn tài nguyên sẵn có như đất đai, khí hậu, lao động. ở
các nước đang phát triển đặc biệt như nước ta hiện nay, có nguồn tài nguyên
dồi dào lý thuyết này hoàn toàn có ý nghĩa. Ở các nước đã phát triển, tài
nguyên đã bị khai thác hoặc không có tài nguyên chúng ta phải xem xét lợi thế
tương đối.
2. Lợi thế tương đối (Lợi thế so sánh):
Thương mại quốc tế có từ lâu đời và có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong quá trình phát triển. Các quốc gia cũng như các cá nhân không thể tồn
tại riêng rẽ mà không có mối quan hệ với nhau. Mỗi quốc gia đều có nguồn

2
lực và khả năng sản xuất giới hạn. Trao đổi buôn bán quốc tế cho phép quốc
gia mở rộng khả năng tiêu dùng vượt quá khả năng sản xuất, vấn đề đặt ra cho
mỗi quốc gia là phải chọn mặt hàng, phân bổ nguồn lực một cách hợp lý để sử
dụng một cách hợp lý.
Lý thuyết lợi thế tương đối được hình thành dựa vào việc xem xét chi
phí so sánh để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm ở các nước. Ví dụ ở Việt
Nam sản xuất một máy kéo phải hi sinh 10 tấn lúa, Nhật Bản phải hi sinh 5 tấn
lúa nên chi phí sản xuất lúa của Việt Nam bằng 1/10 máy kéo, của Nhật Bản
bằng 1/5 máy kéo. Theo lý thuyết lợi thế tương đối của Ricacdo: Việt Nam có
chi phí sản xuất lúa thấp hơn Nhật Bản nên Việt NAm chuyên môn hoá sản
xuất lúa, còn Nhật có chi phí sản xuất máy kéo thấp hơn thì Nhật chuyên môn
hoá sản xuất máy kéo và hai nước tiến hành trao đổi cho nhau. Sau trao đổi
tiêu dùng của hai nước nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF).
Lợi thế tương đối được thực hiên trên nguyêntắc chuyên môn hoá sản phẩm có
chi phí thấp hơn sau đó trao đổi lấy sản phẩm có chi phí so sánh cao hơn nhằm
thu lợi từ giá tương đối rẻ hơn so với sản xuất trong nước.
Như vậy, thương mại dựa trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm
có lợi thế tương đối cũng làm tăng thêm lợi ích xã hội. Lý thuyết đã được xây
dựng trên một loạt giả thiết được đơn giản hoá như chỉ có 2 nước sản xuất
hàng hoá, nhân tố sản xuất duy nhất là lao động có thể di chuyển tự do trong
nước, chi phí sản xuất không đổi, công nghệ không đổi, thương mại hoàn tự
do. Do vậy, mặc dù quy luật của lợi thế so sánh là nguyên lý cơ bản quan
trọng của kinh tế học nhưng vẫn hạn chế vì nó chủ yếu dựa vào lý luận giá trị
lao động cho rằng lao động là yếu tố đầu vào duy nhất. Trong thực tế lao động
không phải là đồng nhất, những ngành khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác
nhau, hơn nữa đầu vào của sản xuất còn bao gồm: đất đai, vốn, khoa học công
nghệ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường đang diễn ra mạnh mẽ chỉ khai thác
lợi thế so sánh chưa đủ mà phải khai thác lợi thế cạnh tranh.

3. Lợi thế cạnh tranh:
Ngày nay, xu thế hội nhập và tự do hoá thương mại nó như một tiền đề
thúc đẩy kinh tế phát triển nhưng nó cũng như là thách thức về sự cạnh tranh
giữa các nền kinh tế. Về nguyên lý, lợi thế tuyệt đối và tương đối được xét và
đánh giá bởi các yếu tố tự nhiên và kinh tế, nó thuần tuý ở dạng tiềm năng.
Đối với một nước nếu tiềm năng về tự nhiên có được như rừng vàng biển bạc
những vẫn bị nghèo đói nếu không có một giải pháp hữu hiệu để khai thác
tiềm năng đó. Vì vậy, các tiềm năng cần được đặt trong mối quan hệ với các
vấn đề chính trị đặc biệt là môi trường và chính sách kinh tế. Chỉ trên cơ sở
khai thác hiệu quả các điều kiên tự nhiên, kinh tế xã hội mới có sức mạnh tổng
3
hợp cao trong sản xuất và xuất khẩu. Điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
bởi sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, lơi thế so sánh không
thể tồn tại lâu dài mà có sự chuyển hoá thay đổi qua các giai đoạn. Việc xác
đinh lợi thế cạnh tranh đã xem xét tới khía cạnh trí tuệ trong khai thác các
tiềm năng tự nhiên, kinh tế đó là các yếu tố lao động có như vậy mới có giải
pháp chủ động khai thác lợi thế và tiềm lực của nền kinh tế trong sản xuất và
xuất khẩu.
Như vậy, lợi thế cạnh tranh là sự biểu hiện tính trội của mặt hàng đó về
chất lượng và cơ chế vận hành của nó trên thị trường tạo nên sức hấp dẫn và
thuận tiện cho khách hàng trong quá trình sử dụng. Nét đặc trưng của lợi thế
cạnh tranh được thể hiên trên các mặt: chất lượng, giá sản phẩm, khối lượng
sản phẩm và thời gian giao hàng, tính chất về sự khác biệt của sản phẩm hàng
hoá và cơ chế vận hành tạo môi trường thương mại. Lợi thế cạnh tranh còn
bao gồm chi phí cơ hội và năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt,
đạt tiêu chuẩn quốc tế và thị hiếu tiêu dùng trên các thj trường cụ thể, nguồn
cung cấp phải ổn định, môi trường thương mại thông thoáng, thuận lợi. Do
vậy lợi thế cạnh tranh và những nội dung mang tính giải pháp về chiến lược và
sách lược của một đất nước trong quá trình sản xuất trao đổi và thương mại,
lợi thế cạnh tranh chính là nghệ thuật phát huy những lợi thế sẵn có của chính

mình để tạo thành ưu thế hàng hoá trong cạnh tranh.
4. Điều kiện vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh và lợi thế cạnh
tranh.
Thuyết lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh có ý nghĩa hết sức thiết thực
đối với sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, muốn lợi dụng các thuyết lợi thế cần
phải có những điều kiện nhất định:
Một là: Lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh được vận dụng trong điều
kiên ngoại thương vì vậy các nước muốn khai thác lợi thế so sánh và lợi thế
cạnh tranh trước tiên phải có nền sản xuất hàng hoá theo hướng xuất khẩu.
Đây là điều kiện cơ bản vận dụng nguyên lý về lợi thế cạnh tranh.
Hai là: Lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh luôn gắn với yêu cầu
mang tính xã hội, trong đó vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước mang tính
quyết định. Vì vậy, để điều vận các lý thuyết về lợi thế là có cơ chế quản lý
năng động, các chính sách kinh tế mở tạo khả năng khai thác các tiềm năng tự
nhiên tạo ra sức cạnh tranh.
Ba là: Muốn khai thác được lợi thế cần đánh giá đầy đủ chúng, muốn
vậy phải có các chuyên gia kinh tế sử dụng thành thạo các phương pháp đánh
giá gắn liền với các hoạt động kinh tế thị trường.
4
Bốn là: Để đánh giá được các lợi thế phải có hệ thống thông tin với
mức độ tin cậy cao, phản ánh chính xác số lượng, chất lượng các yếu tố để đáp
ứng yêu cầu đó phải điều tra, khảo sát các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
trong nước, nắm chắc các thông tin về thị trường thế giới.
5. Lợi thế của Việt Nam trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
Vấn đề tích cực trong hội nhập là chủ động tham gia các quan hệ hợp
tác thương mại, tham gia vào phân công lao động quốc tế mà biểu hiện tập
trung và chủ yếu nhất là thực hiện chiến lược đẩy mạnh sản xuất – xuất khẩu
hàng hoá.
Qua phân tích nghiên cứu, các nhà kinh tế cho rằng Việt Nam có đủ 4
yếu tố rất cơ bản về lợi thế trong hoạt động xuất khẩu nông sản đặc biệt là

gạo, bao gồm: Vị trí địa lý; nguồn lao động; tài nguyên thiên nhiên; chính sách
đổi mới và sự ổn định nền kinh tế vĩ mô.
5.1 Ví trí địa lý.
Lịch sử nông nghiệp thế giới đã xác định 4 trung tâm nông nghiệp đầu
tiên của loài người là: Trung Đông với lúa mì, lúa mạch, đậu Hà Lan; TRung
Mỹ với ngô và khoai lang, Đông Nam á với lúa nước: Bắc Trung Quốc với
cao lương. Như vậy, Việt Nam thuộc một trong bốn trung tâm nông nghiệp
đầu tiên với cây lúa nước là đặc trưng. Khoa học Việt Nam năm 1964 khẳng
định: “ Việt Nam nếu không phải là trung tâm duy nhất xuất hiện cây lúa trồng
thì cũng là một trong những trung tâm sớm nhất”. Như vậy, có thể nói cây lúa
nước là cây bản địa của Việt Nam.
Việt Nam nằm ở vòng cung Châu á - Thái Bình Dương, đây là nơi đang
diễn ra những dòng giao lưu kinh tế sôi động nhất và hứa hẹn cho những bước
phát triển trong tương lai. Việt Nam năm trên tuyến giao thông quốc tế quan
trọng và có hệ thống biển là cửa ngõ không chỉ đối với nền kinh tế Việt Nam
mà còn đối với nền kinh tế của nhiều quốc giai khác. Đây là điều vô cùng
thuận lợi so với các nước khác nằm sâu trong lục địa hoặc nằm ở những nơi ít
diễn ra hoạt động thương mại quốc tế. Lợi thế về mặt địa lý của nước ta đang
rất thuận lợi tạo ra một môi trường kinh tế năng động, linh hoạt, giảm được
chi phí vận chuyển và khả năng mở rộng thị trường trao đổi hàng hoá và các
hoạt động dịch vụ. Đây là lợi thế cần khai thác và phát huy trong phát triển
kinh tế, nếu không biết tận dụng và phát huy là đang tự đánh mất cơ hội trong
phát triển.
5
5.2 Lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và sinh thái.
Quá trình phát triển của cây lúa nước bao gồm 5 thời kỳ, tất cả các thời
kỳ cây lúa đều đòi hỏi nhiệt độ lớn hơn 20°C, được tưới thường xuyên, có
lượng nhiệt đủ lớn để cây đẻ nhánh và làm hạt tốt...Điều kiện nước ta hoàn
toàn đáp ứng được yêu cầu đó. Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm có độ
ẩm không khí cao khoảng 80%, nhiệt độ thường xuyên trên 20°C, khí hậu ấm

áp có tổng bức xạ mặt trời lên tới 140 – 200 kilo calo/1cm2/năm, số giờ nắng
trong năm đạt trung bình 1200giờ/năm và tập trung mạnh vào thời kỳ làm hạt
của lúa, góp phần cho năng suất cao. Lượng mưa hàng năm của nước ta rất
lớn, trung bình 1500 – 2000mm, hệ thống nước ngầm có trữ lượng lớn, chỉ
tính dưới lớp đất dày 1m lượng nước dự trữ đã là 100 –150mm, hệ thống sông
ngòi dày dặc...là điều kiện tiên quyết cho sản xuất lúa nước phát triển vì nó
đảm bảo cung cấp đủ nước tưới cho hàng triệu ha lúa. Ngoài ra hệ thống sông
ngòi dày đặc cũng đem lại cho Việt Nam nhiều đồng bằng thung lũng, tạo nền
tảng cho ruộng lúa nước ra đời ở nước ta.
Ngoài ra, nước ta có điều kiện và sinh thái khá phong phú và đa dạng.
Với sự hình thành 7 vùng sinh thái khác nhau mỗi vùng có đặc thù và thế
mạnh riêng trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Với việc bố trí cây trồng,
vật nuôi... mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta, đặc biệt có nhiều tiểu
vùng “sinh thái – khí hậu đặc thù” cho phép phát triển một số cây đặc sản có
giá trị xuất khẩu cao mà ít nơi có được tạo cho nông sản Việt Nam có năng
suất sinh học cao và có những đặc trưng về “hương vi - chất lượng” tự nhiên
được thế giới ưa thích, là những lợi thế trong cạnh tranh về tính độc đáo của
nông sản Việt Nam. Mà ở một số vùng đã hội tụ được nhiều điều kiện thuận
lợi cho việc bố trí vật nuôi cây trồng có giá trị xuất khẩu lớn mang tính đặc
sản có giá trị của nền nông nghiệp Việt Nam như: Vùng Tây Nguyên có cây
cà phê, vùng Đông Nam Bộ phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản,
vùng trung du miền núi phía Bắc là vùng có tiềm năng kinh tế đa dạng cho
phép bố trí cây trồng vật nuôi có hiệu quả như cây chè, chăn nuôi đại gia súc.
5.3 Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lúa
lớn của cả nước.
Đồng bằng sông Hồng(ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL)
là hai vựa lúa lớn nhất của cả nước, được đánh giá vào loại phì nhiêu trên thế
giới.
Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng lớn có diện tích 1,5 triệu ha được
bồi đắp do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, đây cũng là đồng bằng cổ

màu mỡ trên thế giới được bồi tụ hàng tỉ tấn đất mỗi năm, chỉ tính 1m3 nước
6
vào mùa khô cũng chuyển 0,5 kg phù sa. ĐBSH có chứa hàm lượng đạm
amôn, lân, nirat và các nguyên tố vi lượng khác khá cao, độ PH đạt trị số 6 –
6.5 được xem như trung tính. Các điều kiện trên hoàn toàn phù hợp để chúng
ta phát triển cây lúa nước theo hướng thâm canh cho năng suất cao, sản lượng
tăng hàng năm đạt 4%, tạo ra 1 triệu tấn thóc hàng hoá 1 năm. Ngoài ra,
ĐBSH là đồng bằng cổ có lịch sử khai thác hơn 4 triệu năm nên đát canh tác
thuần thục lâu năm. Đến nay cùng với ĐBSCL, ĐBSH đã khẳng định được vai
trò quan trọng của mình trong sản xuất lúa gạo đảm bảo an ninh lương thực và
xuất khẩu.
Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng lớn nhất nước ta được hình
thành chủ yếu do phù sa hệ thống sông Mê Kông bồi tụ hàng năm. Đất phù sa
sông Cửu Long có rất nhiều tính trội, lượng đạm, lân, và các chất khác trong
đất khá cao: cứ 1 lít nước ĐBSCL chứa 2.4 mg đạm, 0.6 mg lân. ĐBSCL là
đồng bằng trẻ được khai thác vào cuối thế kỷ 17. Giữa thế kỷ 19 diện tích lúa
ở đây là 20 vạn ha, đến nay đã mở rộng ra 4 triệu ha, đất đai bình quân trên
đầu người khoảng 0.4 ha/người. Người dân ĐBSCL đã sớm tận dụng các điều
kiện thuận lợi đó để phát triển cây lúa theo hướng sản xuất hàng hoá lớn phục
vụ xuất khẩu. Sản lượng lúa ĐBSCL tăng 7% một năm và tạo ra từ 5.5 – 6.2
triệu tấn thóc hàng hoá chiếm hơn 70% lượng gạo xuất khẩu của cả nước hàng
năm. Với kết quả đó ĐBSCL giữ vị trí chiến lược trong xuất khẩu lúa gạo
nước ta.
Như vậy, với các đặc điểm lý, hoá, tính cả hai đồng bằng lớn nước ta
đều có những ưu điểm nổi trội, hoàn toàn phù hợp với sự phát triển cây lúa
nức cho năng suất cao. Với độ màu mỡ và đặc điểm điểm thời tiết khí hậu –
mùa vụ cho phép ĐBSH và ĐBSCL sản xuất lúa quanh năm (2 - 3 vụ/năm)
trên diện rộng và thích nghi với nhiều giống lúa cao sản, lúa đặc sản có năng
suất cao. Có thể nói sản xuất lúa của chúng ta không thua kém gì với Thái Lan
mà còn đáp ứng được tính đa dạng về chủng loại và phẩm cấp gạo cho thị hiếu

tiêu dùng ngày càng đa dạng hiện nay trên thế giới.
Với đặc điểm trên, sản xuất nông nghiệp đặc biệt là ngành trồng lúa
nước dã có nhiều thuận lợi cơ bản, chứa đựng những “tiềm năng” về lợi thế
cạnh tranh của ngành nông sản trên thị trường. Đó là: năng suất, chất lượng và
chi phí sản xuất thấp...Nhờ lợi thế vốn có mà trong nhiều năm qua tuy xuất
khẩu ở nước ta chỉ ở dạng nguyên liệu thô hoặc có sơ chế nhưng vẫn có lãi.
Song đó cũng chỉ là tiền đề trong quá trình cạnh tranh, vấn đề phải biết phát
huy tốt các lợi thế đó để không ngừng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh
của nông sản xuất khẩu đặc biệt là xuất khẩu gạo trong thời gian tới, bằng
những giải pháp hữu hiệu về khoa học công nghệ, chính sách, tạo sự biến đỏi
thực sự trong chất lượng và năng suất lao động xã hội. Với sự thay đổi mục
tiêu chiến lược của cạnh tranh chuyển trọng tâm từ lợi thế so sánh dựa vào
7
điều kiên tự nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và giá nhân công rẻ
sang lợi thế cạnh tranh mạnh hơn dựa trên tiềm lực khoa học với chi phí thấp
cũng như nhiều sản phẩm và quy trình độc đáo hơn.
5.4. Nguồn lao động của Việt Nam dồi dào.
Hiện nay với 37 triệu người đang ở trong độ tuổi lao động ( chiếm 50 %
dân số ), hàng năm có khoảng 1 - 1,2 triệu người đến tuổi lao động. Lao động
Việt Nam hơn 60 % hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với các ưu thế đặc
trưng là cần cù, thông minh và có khả năng tiếp thu nhanh chóng khoa học
công nghệ...Hơn nữa, giá nhân công lại rẻ và thấp hơn nhiều các nước trong
khu vực: giá công lao động của Việt Nam chỉ bàng 1/3 của Thái Lan, bằng
1/30 của Đài Loan, 1/26 của Singapo. Đây là lợi thế rất lớn cần khai thác có
hiệu quả. Bên cạnh đó còn không ít hạn chế về lao động của Việt nam như:
trình độ lao động còn thấp, hầu hết chưa qua đào tạo, ý thức tổ chức kỷ luật
chưa cao. Do đó chúng ta cần phải không ngừng khắc phục những hạn chế đó
để đáp ứng được yêu cầu của phân công lao động quốc tế.
5.5 Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
Kể từ khi thực hiện đường lối của Đảng ( từ đại hội VI – 1981 ) đến nay

nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tưu đáng kể, kinh tế nông
nghiệp không ngừng được phát triển, đời sống nông thôn từng bước được
nâng cao, nền kinh tế xã hội trở nên năng động, linh hoạt, kinh tế đối ngoại
được tăng cường và phát triển trên tất cả các lĩnh vực: hoạt động nhập khẩu,
đầu tư, hợp tác và tham gia vào các tổ chức quốc tế. Chính sự ổn định về
chính trị và đổi mới chính sách đã tạo đà cho quá trình phát triển. Như vậy,
chính sách và môi trường được xem như là một trong những lợi thế có vai trò
quyết định tới quá trình phát triển của nền kinh tế. Trong quá trình thực hiện
luôn được bổ sung và hoàn thiện các chính sách, tạo môi trường kinh tế thuận
lợi cho yêu cầu của sự nghiệp phát triển nền kinh tế xã hội.
Uy tín và vai trò của Việt Nam trên thị trường xuất khẩu nông sản, đặc
biệt là thị trường lúa gạo trên thế giới không ngừng được tăng lên. Tuy còn
yếu cả về kinh nghiệm và bề dày trong việc tham gia vào thị trường xuất khẩu
nhưng đã có tốc độ phát triển nhanh thể hiện sự trưởng thành, biểu hiện sản
lượng và kim ngạch xuất khẩu có vị trí cao trên thị trường - xuất khẩu lúa gạo
Việt Nam dã đứng hàng thứ hai trên thế giới. Như vậy Việt Nam có ảnh
hưởng đáng kể trên thị trường thế giới về mặt hàng gạo xuất khẩu với số
lượng và chất lượng ngày càng tăng, vị thế của Việt Nam ngày càng được
củng cố trong kinh tế đối ngoại.
8
II. XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG GẠO THẾ GIỚI.
1. Cung:
Gạo là nhu yếu phẩm tối cần thiết cho nhu cầu hàng ngày của con
người. Do nhận thức được tầm quan trọng của lúa gạo mà ngày nay hầu hết
các quốc gia đều quan tâm đến lĩnh vực an ninh lương thực, trong đó họ đặc
biệt quan tâm đến vấn đề cân đối cung - cầu tạo sự ổn định cho nhu cầu trong
nước. Hơn nữa, diễn biến thuận tiện của thời tiết khí hậu trong vài năm gần
đây làm lượng lúa gạo trao đổi trên thị trường ngày càng nhiều, rất nhiều quốc
gia dư thừa gạo đặc biệt là các nước đang phát triển. Trong vài thập niên vừa
qua các nước đang phát triển vẫn thường xuyên chiếm khoảng 80% lượng gạo

xuất khẩu trên toàn thế giới, phần còn lại các nước phát triển chiếm 20%.
Theo phạm vi châu lục thì Châu Á trung bình xuất khẩu lớn nhất chiếm 75%,
thứ đến là Mỹ xuất khẩu khoảng 20%, cả 3 châu Châu Âu, châu Đại Dương,
Châu Phi chỉ chiếm 5% tổng xuất khẩu gạo thế giới.
Theo kinh tế học, độ co giãn của cung đối với giá cả thường lớn hơn độ
co giãn của cầu. Khi giá tăng người ta có thể đầu tư cho xuất khẩu gạo nhiều
hơn như thông qua mở rộng diện tích canh tác, cải tiến giống, công nghệ chế
biến...Song điều này diễn ra chậm chạp và cần có thời gian để điều chỉnh.
Tổng cung gạo biến động phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như thời
tiết, thiên tai, bão lũ, hạn hán,sâu bệnh...
2.Cầu:
Khi giá tăng, người ta cũng có thể thay thế việc tiêu dùng gạo bằng các
loại lương thực khác như: lúa mỳ, ngô...song sự thay đổi này bị hạn chế bởi
thói quen và tập quán tiêu dùng. Trong ngắn hạn tổng cầu về gạo (AS) là
tương đối ổn định.
Trước khi do thiếu lương thực triền miên nhu cầu lương thực của con
người rất đơn giản chỉ cần có gạo là đủ ăn. Trước nhu cầu đó, việc sản xuất
lúa gạo cũng đơn giản, những loại giống lúa nào ngắn ngày cho năng suất cao
đều được coi là giống tốt và được áp dung rộng rãi. Đối với những giống lúa
đặc trưng truyền thống mặc dù có hương vị nhưng năng suất thấp nên việc bảo
tồn gần như được coi nhẹ. Cùng với văn minh xã hội hiện đại ngày nay thì nhu
cầu của con người cũng không ngừng tăng lên. Nhu cầu của con người không
chỉ dừng lại ở mức đủ gạo để ăn mà đòi hỏi những loại gạo có chất lương cao
- đặc sản, những loại gạo tự nhiên. Sở dĩ có gạo “tự nhiên” bởi lẽ cùng với
những thành tựu của KHCN là tác hại của lượng hoá chất tồn đọng trong sản
phẩm. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu đã phát hiện ra rằng: tiêu dùng
những loại gạo còn lưu lượng hoá chất là vô cùng tác hại. Hơn nữa, những loại
9
gạo còn thâm canh theo phương thức cổ truyền, tự nhiên bao giờ cũng có
hương vị đậm đà hơn các sản phẩm cùng loại mà sử dụng quá nhiều hoá chất.

Chính điều này đã dẫn đến một xu hướng có tính quy luật về nhu cầu gạo hiện
nay: Cầu về số lượng gạo chất lượng thấp có xu hướng tăng chậm thậm chí
giảm, còn cầu về gạo chất lượng cao vẫn không ngừng tăng lên.
3.Giá:
Giá gạo trên thị trường thế giới rất nhạy cảm. Sự dao động của nó phụ
thuộc vào sản lượng, tồn kho, dự trữ toàn cầu, tỷ lệ thay thế biên giữa gạo và
các loại lương thực khác như: lúa mỳ, ngô... đặc biệt tình mùa vụ trong sản
xuất và trao đổi.
Nhìn chung giá lúa gạo trên thế giới gần đây có xu hướng giảm xuống,
nguyên nhân của sự giảm giá này do nhu cầu gạo tương đối ổn định trong khi
cung ngày càng có xu hướng tăng lên.
Đứng trước xu hướng của thị trường gạo thế giới, Việt Nam với cương vị
là một nước xuất khẩu. Biện pháp lâu dài đối với chúng ta trước hết là nâng
cao chất lương lúa gạo, tiếp đó là mở rộng thị trường tiêu thụ.
III. MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH VÀ
XUẤT KHẨU LÚA GẠO VIỆT NAM.
1. Sự biến động của thị trường.
Thị trường là phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất và tiêu dùng, ở đâu
có sản xuất, lưu thông hàng hoá thì ở đó có thị trường. Để nắm vững các quy
luật vận động của thị trường nhằm xử lý các tình huống trong kinh doanh nhất
thiết chúng ta phải nghiên cứu và hiểu biết thị trường mà mình địng kinh
doanh. Chúng ta nghiên cứu tác đọng của thị trường thế giới đến xuất khẩu
gạo của Việt Nam hai vấn đề:
Thứ nhất: dung lượng của mặt hàng gạo trên thị trường Đó là khối
lượng hàng hoá được giao dịch trên phạm vi thị trường nhất định. Chúng ta
nghiên cứu dung lượng thị trường gạo để xác định nhu cầu thật của thị trường
gạo thế giới. Như chúng ta đã biết, gạo là sản phẩm thiết yếu rất cần thiết cho
cuộc sống, nhưng nhu cầu nhập khẩu tăng lên cầu về gạo của mỗi cá nhân
giảm xuống, song nhu cầu của toàn xã hội vẫn tăng lên. Nguyên nhân là khi
thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng gạo trực tiếp ít đi nhưng người ta sẽ tiêu

dùng những sản phẩm được chế biến từ gạo tăng lên. Đồng thời nhu cầu gạo
tăng lên do dân số tăng lên. Vì vậy vhúng ta thực hiện chiến lược xuất khẩu
sản phẩm, ta phỉa lấy cơ sở xuất khẩu là do nhu cầu khi có nhu cầu mới xuất
10
hiện. Đánh giá tương đối dung lượng thế giới sẽ cho phép xác định nhu cầu và
khả năng cung cấp gạo cho thị trường.
Thứ hai: Sự biến động của giá gạo.
Giá gạo xuất khẩu gạo được coi là giá tổng hợp trong đó bao gồm: chi
phí sản xuất, bao bì, vận chuyển, thu mua, thuế xuất nhập khẩu ... Cũng như
các mặt hàng khác, giá gạo biến động rất phức tạp bởi nó bị chi phối bởi nhiều
yếu tố như: cung, cầu, cạnh tranh. Hơn nữa gạo là sản phẩm thiết yếu nên một
sự biến động nhỏ của cung hoặc cầu đều làm thay đổi giá.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây cầu về gạo tương đối bão hoà,
cung về gạo ngày càng tăng dẫn đến giá gạo trên thị trường thế giới rất thấp -
ảnh hưởng lớn đến đời sống nông dân nhất là những vùng chuyên canh cây
lúa. Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến những
biện pháp hỗ trợ nông dân trồng lúa và những doanh nghiệp xuất khẩu gạo.
2. Thị hiếu người tiêu dùng.
Tuỳ theo mức sống, tập quán, việc tiêu thụ gạo của các nước, của các
khu vực trong những thời gian nhất định có những yêu cầu khác nhau thông
thường, gạo đánh bóng và sát trắng được ưa chuộng hơn. Tuy vậy, có những
vùng nông thôn người ta lại ưa loại gạo sát không kỹ chứa nhiều Vitamin và
này nay thế giới thiên về gạo ngon hạt dài. Từ những khác nhau về thị hiếu đó,
ta thấy rằng khi thâm nhập vào một thị trường nào đó trước hết ta phải tìm
hiểu thị hiếu của họ, xem họ cần loại gạo nào từ đó cung ứng phù hợp, có như
vậy mới nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo.
3.Chất lượng gạo xuất khẩu.
Chất lượng gạo là một trong những yếu tố quyết định tới sự cạnh tranh
trên thị truờng, đồng thời nó cải thiện được hiệu quả xuất khẩu. Chất lượng
gạo xuất khẩu cần được hiểu một cách rộng hơn với ý nghĩa là một chỉ tiêu

tổng hợp phản ánh mức độ thoả mãn nhu cầu gạo xuất khẩu về quy cách,
phẩm chất, kiểu dáng, sở thích, tập quán tiêu dùng. Chất lượng gạo không phụ
thuộc vào nhiều yếu tố trong đó giống, kỹ thuật canh tác và bảo quản chế biến
là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng gạo.
3.1 Giống:
Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng gạo, bởi lẽ giống
tốt bản thân nó đã đảm bảo các chỉ tiêu:
 Khả năng chống chọi với điều kiện tự nhiên.
 Cho phép sinh trưởng và phát triển mạnh.
11
 Tạo ra sản phẩm mới có năng suất chất lượng cao, mẫu mã đẹp.
 Có khả năng hạn chế các loại sâu bệnh.
Để có thể tạo ra chất lượng tốt thì Đảng và Nhà nước và Bộ Nông
Nghiệp và Phát triển Nông thôn cần có sự đầu tư thích đáng vào lĩnh vực
nghiên cứu giống cây trồng, lĩnh vực công nghệ gen, bên cạnh đó cần tranh
thủ trình độ khoa học tiên tiến của các nước trên thế giới như vấn đề chuyển
giao công nghệ, vấn đề nghiên cứu ứng dụng ...
3.2. Kỹ thuật canh tác:
Là tổng hợp các biện pháp bao gồm các khâu: gieo cấy, chăm sóc và
phòng trừ sâu bệnh. Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình sinh
trưởng và phát triển cây lúa, việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuạt là việc vô
cùng quan trọng tạo ra loại gạo có chất lượng cao.
3.3 Công nghệ sau thu hoạch:
Đây là khâu cuối cùng ảnh hưởng đến chất lượng lúa gạo bao gồm: phơi
sấy, xay xát, bao gói và kỹ thuật bảo quản. Mỗi một công đoạn thực hiện là
một lần làm thay đổi chất lượng hạt gạo. Sự thay đổi này là tăng lên khi công
đoạn đó được thực hiện đúng quy trình và sự thay đổi đó là giảm đi khi không
đúng quy trình kỹ thuật. Xét một cách cụ thể hơn:
Với khâu phơi sấy:
Đây là công đoạn làm giảm độ ẩm của lúa gạo khi mới gặt về. Độ ẩm

đảm bảo của hạt thóc là 14% thì khi cho vào kho bảo quản loại thóc này
thường dễ bị nảy mầm điều này cũng đồng nghĩa với hạt gạo làm ra dễ biến
màng và bạc bụng không đảm bảo tiêu chuẩn cho xuất khẩu gạo. Hơn nữa,
bản thân quá trình sấy khô lúa gạo nếu không đúng quy trình tức là cho vào
máy sấy một khối lượng lúa gạo quá lớn hoặc một lượng nhiệt quá cao sẽ dẫn
đến việc tạo ra một lượng lúa gạo có độ ẩm không đồng đều và gạo sẽ nhiều
hạt vỡ.
Với kho bảo quản:
Bất kể quốc gia nào có lúa gạo thì đều có kho bảo quản. Kho bảo quản
là một hệ thống các kho từ kho bảo quản ở các chợ thu mua, kho bảo quản tập
trung ở nơi xay xát và kho bảo quản ở các cảng giao hàng. Việc xây dựng các
kho một cách hiện đại đảm bảo là yêu cầu cần thiết đặt ra với mọi quốc gia
xuất khẩu lúa gạo.
Với chế biến:
Kỹ thuật xay sát được đánh giá theo chất lượng hạt gạo nguyên. Tuy
nhiên, lượng gạo nguyên cao hay thấp còn phụ thuộc kỹ thuật xay xát và
giống lúa. Thị hiếu tiêu dùng quyết định tới cách chế biến như thế nào. Có
12
nước ưa gạo sát trắng, không còn phôi và lớp cám ngoài cùng. Có nhiều nước
ưa gạo hấp chứa nhiều Vitamin và có giá trị dinh dưỡng cao. Việc chế biến
sao cho phù hợp thị hiếu người tiêu dùng cũng đồng nghĩa với chất lượng gạo
được nâng lên để đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.
4. Cơ chế chính sách của Nhà nước đối với việc xuất khẩu gạo.
Cơ chế quản lý, chính sách kinh tế và quan hệ đối ngoại là yếu tố rất
nhạy cảm, tác động trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng.
Sự tác động của cơ chế chính sách đến xuất khẩu gạo theo hai hướng:
kìm hãm xuất khẩu nếu chính sách đó không phù hợp và thúc đảy mạnh mẽ
xuát khẩu đạt hiệu quả cao nếu chính sách đó phù hợp.
Đối với xuất khảu gạo, chính sách tác động mạnh mẽ nhất là:
 Chính sách đầu tư.

 Chính sách vốn tín dụng.
 Chính sách bảo hiểm và trợ giá.
Hơn nữa, xuất khẩu gạo là hoạt động buôn bán vượt ra ngoài phạm vi
một quốc gia thông qua mối quan hệ thương mại có tổ chức từ bên trong ra
bên ngoài nhằm thu được lợi ích ngoại vi lớn hơn. Vì vậy các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến xuất khẩu gạo. Đối với một
nước các cơ quan kinh tế đối ngoại cởi mở cho phép tìm kiếm được nhiều bạn
hàng để xuất khẩu. Sự biến động các ngoại tệ mạnh tạo ra sự thay đổi tỷ giá
hối đoái cũng là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu gạo. Đặc biệt đối
với Việt Nam đến năm 2003, Hiệp định Thương mại tự do giữa các nước
Đông Nam Á có hiệu lực, hàng rào thuế quan được xoá bỏ. Đây không chỉ là
nhân tố ảnh hưởng đơn thuần mà là thách thức lớn cho xuất khẩu gạo của
nước ta.
Trước thực tế đó, yêu cầu đặt ra cho chính phủ Việt Nam hiện nay là
cần có một chính sách hợp lý trong điều hành xuất khẩu gạo, cũng như các
doanh nghiệp xuất khẩu, có thể giảm thuế quan, trợ cấp vận chuyển, cho vay
ưu đãi để thu mua thóc của nông dân, đồng thời khi giá giảm có thể giúp họ
bằng quỹ bình ổn ...Quy định mức giá trần, giá sàn để đảm bảo lợi ích cho
người sản xuất và tiêu dùng. Nhà nước cần xác định tỉ giá hối đoái hợp lý để
tạo ra sức cạnh tranh cho xuất khẩu gạo. Vì tỷ giá hối đoái là đòn bẩy để điều
tiết cung cầu, tỷ giá hối đoái thấp sẽ cho tác dụng khuyến khích nhập khẩu
nhưng tỷ giá hối đoái cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu nhưng nó lại khuyến khích
xuẩt khẩu vì khi đó hàng xuất khẩu sẽ có giá tương đối thấp.
Trước xu thế vận động và phát triển không ngừng của xã hội, KHCN
ngày càng hiện đại cùng với đó là nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng
được nâng cao, ngành lúa gạo cũng phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu đó. Vì
13

×