Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

Các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo của trường Trung học Nông Lâm nghiệp Yên Bái nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực nông - lâm nghiệp của tỉnh trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (874.51 KB, 102 trang )



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT




NGUYỄN THỊ HƯƠNG





TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA


Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60.38.30




LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC




Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Trung Tụng







HÀ NỘI – 2008



MỤC LỤC



Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA
6
1.1. Khái niệm thiệt hại, bồi thường thiệt hại, pháp nhân và người của
pháp nhân
6
1.1.1.
Khái niệm thiệt hại
6
1.1.2.
Khái niệm bồi thường thiệt hại
11
1.1.3.
Khái niệm pháp nhân

13
1.1.4.
Khái niệm người của pháp nhân
18
1.1.5.
Khái niệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
25
1.2. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra là loại bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
26
1.2.1.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
26
1.2.2.
Những đặc trưng cơ bản của bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra
29
1.2.2.1.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân trong trường
hợp người của pháp nhân gây thiệt hại là trách nhiệm trực tiếp

1.2.2.2.
Việc bồi thường chỉ diễn ra khi người của pháp nhân có lỗi trong
việc thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thực tế cho
người khác (cá nhân, tổ chức khác) và người bị hại (hoặc người
đại diện hợp pháp của người bị hại) đòi bồi thường thiệt hại
31
1.2.2.3.
Xác định giới hạn, phạm vi thực hiện trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do người của pháp nhân gây ra

35
1.2.2.4.
Về trình tự giải quyết bồi thường thiệt hại do người của pháp
nhân gây ra
35
1.2.3.
Cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra
36
1.2.3.1.
Cơ sở lý luận
36
1.2.3.2.
Cơ sở pháp lý
37


1.2.3.3.
Cơ sở thực tiễn
39
1.3. ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người
của pháp nhân gây ra
40
1.4. Quá trình hình thành và phát triển của quy định bồi thường thiệt
hại do người của pháp nhân gây ra ở Việt Nam
41
1.5. Pháp luật của một số nước về bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra
48
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT BỒI

THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA
53
2.1. Thực trạng pháp luật
53
2.1.1.
Các quy định hiện hành về bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra
53
2.1.1.1
Về chủ thể
53
2.1.1.2.
Về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường của pháp nhân
58
2.1.2.
Các quy định hiện hành về giải quyết bồi thường thiệt hại do
người của pháp nhân gây ra
59
2.1.2.1.
Các nguyên tắc của việc giải quyết bồi thường thiệt hại
59
2.1.2.2.
Trình tự thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại
64
2.1.2.2.1.
Phương thức bồi thường
64
2.1.2.2.2.
Nghĩa vụ hoàn trả
66

2.2. Thực tiễn giải quyết tại Tòa án bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra ở Việt Nam hiện nay
68
2.2.1.
Thực trạng việc pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người
của mình gây ra
68
2.2.1.1.
Pháp nhân từ chối bồi thường do chưa nhận thức được trách
nhiệm của mình
69
2.2.1.2.
Trường hợp pháp nhân nhận thức được trách nhiệm của mình
với việc người của pháp nhân gây thiệt hại nhưng do người bị
hại đưa ra mức yêu cầu bồi thường không hợp lý nên cũng
không đi đến thỏa thuận thống nhất và phải yêu cầu Tòa án giải
quyết
72
2.2.1.3.
Trường hợp pháp nhân đã mua bảo hiểm nên đẩy toàn bộ trách
73


nhiệm sang đơn vị bảo hiểm
2.2.2.
Thực tiễn giải quyết việc bồi thường thiệt hại do người của pháp
nhân gây ra
74
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA
VIỆC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP

NHÂN GÂY RA
85
3.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về việc bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
85
3.2. Giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96


1
MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hình thức cụ
thể của trách nhiệm dân sự, là quy định của luật dân sự mà khi được áp dụng
sẽ làm hình thành một quan hệ dân sự trong đó người có hành vi xâm phạm
đến tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác thì người gây ra thiệt hại phải bồi thường những
thiệt hại do mình gây ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng đối
với bất kỳ một chủ thể nào nếu xử sự của họ trái với quy định của pháp luật
nói chung và gây ra thiệt hại cho chủ thể khác.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra là
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp cụ thể. Vấn
đề này lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995 tại điều
622. Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời, vấn đề bồi thường thiệt hại do người của

pháp nhân gây ra được quy định tại điều 618 trên cơ sở kế thừa các quy định
tại điều 622 Bộ luật dân sự 1995 và có sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực
tế phát triển đất nước.
Nội dung của các văn bản pháp luật trên đây đã đóng một vai trò rất quan
trọng trong việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân
gây ra. Tuy nhiên so với đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống thì pháp luật Việt Nam
về vấn đề này vẫn cần phải được nghiên cứu để hoàn thiện và áp dụng có hiệu
quả nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay có rất nhiều tổ
chức, doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư làm ăn tại Việt Nam.
Khác với việc giải quyết bồi thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, vấn đề
bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra có đặc trưng riêng đó là
người có hành vi gây thiệt hại là người của pháp nhân nhưng pháp nhân phải

2
đứng ra bồi thường cho người bị thiệt hại sau đó yêu cầu người có hành vi
gây thiệt hại hoàn trả lại một khoản tiền cho pháp nhân. Đây là điều quan tâm
không chỉ của những người làm công tác nghiên cứu pháp luật, mà còn là sự
quan tâm của những người làm công tác thực tiễn liên quan đến việc giải
quyết bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do ngƣời của pháp nhân gây
ra” hiện nay mang tính cấp thiết.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu có một số chuyên đề nghiên cứu
và bài viết liên quan đến nội dung của đề tài như:
- Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Lê Mai Anh: “Những vấn đề cơ
bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự”.
Luận văn này nghiên cứu nhiều vấn đề, trong đó có những nội dung liên quan
đến đề tài nghiên cứu của tác giả như: tiếp cận vấn đề trách nhiệm dân sự, khái
niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và đặc điểm pháp lý.
- Bài viết “Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của

TS. Phùng Trung Tập – Trưởng bộ môn Luật dân sự Khoa Luật Dân sự,
Trường Đại học Luật Hà Nội. Trong bài viết này có đề cập đến nhiều vấn đề
trong đó có nội dung có tính chất tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu
đề tài của tác giả như: việc phân tích những hành vi có lỗi trong một số loại
trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng (về cơ sở xác định lỗi, hình thức lỗi), hay
khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần phải xác định
yếu tố lỗi để có căn cứ quy trách nhiệm cho người có hành vi trái pháp luật.
- Ngoài ra còn có nhiều chuyên đề, bài viết, bài nghiên cứu của một số
tác giả làm công tác xây dựng pháp luật cũng là những tài liệu nghiên cứu
quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện đề tài nghiên cứu.

3
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Luận văn nghiên cứu những vấn đề sau:
- Một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người của pháp nhân gây ra. Cụ thể là người của pháp nhân thực thi công việc
của pháp nhân gây thiệt hại trong quá trình thực thi công việc của mình.
- Pháp luật của Việt Nam quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do người của pháp nhân gây ra, so sánh với pháp luật một số nước quy định
về vấn đề này.
- Nội dung và thực tiễn thi hành pháp luật hiện hành của Việt Nam về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê
Nin, ứng dụng cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài luận văn còn sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học tin cậy khác như: phương pháp phân tích, so sánh,
tổng hợp và một số phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp khác.
5. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
5.1. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài

- Mục đích thứ nhất là tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển các
quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do
người của pháp nhân gây ra để từ đó thấy được quan điểm của Nhà nước ta
ngày càng quan tâm đến việc hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
- Mục đích thứ 2: Lý giải việc vận dụng các quy định của pháp luật
điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Khác
với vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, vấn đề bồi thường
thiệt hại do người của pháp nhân gây ra xuất phát từ mối quan hệ giữa pháp

4
nhân, người của pháp nhân và người bị thiệt hại mà pháp nhân phải bồi
thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Việc quy định của pháp luật điều chỉnh
vấn đề này như thế nào nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị thiệt hại.
- Mục đích thứ 3: Trên cơ sở kết quả của việc nghiên cứu các vấn đề lý
luận và thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật điều chỉnh bồi thường thiệt hại
do người của pháp nhân gây ra sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật điều chỉnh việc bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
5.2. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Bước đầu phân tích một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do người của pháp nhân gây ra; nêu và đánh giá thực tiễn thi hành
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra ở
Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
- Trình bày, phân tích và so sánh một số chế định cơ bản trong pháp
luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra của
một số quốc gia trên thế giới.
- Kiến nghị đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật của Việt
Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.

6. NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn cũng như thực trạng
của việc áp dụng pháp luật điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do người
của pháp nhân gây ra để tìm ra những tồn tại trong quy định của pháp luật
điều chỉnh vấn đề này.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giải quyết bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.

5
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA
1.1. Khái niệm thiệt hại, bồi thường thiệt hại, pháp nhân và người của
pháp nhân
1.2. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra là loại bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.3. Ý nghĩa của việc quy định bồi thường thiệt hại do người của pháp
nhân gây ra
1.4. Quá trình hình thành và phát triển của quy định bồi thường thiệt
hại do người của pháp nhân gây ra ở Việt Nam
1.5. Pháp luật của một số nước về bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA
2.1. Thực trạng pháp luật
2.2. Thực tiễn giải quyết tại Toà án bồi thường thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra ở Việt Nam hiện nay
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA
PHÁP NHÂN GÂY RA
3.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về việc bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
3.2. Giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra

6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
DO NGƢỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA

1.1. Khái niệm thiệt hại, bồi thƣờng thiệt hại, pháp nhân và ngƣời
của pháp nhân
1.1.1. Khái niệm thiệt hại
Đối với cá nhân, tổ chức, quốc gia hay quốc tế, khi nói đến thiệt hại, là
nói đến sự mất mát “cái gì đó” và luôn mang tính tiêu cực. “Cái gì đó” ở đây
có thể định tính, định lượng được hoặc có thể không. Thiệt hại có thể do con
người hoặc do tự nhiên gây nên. Có thiệt hại gắn với trách nhiệm pháp lý,
cũng có thiệt không gắn với trách nhiệm pháp lý. Vậy thiệt hại là gì?
Thiệt hại được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng về người và của” [27, tr.
157]. Theo quan điểm truyền thống, pháp luật dân sự luôn coi thiệt hại là
những tổn thất có liên quan đến tài sản; tuy nhiên, theo những quan điểm hiện
nay thì thiệt hại bao gồm không chỉ những tổn thất về tài sản. Theo Từ điển
giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt hại là
“tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức
được pháp luật bảo vệ” [35, tr. 118]. Hay “Thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm
sút về một lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật bảo vệ.”[13, tr. 247].
Theo Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan thì không nêu định nghĩa thế
nào là thiệt hại mà cho rằng đó là hậu quả của hành vi sai trái “tổn thương

một cách trái pháp luật đến đời sống, thân thể, sức khoẻ, tự do, tài sản hoặc
bất cứ quyền nào của người khác” và “tổn thương đến uy tín hoặc lòng tin,
hoặc thu nhập hay sự thịnh vượng của người khác” (Điều 420 và 423) [8]. Bộ
luật dân sự Trung Quốc lại quy định về thiệt hại trái pháp luật chứ không quy
định thiệt hại một cách chung chung, đó là các điều từ 184 đến 198: trong đó

7
có các loại thiệt hại trái pháp luật về tính mạng (Điều 192), về thân thể, sức
khoẻ, danh dự, tự do, uy tín, sự riêng tư hoặc sự trong trắng hoặc đối với nhân
phẩm của người khác một cách nghiêm trọng (Điều 195), và về tài sản (Điều
196) [9]. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định tại Điều 310: “Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật
chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần” [2]. Bộ luật dân sự Việt
Nam năm 2005 quy định tại Điều 307: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao
gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù
đắp tổn thất về tinh thần” [1]. Quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại là
thiệt hại về tinh thần bao gồm “tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc
suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân” và thiệt hại về vật chất bao gồm “tài
sản bị mất, huỷ hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn
thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được”.
Tóm lại, thiệt hại có thể hiểu là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu
của sự vật sau khi chịu sự tác động từ bên ngoài.
Như vậy, nhìn từ góc độ nào (khoa học pháp lý hay quy định của pháp
luật) thì thiệt hại cũng thường gồm,
a) Thiệt hại về vật chất
Thiệt hại về vật chất là thiệt hại về tài sản (tài sản bị mất, bị huỷ hoại,
bị hư hỏng) và chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng hoa
lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra phải thu được.
Về pháp lý, thiệt hại về vật chất vừa động chạm đến tài sản hữu hình –
thiệt hại trực tiếp (là vật và lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ thể) như

vật có thực, tiền và các giấy tờ có giá trị bằng tiền như cổ phiếu, trái phiếu,
hối phiếu, chứng từ tiền gửi, phương tiện thanh toán và quyền, nghĩa vụ tài
sản và tài sản vô hình (đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ); đồng thời vừa
xâm hại các lợi ích khác – thiệt hại gián tiếp (lợi tức, hoa lợi tính được thành

8
tiền). Thiệt hại về vật chất bao hàm nhiều vấn đề, và hầu như vấn đề về tài sản
là vấn đề được quan tâm nhiều nhất.
Tài sản được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, như thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, tư liệu sinh hoạt, nhà ở
Giải quyết bồi thường thiệt hại về tài sản thực tế là giải quyết mối quan
hệ giữa chủ thể gây thiệt hại với người bị thiệt hại, giữa người có nghĩa vụ
khắc phục hậu quả xảy ra đối với người có quyền yêu cầu bồi thường theo
quan hệ nghĩa vụ dân sự, qua đó để ổn định và lập lại trật tự quan đã bị phá
vỡ. Việc giải quyết đó không chỉ căn cứ duy nhất vào đặc điểm của tài sản,
mà còn phải dựa vào các dấu hiệu khác nhằm làm rõ mối quan hệ giữa người
bị thiệt hại với tài sản của họ (là đối tượng bị hành vi gây thiệt hại tác động
vào), đó là dấu hiệu về quyền đối với tài sản thông qua quyền sở hữu.
Theo quan niệm phổ thông, người có quyền sở hữu là người có được một
tài sản là của riêng mình và toàn quyền định đoạt tài sản đó. Quyền sở hữu bao
gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo
quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có
đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.
Quyền sở hữu tài sản là quyền được pháp luật bảo vệ nhưng trong thực tế,
chủ sở hữu không phải là người duy nhất có quyền đối với tài sản của mình.
Trong trường hợp tài sản được chủ sở hữu chuyển giao cho người khác hoặc do
pháp luật quy định thì ngoài chủ sở hữu ra, người có tài sản do được chủ sở hữu
uỷ quyền quản lý tài sản, do thông qua giao dịch dân sự cũng có quyền đối với
tài sản (như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng). Vì vậy, khi thiệt hại xảy ra,
người bị xâm hại là người đang chiếm hữu hoặc đang sử dụng tài sản đó.

b) Thiệt hại về tinh thần
Trong cuộc sống, sự tồn tại của yếu tố tinh thần nhằm toát lên “toàn bộ
hoạt động nội tâm của con người nói chung (như ý nghĩ, tình cảm )” [27, tr.

9
1684]. Hoạt động này chi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần
của con người, làm nên giá trị tinh thần qua phạm trù danh dự, uy tín, nhân
cách, phẩm giá của một con người hoặc danh dự, uy tín của một tổ chức. Đời
sống nội tâm là một trong hai mặt không thể thiếu cho sự tồn tại của mỗi cá
nhân. Trong hoạt động xã hội, sự tồn tại của mặt thứ hai này trong cuộc sống
con người cũng luôn bị đe dọa bởi khả năng gây thiệt hại khi tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm của con người bị xâm phạm.
Việc xem xét một thiệt hại về tinh thần với tính chất của sự tổn thất đối
với đối tượng phi vật thể, bao gồm thiệt hại thuần tuý tinh thần và thiệt hại
tinh thần có nguồn gốc từ thiệt hại vật chất, do tính mạng, sức khoẻ bị xâm
hại. Tính hiện thực và xã hội của thiệt hại tinh thần là ở chỗ, nó xâm phạm
đến phần quan trọng trong việc học tập, duy trì và phát triển các mối quan hệ
giữa cá nhân và cộng đồng, đó là danh dự, uy tín, phẩm giá của con người .
Thiệt hại về tinh thần trong quan niệm pháp lý của luật Châu Âu và luật
Anh - Mỹ là loại thiệt hại không được biểu đạt bằng việc mất tài sản, hay vật
hoặc các quyền định giá được bằng tiền. Khác với thiệt hại về vật chất mà
việc xác định thiệt hại không phải là khó khăn đặc biệt, thiệt hại về tinh thần
là thiệt hại đối với cuộc sống tâm linh của con người mà theo học thuyết pháp
lý của Pháp gọi là thiệt hại đối với “thành phần tình cảm, tình thương yêu của
sản nghiệp tinh thần”. Vì thế, thiệt hại về tinh thần không có tiêu chí chung
cho mọi cá nhân.
Hình thức thể hiện của thiệt hại về tinh thần đương đối đa dạng, có thể
là đau đớn do thương tích, đau khổ về tinh thần do mất người thân (cha, mẹ, vợ,
chồng, con ) hoặc là nỗi khổ tâm khi không thể tham gia vào hoạt động xã hội
hay không thể hoà nhập được vào đời sống cộng đồng nữa (như bị mù, bị liệt ).

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thiệt hại về tinh thần là những
tổn thất, mất mát trong tình cảm, sự hụt hẫng hoặc sụp đổ về tinh thần, tâm lý

10
của con người do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín cá nhân, danh dự - uy
tín của tổ chức bị xâm phạm hoặc do người thân thích, gần gũi nhất của mình
bị thiệt hại.
Theo quy định của Bộ luật dân sự Nhật Bản, tại Điều 709 quy định
“Người nào cố ý hoặc vô ý xâm phạm quyền của người khác, hoặc các lợi ích
của người khác được pháp luật bảo vệ, sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường
bất kỳ thiệt hại nào là hậu quả phát sinh từ hành vi trái pháp luật đó”, sau đó,
tại Điều 710 có nêu: “Một người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại theo quy
định tại Điều 709, ngoài việc bồi thường thiệt hại về tài sản còn phải bồi
thường kể cả thiệt hại phi vật chất, bất kể thiệt hại như vậy xảy ra đối với
quyền lợi, uy tín hoặc tài sản của người khác.” [5]
Như vậy, một đặc điểm của thiệt hại về tinh thần đó là không thể định
lượng được mức độ tổn thất bởi vì nó gắn với danh dự, uy tín, tình cảm của
con người. Nó thuộc về ý thức của con người, mang tính chủ quan nên khó
tính toán được một cách chính xác. Đa số các nhà lý luận pháp lý cho rằng,
thiệt hại tinh thần là thiệt hại gây ra đối với tâm trạng của con người và thể
hiện bằng việc con người phải chịu những đau đớn và lo lắng về tinh thần.
Cũng như thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần thể hiện rõ tính xã hội. Nó liên
quan đến cái gọi là “thành phần xã hội của sản nghiệp tinh thần” bao gồm
danh dự, uy tín, tên tuổi, nhân phẩm nói chung, đó là các tổn thất về quyền
và lợi ích liên quan đến nhân thân của con người vốn có tầm quan trọng trong
việc tạo lập, duy trì, phát triển các mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng.
Cho đến nay thực tiễn lập pháp và xét xử hiện đại đã thừa nhận thiệt hại tinh
thần cần phải được bồi thường, nếu có yêu cầu. Cái khó trong xác định thiệt
hại về tinh thần là ở chỗ, căn cứ vào các tiêu chí nào để định lượng (vật chất
hoá) loại thiệt hại này? Cơ sở giải quyết bồi thường thiệt hại về tinh thần là sự

“bù đắp” một phần hay toàn bộ thiệt hại đã xảy ra?

11
Mặc dù rất khó xác định tính chất, mức độ của thiệt hại về tinh thần,
nhưng việc bồi thường thiệt hại về tinh thần bằng một khoản tiền nào đó có
tác dụng tích cực nhất định cho sự phục hồi trạng thái tinh thần bình thường
của người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần mà người
gây thiệt hại phải gánh chịu có tính chất như một chế tài, vì sẽ không công bằng
nếu một người có lỗi khi thực hiện một hành vi gây thiệt hại cho người khác mà
lại không bị trừng phạt. Có áp dụng như vậy thì mới bảo đảm nguyên tắc công
bằng và góp phần gìn giữ những tình cảm, truyền thống, đạo đức tốt đẹp.
Thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy
tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; danh dự, uy tín,
tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác.
1.1.2. Khái niệm bồi thường thiệt hại
Thông thường, khi xảy ra thiệt hại, đối tượng bị thiệt hại được những
đối tượng không bị thiệt hại hoặc bị thiệt hại ít hơn giúp đỡ, chia sẻ để vượt
qua khó khăn, thể hiện tinh thần tương thân, tương ái; đây là trách nhiệm đạo
đức, trách nhiệm lương tâm cộng đồng của đối tượng giúp đỡ, chia sẻ. Trường
hợp thiệt hại do con người có lỗi gây ra thì việc giúp đỡ, chia sẻ vẫn diễn ra,
nhưng bên cạnh đó còn có trách nhiệm pháp lý của người có lỗi gây thiệt hại
đối với người bị thiệt hại, người ta gọi đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Bồi thường thiệt hại là việc “đền bù những tổn thất đã gây ra” [27, tr. 191].
“Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành
vi gây ra thiệt hại phải bù đắp, đền bù những tổn thất về vật chất và tổn thất
về tinh thần cho bên bị vi phạm. Điều kiện phát sinh trách nhiệm này là phải
có thiệt hại, có hành vi gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây ra thiệt hại” [13, tr.216].
Bộ luật dân sự của Pháp quy định: Bất cứ hành vi nào của một người mà gây
thiệt hại cho người khác, thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi


12
thường thiệt hại (tại Điều 1382); và: Đối với nghĩa vụ phải làm hoặc không
được làm một công việc, nếu người có nghĩa vụ mà không thực hiện nghĩa vụ
thì sẽ phải bồi thường thiệt hại (Điều 1142) [7]. Bộ luật dân sự và Thương
mại Thái Lan quy định: Một người cố tình hay vô tình làm tổn thương một
cách trái pháp luật đến đời sống, thân thể, sức khoẻ, tự do, tài sản hoặc bất cứ
quyền nào của người khác, thì bị coi là phạm một hành vi sai trái và có nghĩa
vụ bồi thường cho sự tổn thương đó (Điều 420) [8]. Bộ luật dân sự Việt Nam
năm 2005 tại khoản 1 Điều 604 quy định: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền,
lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của
pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường [1].
Như vậy, về mặt pháp lý, bồi thường thiệt hại là một dạng trách nhiệm
dân sự phát sinh do gây thiệt hại, khắc phục những hậu quả do hành vi gây
thiệt hại trái pháp luật. Điều kiện để phát sinh nghĩa vụ bồi thường là có thiệt
hại xảy ra do hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại, xâm phạm đến
quyền lợi của người khác. Bên cạnh đó bồi thường thiệt hại còn có thể là do vi
phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.
Trong pháp luật dân sự có 2 loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó là:
1) Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hay còn gọi là trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong hợp đồng - Trách nhiệm này được áp dụng đối với các
chủ thể đã gây ra những thiệt hại do không thực hiện, thực hiện không đúng,
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ dân sự của mình; 2) Bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng – Trách nhiệm này được áp dụng đối với bất kỳ một chủ
thể nào nếu hành vi của họ trái với quy định của pháp luật và gây ra thiệt hại
cho chủ thể khác. Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại là việc đền bù
những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; vì
việc bồi thường thiệt hại là “hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có


13
hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn
thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại” [ 35, tr.31]. Với
quan niệm thiệt hại là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật
sau khi chịu sự tác động bên ngoài, vì vậy bồi thường thiệt hại có thể hiểu là
trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật, hiện tượng. Về mặt
pháp lý, thiệt hại là những tổn thất về tài sản, tổn thất về tính mạng, sức khoẻ,
uy tín, danh dự, nhân phẩm; vì vậy, bồi thường thiệt hại là sự khôi phục lại
những tổn thất trên bằng những cách thức và tiêu chí do pháp luật đặt ra.
Bồi thường thiệt hại là quan hệ pháp luật phát sinh từ hậu quả của
những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân;
xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác.
Bồi thường thiệt hại là một hình thức của trách nhiệm dân sự; theo đó,
bên có hành vi trái pháp luật một cách cố ý hoặc vô ý gây ra thiệt hại, phải bù
đắp, khôi phục lại trạng thái ban đầu những tổn thất về tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của
cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác bị thiệt hại.
1.1.3. Khái niệm pháp nhân
Trong quan hệ dân sự, bên cạnh chủ thể là cá nhân còn có các chủ thể
khác, đó là cơ quan, tổ chức và một số chủ thể hạn chế khác. Cơ quan, tổ chức
là những tập thể người nên trong quan hệ dân sự có những đặc thù riêng về
chủ thể, chứ không như chủ thể là cá nhân. Để có tư cách pháp nhân, là chủ
thể tham gia quan hệ dân sự thì cơ quan, tổ chức phải đáp ứng được những
điều kiện cần thiết được pháp luật quy định.
Cơ quan, tổ chức trước hết phải tồn tại độc lập, sự tồn tại độc lập đó thể
hiện là có tư cách chủ thể riêng, không phụ thuộc vào sự thay đổi các thành
viên trong cơ quan, tổ chức đó.

14

Những cơ quan, tổ chức này phải có tài sản riêng của mình độc lập với
tài sản của các cá nhân thành viên. Tài sản riêng đó không phải là tài sản của
các cá nhân đóng góp với hình thức sở hữu chung theo phần, mà tài sản đó tồn
tại một cách độc lập và không phụ thuộc vào tài sản của các cá nhân thành
viên. Trong quá trình tồn tại, các thành viên của cơ quan, tổ chức đó có thể thay
đổi nhưng những tài sản của cơ quan, tổ chức đó và chính cơ quan, tổ chức đó
vẫn còn. Có quyền sử dụng, định đoạt tài sản riêng để khi tham gia quan hệ dân
sự, cơ quan, tổ chức đó chịu trách nhiêm dân sự một cách độc lập.
Trong hoạt động của mình, cơ quan, tổ chức tham gia quan hệ dân sự
thông qua người đại diện của cơ quan, tổ chức đó; cụ thể là khi tham gia các
quan hệ liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức thì người đó mang danh
nghĩa của cơ quan, tổ chức, chứ không phải là danh nghĩa của cá nhân người đó.
Tuy nhiên, để có tư cách chủ thể tham gia quan hệ dân sự thì cơ quan,
tổ chức đó phải được pháp luật công nhận. Quy chế pháp lý của cơ quan, tổ
chức này do pháp luật quy định.
Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, tại Điều 72 liệt kê những đối
tượng sau đây là pháp nhân: 1) Những tổ chức công; 2) Tu viện; 3) Những hội
có đăng ký; 4) Những công ty trách nhiệm hữu hạn; 5) Các hiệp hội, đoàn thể;
6) Những quỹ được cấp phép. [8].
Bộ luật dân sự của Philippin, tại Điều 44 xác định những tổ chức sau
đây là pháp nhân: 1) Nhà nước và các nhánh quyền lực của nhà nước; 2) Các
tập đoàn, các tổ chức từ thiện và các thực thể khác hoạt động vì mục đích và
lợi ích công cộng được thành lập theo quy định của pháp luật, có năng lực
pháp luật ngay khi được thành lập theo quy định của pháp luật; 3) Các tập
đoàn, các công ty và các hội hoạt động vì mục đích và lợi ích tư được pháp
luật công nhận có năng lực pháp luật, tồn tại độc lập và tách biệt đối với từng
cổ đông, hội viên hoặc thành viên. [4].

15
Bộ luật dân sự của Cộng hòa liên bang Nga, tại điều 48 mặc dù với tiêu

đề là khái niệm pháp nhân nhưng trong nội dung lại dường như là liệt kê các
điều kiện để 1 tổ chức được công nhận là pháp nhân: Pháp nhân là một tổ
chức, có quyền sở hữu, quyền sử dụng hay quyền định đoạt đối với tài sản
một cách độc lập và tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của tổ chức đó
và có quyền nhân danh mình chiếm hữu và định đoạt tài sản và các quyền
nhân thân phi tài sản, để thanh toán nghĩa vụ và tham gia với tư cách là
nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân sự trước Toà án. Các pháp nhân có địa vị
độc lập. [6]
Theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì “Một tổ
chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1) Được
thành lập hợp pháp; 2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3) Có tài sản độc lập với
cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4) Nhân danh
mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. [1]
Quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 cũng
giống như quy định tại Điều 94 của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 là đã
liệt kê các dấu hiệu để 1 tổ chức có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, so với quy
định tại Điều 94 của Bộ luật dân sự năm 1995 ở điều kiện thứ nhất là “Được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc
công nhận” [2] thì Điều 84 của Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định ngắn
gọn chứ không còn diễn giải, giải thích bằng các hành vi cụ thể vì tất cả các từ
diễn đạt trên đều thể hiện tổ chức đó “Được thành lập hợp pháp”.
Như vậy, pháp nhân là một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự;
song, không phải bất kỳ một tổ chức nào cũng đương nhiên là pháp nhân. Mà
“Pháp nhân là một tổ chức có đủ các điều kiện được pháp luật thừa nhận là có
tư cách pháp lý. Khi tham gia các giao dịch dân sự, pháp nhân cũng bình đẳng
như các chủ thể khác của luật dân sự. Tổ chức là pháp nhân khi có đủ các yếu

16
tố sau: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập,
đăng ký hoặc công nhận; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với

cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân danh mình
tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.” [13, tr. 242]
Vấn đề ở đây là, có nhiều cơ quan, tổ chức được công nhận là pháp
nhân khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định, hoạt động trong nhiều
lĩnh vực khác nhau. Vậy có những loại pháp nhân nào để từ đó có quy chế tổ
chức và hoạt động phù hợp với mục đích hoạt động của từng loại pháp nhân.
Theo pháp luật Việt Nam, ngoài việc quy định các điều kiện để một tổ chức
được công nhận là pháp nhân giống như pháp luật của Cộng hòa liên bang
Nga, bên cạnh đó, pháp luật vẫn xác định những đối tượng nào là pháp nhân
giống như pháp luật của Thái Lan và Philippin nêu trên, với tên gọi là các loại
pháp nhân. Tại Điều 100 của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, pháp nhân
được phân ra làm nhiều loại, đó là:
“1. Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân.
2. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
3. Tổ chức kinh tế.
4. Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp.
5. Quỹ xã hội, quỹ từ thiện.
6. Tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 của Bộ luật
này.” [1]
Pháp nhân được thành lập do nhu cầu của quản lý nhà nước hoặc do
nhu cầu của sản xuất, kinh doanh nên có nhiều loại hình thức pháp nhân trên
thực tế. Được thành lập do nhu cầu khách quan, vì vậy pháp nhân có những
nhiệm vụ, mục đích hoạt động khác nhau và tồn tại bằng nhiều hình thức khác

17
nhau. Tính khác biệt của các loại pháp nhân khác nhau có thể do mục đích,
nhiệm vụ, tính chất sở hữu. [15, tập II, tr.194]
Với nhiều loại pháp nhân như vậy thì năng lực trách nhiệm dân sự của
pháp nhân được quy định như thế nào? Theo quy định tại Điều 86 của Bộ luật

dân sự năm 2005, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp
nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp
nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.
Để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, pháp nhân phải tự mình
thông qua hoạt động của mình. Nhưng pháp nhân là một tập thể, tổ chức nên
không thể cùng một lúc tất cả các thành viên của pháp nhân đều tham gia nên
các hoạt động của pháp nhân đều được tiến hành thông qua hành vi của những
người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Khi tham gia các quan hệ pháp luật
dân sự, người đại diện hợp pháp của pháp nhân không tạo ra quyền và nghĩa
vụ cho người đại diện mà là hành vi của pháp nhân, vì pháp nhân, nhân danh
pháp nhân. Người đại diện của pháp nhân gồm, người đại diện theo pháp luật
hoặc người đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong
quan hệ dân sự. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định tại Điều 91:
“1. Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại
diện theo uỷ quyền. Người đại diện của pháp nhân phải tuân theo quy định về
đại diện tại Chương VII, Phần thứ nhất của Bộ luật này. Theo đó, 1) đại diện
là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của
người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch
dân sự trong phạm vi đại diện; 2) Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được
để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác
lập, thực hiện giao dịch đó; 3) Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật

18
hoặc theo uỷ quyền; 4) Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ
giao dịch dân sự do người đại diện xác lập; Người đại diện phải có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ
luật này. (Điều 139)
2. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định trong điều lệ

của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.”
Tại Điều 93 của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định “Trách
nhiệm dân sự của pháp nhân
1. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.
2. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không
chịu trách nhiệm thay cho thành viên của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự
do thành viên xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân.
3. Thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho
pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện.” [1].
Pháp nhân là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, là một tổ chức
có cơ cấu chặt chẽ, được thành lập hợp pháp, có tài sản riêng, nhân danh mình
tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập và phải chịu trách nhiệm
dân sự bằng tài sản của mình.
1.1.4. Khái niệm người của pháp nhân
Pháp nhân không phải là một khái niệm đơn lẻ mà là một chủ thể đặc
biệt, là tập thể người. Nói đến người của pháp nhân là nói đến những cá nhân
liên kết lại để cùng nhau thực hiện những mục đích nhất định. Việc liên kết
này được thực hiện thông qua hợp đồng lao động hoặc là quyết định tuyển
dụng, bổ nhiệm.
Ta sẽ xem xét khái niệm người của pháp nhân trong tổng thể các quy
định của pháp luật. Trước hết, theo quy định của pháp luật lao động, trong

19
quan hệ lao động, người của pháp nhân bao gồm cả người sử dụng lao động
và người lao động. Người sử dụng lao động tuyển dụng người lao động làm
việc cho mình đáp ứng yêu cầu công việc và đúng quy định của pháp luật lao
động. Theo đó, quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động gắn
kết với nhau thông qua hợp đồng lao động.
Bộ luật lao động quy ®Þnh “Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa

người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện
lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.” [Điều 26]
“1- Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn (Hợp đồng lao động
không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời
hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng); b) Hợp đồng lao động xác
định thời hạn (Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó
hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong
khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng); c) Hợp đồng lao động theo
mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
2- Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều
này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao
động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trở
thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trường hợp hai bên ký kết
hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký
thêm một thời hạn, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải
ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
3- Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một
công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có
tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay

20
thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặc
nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.” (Điều 27), và,
“Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: công
việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm
việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và
bảo hiểm xã hội đối với người lao động.” (khoản 1 Điều 29) [11]
Quan hệ lao động đáp ứng được đúng các quy định của pháp luật lao

động thì việc xác định người của pháp nhân sẽ không bị nhầm lẫn.
Do có tính chất đặc thù nên có những loại pháp nhân được điều chỉnh
bởi những quy định riêng; và vì vậy, người của những pháp nhân này cũng
được điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật riêng. Bộ luật dân sự 2005 tại
hai điều luật 619 và 620 quy định về trách nhiệm bồi thường cho những thiệt
hại gây ra bởi hoạt động công quyền, cụ thể, Điều 619 quy định: “Cơ quan, tổ
chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công
chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ.”; Điều 620 quy định: “Cơ
quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của
mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng”. [1]
Theo quy định của hai Điều luật này, các pháp nhân là các cơ quan
công quyền gồm: cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức, cơ quan có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự; thì người của những pháp
nhân này có đặc điểm riêng, đặc điểm chuyên biệt khác hẳn so với người của
pháp nhân theo quy định tại Điều 618.
Vậy, cán bộ, công chức là những ai?
Theo quy định tại điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01-5-1998 thì cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: 1) Những người
do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước,

21
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; 2) Những người được tuyển dụng,
bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; 3) Những người được tuyển dụng, bổ
nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ
đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp
trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn
nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; 4) Thẩm phán Toà án nhân dân,
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; vµ, 5) Những người được tuyển dụng,

bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.[28]
Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan nào? Người có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng là ai?
Theo quy định của Nghị quyết số 388 thì cơ quan tiến hành tố tụng là
cơ quan thực hiện chức năng điều tra, truy tố, xét xử vµ thi hành án. Ng-êi cã
thÈm quyÒn cña c¬ quan tiÕn hµnh tè tông lµ ng-êi cã thÈm quyÒn tiÕn hµnh
c¸c ho¹t ®éng điều tra, truy tố, xét xử vµ thi hành án. [24]
Trường hợp đặc biệt, ở Việt Nam tồn tại các Tổng công ty là các pháp
nhân có vốn Nhà nước là chủ yếu, các chức danh chủ chốt của các pháp nhân
này thường là cán bộ, công chức được bổ nhiệm, tuy nhiên, nếu gây thiệt hại
trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao thì vẫn là người của pháp
nhân đó gây thiệt hại nên pháp nhân phải bồi thường theo quy định tại Điều 618.
Từ việc phân loại pháp nhân, kết hợp với việc xem xét quy định đặc thù
của pháp luật về cán bộ, công chức và người có thẩm quyền của cơ quan tiến
hành tố tụng, dùng phương pháp loại suy, ta có thể xem xét khái niệm người
của pháp nhân ở góc độ hẹp hơn. Từ đó, công tác thực tiễn và công việc

×