Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

Những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu trường Đại học Dân lập Hải Phòng đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 130 trang )



4
MỞ ĐẦU 7
NỘI DUNG 13
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 13
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 13
1.1.1. QUẢN LÝ, QUẢN LÝ GIÁO DỤC, QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
13
1.1.2. XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN; PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 18
1.1.3. TRƢỜNG ĐẠI HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP 20
1.2. NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG
BỐI CẢNH HIỆN NAY 24

1.2.1. BỐI CẢNH HIỆN NAY 24
1.2.2. NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 27
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 30
1.3.1. KHÁI NIỆM GIẢNG VIÊN, GIẢNG VIÊN CƠ HỮU; ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN 30
1.3.2. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 31
1.3.3. VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC 34
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU TRƢỜNG
ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG 43
2.1. ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG, NHU CẦU VỀ NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC 43
2.2. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI
PHÒNG 47
2.2.1. QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
DÂN LẬP HẢI PHÒNG 47


2.2.2. PHƢƠNG HƢỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
DÂN LẬP HẢI PHÒNG 50


5
2.2.3. PHƢƠNG HƢỚNG, MỤC TIÊU XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI
NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG
53
2.3. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU TRƢỜNG ĐẠI HỌC
DÂN LẬP HẢI PHÒNG 55
2.3.1. CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU 55
2.3.2. QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU CỦA TRƢỜNG 64
2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG 68
2.4.1. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, THĂM DÒ VỀ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN CƠ HỮU 68
2.4.2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU 69
CHƢƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI
NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG . 76
3.1. CĂN CỨ XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG 76
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN CƠ HỮU TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG 78
3.2.1. NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU
VÀ CÁN BỘ QUẢN LÝ VỀ SỨ MẠNG, NHIỆM VỤ CHIẾN LƢỢC, MỤC
TIÊU ĐÀO TẠO CỦA NHÀ TRƢỜNG; VỀ VAI TRÒ VÀ NHIỆM VỤ
GIẢNG VIÊN 78
3.2.2. QUY HOẠCH ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU 81
3.2.3. ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC ĐÀO TẠO - BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN CƠ HỮU 91

3.2.4. DUY TRÌ MÔI TRƢỜNG THUẬN LỢI CHO SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU 107

3.2.5. ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN CƠ HỮU 116


6
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 124
1. KẾT LUẬN 124
2. KHUYẾN NGHỊ 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHỤ LỤC 130



7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đất nƣớc ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm thực hiện
mục tiêu: “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “để tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo,
phát huy nguồn nhân lực con ngƣời, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và
bền vững”.
1.2. Giáo dục đại học đóng vai trò to lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực
trình độ cao cho sự phát triển của đất nƣớc. “Giáo dục đại học là khâu trực
tiếp tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nƣớc nhà, là
đòn bẩy để đảm bảo thực hiện đầy đủ và chất lƣợng chiến lƣợc phát triển giáo
dục 2001 - 2010”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ƣơng Khoá VIII
về định hƣớng chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra cho giáo dục đại học một nhiệm vụ quan trọng
là tạo dựng một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật “làm chủ tri thức khoa học
hiện đại, có tƣ duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công
nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ, là những ngƣời thừa kế xây
dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” nhƣ lời dặn của Bác Hồ”.
Trong thời đại hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát
triển vƣợt bậc với sự ứng dụng các công nghệ cao trong đó công nghệ thông
tin và thông lƣu đóng vai trò công cụ phổ biến để xử lý thông tin, nâng cao
năng lực nghiên cứu sáng tạo; sự toàn cầu hoá đƣợc mở rộng ngày càng mạnh
mẽ trên nhiều mặt; nền kinh tế đang quá độ chuyển sang nền “kinh tế tri thức”
lấy chất lƣợng của nguồn nhân lực làm yếu tố quyết định hàng đầu; xã hội
thông tin, xã hội học tập đang hình thành; nhiều yếu tố của nền văn minh trí
tuệ bắt đầu xuất hiện. Trong bối cảnh thời đại nhƣ thế, mục tiêu đào tạo đại


8
học nƣớc ta phải nhấn mạnh vào việc hình thành ở ngƣời tốt nghiệp một số
năng lực cần thiết để đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế hiện đại và phù
hợp với sự phát triển của nƣớc ta nhƣ sau:
- Khả năng tự học suốt đời, thƣờng xuyên cập nhật đƣợc kiến thức của
mình.
- Khả năng thích ứng đƣợc với sự thay đổi, chiếm lĩnh những trình độ
thành thạo chuyên môn mới, không những có thể tự tìm đƣợc việc làm mà
còn có thể tự tạo ra đƣợc việc làm trong một thị trƣờng lao động đầy biến
động.
- Khả năng tƣ duy sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề.
1.3. Trƣớc những yêu cầu trên, giáo dục đại học phải đổi mới để có thể nâng
cao đƣợc chất lƣợng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Trong một cơ sở giáo dục đào tạo, một nhà trƣờng ở bất kỳ cấp học,
bậc học nào thì mối quan hệ trung tâm, có tính đặc trƣng nhất, là quan hệ thầy
- trò, giáo viên - học sinh. Mối quan hệ này rất chặt chẽ, tƣơng tác lẫn nhau.
Muốn có trò giỏi thì phải có thầy giỏi. Do vậy, các cơ sở giáo dục, nhà trƣờng
nói chung, nhà trƣờng đại học nói riêng phải xây dựng một đội ngũ giáo viên,
giảng viên vững mạnh: đủ về số lƣợng, mạnh về chất lƣợng, đồng bộ về cơ
cấu, loại hình. Bởi đây là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo chất
lƣợng đào tạo: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lƣợng của giáo dục và
đƣợc xã hội tôn vinh”.
Mặt khác, với xu thế phát triển của thế giới nói chung, của Việt Nam
nói riêng - đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hoá, đã coi “phát triển
giáo dục, phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu”, quan điểm
dạy học đã thay đổi: ngƣời học trở thành “trung tâm” của quá trình dạy học,
“trung tâm” của hoạt động của nhà trƣờng; là lý do tồn tại của nhà trƣờng. Và
nhiệm vụ, chức năng của giảng viên đại học cũng thay đổi: trở thành ngƣời hỗ


9
trợ, hƣớng dẫn, “cố vấn”, “trọng tài” đối với sinh viên; phải thực hiện tốt hơn
2 chức năng cơ bản: giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Ngƣời giảng viên đại
học không những có nhiệm vụ truyền đạt tri thức, mà còn phải hình thành ở
sinh viên những năng lực, phẩm chất cần thiết có thể đáp ứng yêu cầu của sự
phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó, đối với mỗi một trƣờng đại học thì xây dựng và phát triển đội
ngũ giảng viên luôn phải là một vấn đề quan tâm hàng đầu: số lƣợng, cơ cấu,
chất lƣợng, hiệu quả đội ngũ giảng viên. Đây chính là những bài toán mà các
nhà quản lý của các trƣờng đại học cần phải giải quyết ƣu tiên và cơ bản
nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả đào tạo.
1.4. Trƣờng đại học Dân lập Hải Phòng là một trong những trƣờng thuộc khối
đại học, cao đẳng của thành phố Hải Phòng, đƣợc thành lập ngày 24/09/1997

theo Quyết định số 792/TTg của Thủ tƣớng Chính phủ. Tính đến nay, sau 8
năm đi vào hoạt động, nhà trƣờng đã có rất nhiều đổi thay và dần dần khẳng
định vị trí của mình trong việc đào tạo nguồn nhân lực, đội ngũ lao động tri
thức cho sự nghiệp phát triển của thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, với cơ chế
kinh tế thị trƣờng hiện nay, đòi hỏi các nhà trƣờng nói chung, nhà trƣờng đại
học nói riêng phải có chất lƣợng đáp ứng sự phát triển vững mạnh và ổn định,
đồng thời có thể cạnh tranh với các trƣờng khác; đặc biệt đối với những
trƣờng ngoài công lập nhƣ Đại học Dân lập Hải Phòng, sự cạnh tranh càng
gay gắt hơn, đòi hỏi luôn phải đặt chất lƣợng giáo dục - đào tạo lên vị trí hàng
đầu. Một trong những giải pháp để nâng cao chất lƣợng đó là: việc xây dựng
và phát triển đội ngũ giảng viên, đặc biệt là đội ngũ giảng viên cơ hữu của
nhà trƣờng là nhân tố có vai trò quyết định chất lƣợng giáo dục - đào tạo của
nhà trƣờng, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đòi hỏi của đất nƣớc ta trong giai đoạn
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Hiện nay, số lƣợng đội ngũ giảng viên của trƣờng tƣơng đối nhiều, bao
gồm giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng. Một thực trạng cũng giống


10
nhƣ các trƣờng ngoài công lập khác là nhà trƣờng vẫn chủ yếu mời các giảng
viên thỉnh giảng từ các trƣờng công lập nên rất khó khăn trong việc quản lý
chất lƣợng đội ngũ giảng viên cũng nhƣ giảng dạy.
Mặt khác, sau 8 năm đi vào hoạt động, nhà trƣờng đã tuyển dụng đƣợc
một đội ngũ giảng viên cơ hữu khá đông, đã đóng góp không ít vào quá trình
phát triển của nhà trƣờng. Tuy nhiên, đội ngũ giảng viên cơ hữu của trƣờng
vẫn còn nhiều bất cập và chƣa phát huy đƣợc hết khả năng vốn có của mình
với tƣ cách là lực lƣợng nòng cốt của nhà trƣờng.
Từ những lý do trên đây, với tƣ cách là giảng viên trực tiếp giảng dạy,
tôi xin chọn đề tài: “Những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng
viên cơ hữu trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng đáp ứng yêu cầu trong giai

đoạn hiện nay”, với hy vọng nghiên cứu để tìm ra các giải pháp thích hợp
nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu của trƣờng Đại học
Dân lập Hải Phòng ngày càng vững mạnh, xứng đáng là lực lƣợng then chốt,
quyết định tới chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ
giảng viên nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ giảng viên cơ hữu trƣờng Đại
học Dân lập Hải Phòng, đáp ứng chức năng nhiệm vụ của nhà trƣờng trong
đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của nƣớc ta.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý đội ngũ giảng viên
trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu: Các giải pháp xây dựng và phát triển đội
ngũ giảng viên cơ hữu trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng.


11
4. Giả thuyết khoa học
Đội ngũ giảng viên cơ hữu của trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng sẽ
phát triển đáp ứng yêu cầu đào tạo trong giai đoạn hiện nay nếu thực hiện các
giải pháp quản lý khả thi, đồng bộ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề xây dựng và phát triển đội
ngũ giảng viên.
5.2. Khảo sát và phân tích thực trạng về hoạt động quản lý đội ngũ
giảng viên cơ hữu trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng.
5.3. Đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát triển nhằm nâng cao
chất lƣợng đội ngũ giảng viên cơ hữu trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng
trong giai đoạn hiện nay.

6. Ý nghĩa của đề tài
Về xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên đại học đã có nhiều tác
giả nghiên cứu, song chỉ ở mức độ lý luận chung hoặc trong những hoàn cảnh
điều kiện cụ thể riêng của từng trƣờng. Đối với đội ngũ giảng viên ở các
trƣờng đại học dân lập, chƣa có nhiều nghiên cứu về đề tài này; đặc biệt với
trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng, đây là lần đầu tiên có một công trình
chuyên biệt về vấn đề này. Do đó, ý nghĩa của đề tài chính là những giải pháp
quản lý xây dựng và phát triển đội ngũ mang tính khả thi có thể ứng dụng để
nâng cao chất lƣợng đội ngũ giảng viên cơ hữu của một trƣờng đại học dân
lập, dựa trên cơ sở quan điểm mới về nhiệm vụ, chức năng của ngƣời giảng
viên đại học trong giai đoạn hiện nay:
- Dạy học lấy ngƣời học làm trung tâm.
- Trong việc dạy học coi trọng dạy cách học.
7. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận:


12
Nghiên cứu các văn kiện chính trị của Đảng và Nhà nƣớc, các văn bản
và quy chế giáo dục, các tài liệu, công trình khoa học về giáo dục, quản lý
giáo dục liên quan đến chất lƣợng đội ngũ giảng viên phục vụ cho đề tài.
7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Tiến hành phân tích, tổng hợp, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về xây
dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng.
- Điều tra, khảo sát.
- Lấy ý kiến chuyên gia về vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giảng
viên cơ hữu trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng.
- Thống kê, xử lý số liệu.
- Thử nghiệm.
8. Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm 3 phần chính:
Phần I. Mở đầu
Phần II. Nội dung (gồm 3 chƣơng)
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên
Chƣơng 2. Thực trạng đội ngũ giảng viên cơ hữu trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng
Chƣơng 3. Những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu
trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng
Phần III. Kết luận và khuyến nghị
Ngoài ra còn có phần phụ lục và tài liệu tham khảo.









13










NỘI DUNG

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực
1.1.1.1. Quản lý:
Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu; nhà Sử học Daniel A.
Wren đã từng nhận xét: “Quản lý cũng xƣa cũ nhƣ chính con ngƣời vậy”.
Ngay từ khi con ngƣời bắt đầu hình thành nhóm, đã đòi hỏi phải có sự phối
hợp hoạt động của các cá nhân để duy trì sự sống và do đó cần có sự quản lý.
Trải qua hàng vạn năm và trải qua các thời kỳ phát triển lịch sử của xã
hội loài ngƣời, “quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi
lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi ngƣời. Đó là loại hoạt động xã
hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để làm
một công việc nhằm đạt mục tiêu chung”. [16, tr.8]
“Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn
nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng”. [13, tr.480]


14
Vậy quản lý là gì? Đã có rất nhiều cách giải thích về khái niệm này.
Theo một số quan niệm của nƣớc ngoài:
+ Phrêđric Uynslâu Taylo (1856 - 1915), đƣợc coi là cha đẻ của Thuyết
quản lý khoa học đã định nghĩa: “Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn
muốn ngƣời khác làm, và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc
một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
+ Trong từ điển Oxford, giải thích từ “management” nhƣ sau: “Quản lý
là hoạt động kiểm soát và ra quyết định trong các tổ chức kinh doanh hoặc các
loại tổ chức khác”.
Theo một số quan niệm của Việt Nam:

+ Trong từ điển Tiếng Việt thông dụng, quản lý là: “Tổ chức, điều
khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”. [25, tr.616]
+ Hoạt động quản lý là: tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ
thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) - trong
một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức.
Hiện nay, hoạt động quản lý thƣờng đƣợc định nghĩa rõ hơn: quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. [26, tr.1]
+ Theo Thuật ngữ hành chính, quản lý là: “hoạt động có ý thức của con
ngƣời nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hƣớng dẫn, kiểm tra… các
quá trình xã hội và hoạt động của con ngƣời để hƣớng chúng phát triển phù
hợp với quy luật của xã hội, đạt đƣợc mục tiêu xác định theo ý chí của nhà
quản lý với chi phí thấp nhất”. [17, tr.136]
Tóm lại, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song có thể nói rằng:
+ Quản lý là một loại hoạt động xã hội, luôn gắn liền với một nhóm hay
một tổ chức xã hội nào đó; trong đó chủ thể quản lý tác động tới đối tƣợng


15
quản lý thông qua các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra,
nhằm đạt mục tiêu đề ra.
+ Với vai trò, chức năng: tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức; định
hƣớng sự phát triển của tổ chức; tổ chức, điều hoà, phối hợp và hƣớng dẫn
hoạt động của cá nhân trong tổ chức; tạo động lực, tạo môi trƣờng và điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, quản lý đã thực sự trở
thành một hoạt động không thể thiếu đƣợc của bất kỳ một tổ chức xã hội nào
nhằm đạt đến sự phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả.
+ Quản lý vừa là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn
khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhau nhƣ: toán học, thống kê, kinh
tế, tâm lý học, xã hội học,… vừa là một “nghệ thuật”. Do vậy, đòi hỏi các nhà

quản lý trong quá trình quản lý, phải luôn chủ động, khéo léo, linh hoạt tổ
chức, điều khiển, hƣớng dẫn mọi thành viên trong tổ chức của mình cùng
hƣớng tới mục tiêu xác định, tránh đƣợc tình trạng rối ren và bất ổn định của
tổ chức; đồng thời có thể kích thích và phát huy đƣợc năng lực của mọi thành
viên trong tổ chức.
1.1.1.2. Quản lý giáo dục:
Giáo dục cũng vậy. Tƣơng tự nhƣ mọi hoạt động khác của xã hội loài
ngƣời, giáo dục cũng cần phải đƣợc quản lý để giáo dục có thể hoàn thành sứ
mạng và mục tiêu của mình đối với từng giai đoạn phát triển của xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của giáo dục nƣớc ta là: “đào tạo
con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [3, tr.8]
Vậy quản lý giáo dục, theo GS. Nguyễn Ngọc Quang, là: “hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý


16
(hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo
dục của Đảng, thực hiện đƣợc tính chất của nhà trƣờng XHCN Việt Nam, mà
tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục tới
mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. [24, tr.35]
Nhƣ vậy, quản lý giáo dục (quản lý trƣờng học nói riêng) thực chất là
quản lý quá trình giáo dục - đào tạo. Tham gia vào quá trình giáo dục - đào
tạo có rất nhiều nhân tố khác nhau: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo,
phƣơng pháp đào tạo, lực lƣợng đào tạo, đối tƣợng đào tạo, điều kiện đào tạo,
môi trƣờng đào tạo… Quản lý giáo dục - đào tạo/quản lý trƣờng học chính là
quản lý những nhân tố đó, trong đó quản lý lực lƣợng đào tạo (ngƣời dạy), đối
tƣợng đào tạo (ngƣời học) là trung tâm. Chủ thể quản lý (các nhà quản lý giáo

dục, hiệu trƣởng…), thông qua sự tác động (có mục đích, tự giác, có kế hoạch,
có hệ thống) mang tính tổ chức, sƣ phạm đến đối tƣợng quản lý (ngƣời dạy,
ngƣời học, lực lƣợng giáo dục trong và ngoài nhà trƣờng), huy động các đối
tƣợng quản lý đó cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào quá trình giáo dục -
đào tạo, nhằm đạt mục tiêu đề ra.
1.1.1.3. Quản lý nguồn nhân lực:
Đối với bất kỳ một tổ chức nào, hoạt động quản lý luôn diễn ra ở các
mặt sau đây:
(1) Nhân lực;
(2) Tài lực;
(3) Vật lực (nguyên liệu, máy móc thiết bị);
(4) Sản phẩm đƣợc tiếp thị lƣu thông. [10]
Trong các yếu tố đó, quản lý nguồn nhân lực là quan trọng và phức tạp
nhất, bởi nó liên quan đến con ngƣời.
Chúng ta có thể hiểu cụm từ nguồn nhân lực chính là nguồn lực con
ngƣời. Theo cách giải thích trong cuốn Phƣơng pháp và kỹ năng quản lý nhân
sự, thì: “nguồn nhân lực là một nguồn lực sống. Bƣớc vào thế kỷ mới, chúng


17
ta đang đứng trƣớc thách thức của thời đại kinh tế tri thức. Vì trong thời đại
kinh tế tri thức, vai trò của lao động trí óc càng trở nên quan trọng hơn nên nguồn
lực con ngƣời là quý nhất của xã hội ngày nay, là nguồn lực mang tính chiến lƣợc
và việc quản lý nguồn nhân lực phải đƣợc đặt trên tầm cao chiến lƣợc của nó”. [34,
tr.46]
Do đó, đòi hỏi tổ chức phải luôn quan tâm đến yếu tố này, phải quản lý
ra sao để có thể tận dụng và phát huy hết đƣợc những giá trị của nguồn nhân lực.
Vậy quản lý nguồn nhân lực là: “chức năng quản lý giúp cho ngƣời quản lý
tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các thành viên của tổ chức”. [27,
tr.1]

Trong giáo dục, cụ thể là trong nhà trƣờng, quản lý nguồn nhân lực
chính là quản lý đội ngũ giáo viên, công nhân viên chức và cán bộ quản lý
thuộc ngành giáo dục. Trong đó, quản lý đội ngũ giáo viên là quan trọng nhất,
bởi đây là lực lƣợng nòng cốt góp phần tạo ra chất lƣợng giáo dục - đào tạo.
Mặt khác, quá trình quản lý nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động sau đây:
+ Kế hoạch hoá nguồn nhân lực
+ Tuyển mộ
+ Chọn lựa
+ Xã hội hoá/ hayđịnh hƣớng
+ Huấn luyện và phát triển
+ Thẩm định kết quả hoạt động
+ Đề bạt, thuyên chuyển, giáng cấp và sa thải
Do vậy, quản lý đội ngũ giáo viên chính là việc thực hiện các hoạt động
trên của quá trình quản lý nguồn nhân lực; cụ thể là thông qua việc tuyển
chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dƣỡng và tạo điều kiện, môi trƣờng thuận lợi… sẽ
làm cho đội ngũ giáo viên vững mạnh và có chất lƣợng, từ đó có thể phát huy
đƣợc hết khả năng của đội ngũ giáo viên nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra.


18
1.1.2. Xây dựng, phát triển; phát triển nguồn nhân lực
1.1.2.1. Xây dựng, phát triển:
+ Trong Từ điển Tiếng Việt phổ thông, giải thích khái niệm “xây dựng”
nhƣ sau: “xây dựng là làm cho hình thành một tổ chức hay một chỉnh thể về
xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá theo một phƣơng hƣớng nhất định”. [33, tr.1055]
+ Khái niệm “phát triển”: Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, phát
triển là: “vận động, tiến triển theo chiều hƣớng tăng lên”. [25, tr.590]
Phát triển là: “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến
rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. [33, tr.701]
Vậy phát triển đó là sự biến đổi thành cái mới hơn, tốt hơn, nhiều hơn;

hay nói một cách tổng quát thì đó là sự gia tăng về số lƣợng, chất lƣợng; đồng
bộ về cơ cấu của mỗi một hoạt động thực tiễn, một lĩnh vực, ngành nghề
Hai khái niệm “xây dựng” và “phát triển” luôn có mối quan hệ chặt chẽ,
đồng hành với nhau. “Xây dựng” là làm cho hình thành một tổ chức hay một
chỉnh thể và “phát triển” sẽ làm cho tổ chức hay chỉnh thể đó biến đổi, vận
động, tiến triển theo mục tiêu đề ra.
Nhƣ vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên có nghĩa là làm
cho đội ngũ giáo viên có sự thay đổi cả về “lƣợng” và “chất”; thông qua các
hoạt động quản lý đội ngũ giáo viên nhƣ: tuyển chọn, sử dụng; đào tạo, bồi
dƣỡng; tạo điều kiện môi trƣờng… sẽ tạo ra đội ngũ giáo viên: đủ về số lƣợng,
mạnh về chất lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình.
1.1.2.2. Phát triển nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực nhƣ đã trình bày ở trên chính là nguồn lực sống, nguồn
lực con ngƣời; đây là nguồn lực tiềm năng và vô tận. Cùng với sự hình thành
và phát triển của nền kinh tế tri thức, bên cạnh các nguồn tài lực, vật lực, thì
nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có hiểu biết, có tri thức khoa học
kỹ thuật cao sẽ ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng nhất, có ý nghĩa
chiến lƣợc trong xã hội ngày nay, thậm chí trong thế kỷ sau.


19
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã chỉ rõ: “muốn
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo
dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con ngƣời, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững”. [2, tr.19]
Mặt khác, theo tƣ duy mới về phát triển hiện nay, cho rằng: “Phát triển
giờ đây đƣợc xem nhƣ một quá trình chuyển đổi xã hội, chuyển dịch từ tƣ duy
và hình thức tổ chức xã hội, kinh tế cũ sang tƣ duy và hình thức tổ chức xã
hội, kinh tế mới”. [30, tr.87]
Nói một cách cụ thể thì “phát triển” chính là những diễn biến, những

thay đổi cơ chế về các mặt: kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, trong đó lấy
tăng trƣởng kinh tế làm cơ sở, làm động lực dẫn đến sự thay đổi, tiến bộ của
các mặt còn lại. Phát triển không chỉ bao gồm tăng trƣởng kinh tế, mà còn
phải bao gồm thu hẹp sự bất bình đẳng, xoá bỏ đói nghèo, cải cách cơ cấu xã
hội và thể chế quốc gia, để đảm bảo quyền lợi của đa số dân cƣ tham gia hoạt
động chính trị, kinh tế, xã hội, nâng cao phúc lợi và trình độ văn hoá của đại
đa số nhân dân. Trung tâm của sự phát triển đó chính là sự phát triển con
ngƣời, hay nói cách khác đó chính là nguồn nhân lực cần thiết để phục vụ cho
xã hội, cho sự phát triển kinh tế. Và giáo dục đóng vai trò rất quan trọng đối
với phát triển con ngƣời “không chỉ vì nó làm tăng “vốn con ngƣời” mà còn
vì giáo dục làm thay đổi khả năng chấp nhận các thay đổi. Giáo dục tạo điều
kiện cho các cá nhân làm quen với các phƣơng pháp khoa học, với các hình
thức tƣ duy mới khác biệt sâu sắc với cách tƣ duy cũ”. [30, tr.87]
Do vậy, việc phát triển con ngƣời, hay phát triển nguồn nhân lực là rất
quan trọng; nó bao gồm không chỉ là vấn đề phát triển thể lực (theo quan
điểm về sức ngƣời), phát triển trí lực (theo quan điểm vốn ngƣời), mà còn là
vấn đề phát triển toàn diện con ngƣời: thể lực, trí lực, tâm lực, thái độ sống và
lao động, hiệu quả lao động.
Phát triển nguồn nhân lực đƣợc xem xét dƣới các góc độ khác nhau:


20
- Dƣới góc độ kinh tế, sẽ tập trung vào công tác quy hoạch, kế hoạch cơ
cấu lao động, cơ cấu nhân lực trong tƣơng quan với cơ cấu kinh tế.
- Dƣới góc độ giáo dục, sẽ tập trung vào công tác giáo dục, đào tạo, bồi
dƣỡng, gắn cơ cấu nhân lực với cơ cấu giáo dục.
- Dƣới góc độ chính trị - xã hội là các chính sách đảm bảo quyền tự do
dân chủ, sự an ninh đối với đời sống của con ngƣời, sức khoẻ của con ngƣời,
giữ môi trƣờng sống tự nhiên của con ngƣời đƣợc trong lành, đảm bảo sự
bình đẳng giới, bình đẳng dân tộc… [11]

Tóm lại, đối với một tổ chức, việc xây dựng và phát triển nguồn nhân
lực luôn là vấn đề quan trọng, đòi hỏi các nhà quản lý phải quan tâm hàng đầu,
bởi trong tất cả các nguồn lực, nguồn lực con ngƣời là quý giá và vô tận. Nếu
đƣợc tổ chức, chỉ đạo một cách kế hoạch và hợp lý, đƣợc đào tạo và bồi
dƣỡng, đƣợc tạo điều kiện môi trƣờng thuận lợi,… nguồn lực con ngƣời sẽ
phát huy đƣợc hết khả năng và đây chính là yếu tố cơ bản nhất giúp cho tổ
chức thực hiện đƣợc mục tiêu đề ra.
1.1.3. Trường đại học, trường đại học dân lập
1.1.3.1. Trường đại học:

Đại học là: “bậc học trên trung học trong hệ thống giáo dục”.
[33, tr.251]
Giáo dục đại học, theo Luật Giáo dục, sẽ đào tạo hai trình độ là trình độ
cao đẳng và trình độ đại học; các cơ sở giáo dục gồm: trƣờng cao đẳng,
trƣờng đại học.
Nhƣ vậy, trƣờng đại học là cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo
dục quốc dân.
Về nhiệm vụ của trƣờng đại học nhƣ đã ghi trong Điều 9, Điều lệ
trƣờng đại học; trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất của trƣờng đại học đó là:
“Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng
lực thực hành nghề nghiệp tƣơng xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, có


21
năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho
những ngƣời khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp
ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Đối với hoạt động quản lý, tƣơng tự nhƣ bất kỳ một tổ chức nào,
trƣờng đại học cũng quản lý các đối tƣợng sau: nhân lực, tài lực, vật lực, sản
phẩm đƣợc tiếp thị lƣu thông. Cụ thể là:

+ Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên
của trƣờng đủ về số lƣợng, đảm bảo chất lƣợng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ
cấu ngành nghề, cơ cấu tuổi và giới.
+ Tuyển sinh và quản lý ngƣời học; tham gia quản lý đầu ra: sản phẩm
đào tạo gắn kết chặt chẽ với cơ sở sử dụng lao động.
+ Quản lý, sử dụng đất đai, trƣờng sở, trang thiết bị và tài chính theo
quy định của pháp luật. [6, tr.91-92]
1.1.3.2. Trường đại học dân lập:
Khái niệm “dân lập” đƣợc giải thích trong Từ điển tiếng Việt nhƣ sau:
“là do dân ở địa phƣơng lập ra và đài thọ các khoản chi phí”. [33, tr.222]
Theo cách giải thích của Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày
19/08/1999 của Chính phủ về các hình thức ngoài công lập, thì dân lập là: “cơ
sở do tổ chức đứng ra thành lập, đƣợc đầu tƣ bằng vốn ngoài ngân sách nhà
nƣớc (vốn của tổ chức, tập thể, cá nhân) và quản lý điều hành mọi hoạt động
theo quy định của pháp luật. Không lấy vốn, tài sản, kinh phí của Nhà nƣớc
để đầu tƣ cho các cơ sở dân lập”. [4, tr.1040]
Theo Điều 1, Quy chế trƣờng đại học dân lập: “Trƣờng đại học dân lập
là cơ sở giáo dục đại học do tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức kinh tế (dƣới đây gọi chung là tổ chức) xin thành lập và huy
động các nhà giáo, nhà đầu tƣ cùng đóng góp công sức, kinh phí và cơ sở vật
chất ban đầu từ nguồn ngoài ngân sách nhà nƣớc. Trƣờng đại học dân lập là
pháp nhân đƣợc tự chủ về tổ chức bộ máy, tuyển dụng lao động và tài chính.


22
Tài sản của trƣờng thuộc quyền sở hữu của những ngƣời góp vốn đầu tƣ, các
giảng viên, cán bộ và nhân viên nhà trƣờng”. [5, tr.899]
Trƣờng đại học dân lập là cơ sở giáo dục đại học, nên nhiệm vụ của
trƣờng đại học dân lập cũng nhƣ các trƣờng đại học công lập và nhiệm vụ
quan trọng nhất là: đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, năng lực, phẩm chất

đáp ứng yêu cầu của thời đại.
Theo định nghĩa trên, trƣờng đại học dân lập là do dân lập ra, tự đóng
góp công sức, kinh phí và cơ sở vật chất, nên trƣờng đại học dân lập có một
số đặc điểm khác với trƣờng công lập, cụ thể nhƣ sau:
+ Về bộ máy quản lý: Bên cạnh hiệu trƣởng là ngƣời trực tiếp quản lý
và điều hành các hoạt động của nhà trƣờng, Hội đồng quản trị là “tổ chức đại
diện duy nhất quyền sở hữu tập thể nhà trƣờng, có trách nhiệm và quyền tự
chủ quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự và tài chính, tài
sản của trƣờng”.
+ Về hoạt động quản lý:
Do không bị ảnh hƣởng nhiều của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
nên hoạt động quản lý tại các trƣờng đại học dân lập đã tận dụng và phát huy
đƣợc những mặt tích cực của cơ chế quản lý mới, tạo ra đƣợc sắc thái riêng
khác với quản lý tại các trƣờng đại học công lập. Cụ thể là:
(1) Khái niệm biên chế suốt đời không tồn tại, các trƣờng đại học dân
lập tuyển chọn đƣợc những ngƣời thực sự có năng lực, hợp đồng và trả lƣơng
theo khối lƣợng công việc, hạn chế lao động dôi dƣ;
(2) Bộ máy tổ chức gọn nhẹ;
(3) Bệnh quan liêu trong tổ chức và điều hành nhà trƣờng hầu nhƣ đƣợc
loại bỏ, các quyết định đƣợc đề ra một cách kịp thời và trách nhiệm của mọi
ngƣời trong thực thi công việc, thực hiện chức trách đƣợc giao với chất lƣợng
cao.


23
+ Một điểm ƣu việt đối với các trƣờng đại học dân lập đó là có nhiều cơ
hội để phát huy đƣợc tính tự chủ và chịu trách nhiệm - một phƣơng thức quản
lý mới trong giáo dục đại học hiện nay, nhằm tạo ra hiệu quả và chất lƣợng
giáo dục - đào tạo. Cụ thể là: Trƣờng đại học dân lập đƣợc tự chủ về tài chính
theo nguyên tắc tự cân đối thu chi, duy trì các hoạt động và phát triển của nhà

trƣờng; tự chủ về mặt tổ chức và nhân sự; tự chủ về chƣơng trình đào tạo (bao
gồm cả mục tiêu, nội dung, chƣơng trình); kế hoạch phát triển nhà trƣờng…
+ Về tài sản của trƣờng đại học dân lập gồm tài sản thuộc vốn góp của
các nhà đầu tƣ và tài sản tăng thêm trong quá trình hoạt động. Tài sản của
trƣờng đại học dân lập sau khi trừ phần vốn góp của tập thể, cá nhân và phần
chi phí cho các hoạt động của trƣờng kể cả phần trả lãi vốn vay, vốn góp là tài
sản không chia thuộc sở hữu tập thể của nhà trƣờng, đƣợc Nhà nƣớc bảo vệ
theo quy định của pháp luật, không ai chiếm đoạt đƣợc. [5, tr.907]
+ Về đội ngũ giảng viên, bao gồm: giảng viên cơ hữu đƣợc tuyển dụng
bằng hình thức hợp đồng lao động và giảng viên thỉnh giảng đƣợc mời từ các
trƣờng đại học công lập hoặc các cơ quan Nhà nƣớc.
Tuy có một số lợi thế hơn so với các trƣờng đại học công lập, song
trong nền kinh tế thị trƣờng một mặt có nhiều cơ hội cho các trƣờng đại học
dân lập phát triển, nhƣng mặt khác lại tạo ra sức ép đối với các trƣờng đại học
dân lập, cụ thể là trong việc quản lý. Việc quản lý của các trƣờng đại học dân
lập luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về các vấn đề chất lƣợng đào
tạo và học phí, thể hiện cụ thể qua các nội dung sau: nhân lực (đội ngũ giảng
viên, cán bộ công nhân viên, cán bộ quản lý), tài lực, vật lực (trƣờng lớp,
phòng thực hành thí nghiệm, các trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học
tập…), sản phẩm đƣợc tiếp thị lƣu thông (sinh viên); chỉ có chất lƣợng mới
làm cho các trƣờng có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tề thị trƣờng.


24
Do vậy, đòi hỏi các trƣờng dân lập cần phải có những giải pháp quản lý
phù hợp để có thể tồn tại và phát triển.
Một trong những vấn đề quan trọng và mang tính quyết định đó chính
là đội ngũ giảng viên của các trƣờng đại học dân lập. Tuy ƣu thế của các
trƣờng đại học dân lập là có thể mời đƣợc các giảng viên, chuyên gia đầu
ngành, có học hàm, học vị cao từ các trƣờng đại học công lập, hoặc cơ quan

Nhà nƣớc; nhƣng việc mời các giảng viên thỉnh giảng luôn bị động, mang
tính chất thời vụ, không lâu dài. Các giảng viên thỉnh giảng lại thƣờng giảng
dạy nhiều giờ và ở nhiều trƣờng khác nhau, gây khó khăn cho các trƣờng
trong việc quản lý chất lƣợng đào tạo. Mặt khác, sự gắn bó cam kết lâu dài
giữa đội ngũ giảng viên cơ hữu - đội ngũ đƣợc tuyển dụng chính thức - với
nhà trƣờng khá lỏng lẻo; trong số đó số lƣợng đội ngũ giảng viên có trình độ
và uy tín khoa học còn thiếu…. Chính vì vậy, đòi hỏi các trƣờng đại học dân
lập phải có những giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên; đặc biệt là đối với đội
ngũ giảng viên cơ hữu, phải có sự quan tâm và đầu tƣ nhiều hơn, để xây dựng
và phát triển đội ngũ giảng viên này vững mạnh, trở thành lực lƣợng nòng cốt
của các trƣờng đại học dân lập, góp phần đảm bảo chất lƣợng đào tạo của các
trƣờng đại học dân lập, đồng thời giúp cho các trƣờng đại học dân lập thực
hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục đại học về đào tạo nguồn nhân lực
trong giai đoạn “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đất nƣớc.
1.2. Những yêu cầu đặt ra đối với giáo dục đại học trong bối cảnh hiện nay
1.2.1. Bối cảnh hiện nay
1.2.1.1. Bối cảnh quốc tế:
+ Bƣớc sang thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục
phát triển với những bƣớc tiến nhảy vọt, đƣa thế giới chuyển từ kỷ nguyên
công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, đồng thời
tác động tới tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, làm biến đổi


25
nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, cụ thể: tăng
nhanh lực lƣợng sản xuất, thay đổi cơ cấu kinh tế, quốc tế hoá nhiều lĩnh vực
kinh tế, văn hoá, giáo dục. Mọi hoạt động của từng ngƣời và từng tổ chức xã
hội đều gồm ba bƣớc theo thứ tự:
- Thu thập thông tin,
- Xử lý thông tin,

- Ra quyết sách đúng đắn và có nhân bản.
Sự bùng nổ khoa học - kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin đã làm:
- Tăng lƣợng thông tin theo cấp số nhân,
- Nhu cầu thông tin của mỗi ngƣời, mỗi tổ chức tăng theo cấp số mũ,
- Tốc độ truyền tin tăng lên theo luỹ thừa của luỹ thừa.
Đối với giáo dục, sự bùng nổ khoa học - kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin
đã làm cho mục tiêu truyền thống của giáo dục thay đổi từ mục tiêu chủ yếu
đào tạo kiến thức và kỹ năng sang chủ yếu đào tạo năng lực. Điểm này cũng
đã dẫn đến làm cho từng ngƣời trong chúng ta không chỉ học khi còn ở tuổi đi
học mà còn học cả khi đã đi làm và lúc đã nghỉ hƣu - học suốt đời, tạo dựng
nên một xã hội học tập.
+ Sự toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là một xu thế khách quan, vừa là
quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nƣớc đang
phát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia. Sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia
ngày càng quyết liệt hơn đòi hỏi phải tăng năng suất lao động, nâng cao chất
lƣợng hàng hoá và đổi mới công nghệ nhanh chóng.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng
động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang làm cho
việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nƣớc trở nên hiện
thực hơn và nhanh hơn. Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của
sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học
- công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và


26
đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm
và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau.
+ Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Bối cảnh trên đã
tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lƣợng
giáo dục, xây dựng nhân cách ngƣời học đến cách tổ chức quá trình và hệ

thống giáo dục. Nhà trƣờng từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối
thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và
ứng dụng; nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho
ngƣời học phƣơng pháp thu nhập thông tin một cách có hệ thống, có tƣ duy
phân tích và tổng hợp. Đầu tƣ cho giáo dục từ chỗ đƣợc xem là phúc lợi xã
hội chuyển sang đầu tƣ cho phát triển. [14]
Đồng thời quan điểm về giáo dục cũng thay đổi. “Khoa học giáo dục đã
chuyển từ quan điểm dạy học “lấy người dạy làm trung tâm”, chuyển sang
quan điểm “lấy người học làm trung tâm” trong nhà trƣờng từ tiểu học đến
đại học… và thực chất là chuyển từ chỗ lấy “việc dạy làm trung tâm” sang
“lấy việc học làm trung tâm”. [18, tr.152]
1.2.1.2. Bối cảnh Việt Nam:
+ Sự đổi mới của nền kinh tế: Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, nền
kinh tế của nƣớc ta đã bắt đầu đƣợc tự do hoá, đó là nhờ sự chuyển đổi từ kế
hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trƣờng. Cơ chế quản lý kinh tế của nƣớc
ta cũng có sự thay đổi cơ bản. Nền kinh tế dựa trên cơ chế quản lý kế hoạch
hoá tập trung với hai thành phần kinh tế: quốc doanh và tập thể đã chuyển
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, dựa trên cơ chế thị trƣờng có sự
điều tiết của Nhà nƣớc. Chính sách kinh tế mở đã tạo điều kiện cho sự đầu tƣ
của các nhà kinh doanh nƣớc ngoài, theo đó là sự nhập khẩu công nghệ và kỹ
thuật mới với những đòi hỏi mới đối với ngƣời lao động.
+ Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc:


27
Đảng ta đã quyết định: phấn đấu đến năm 2020 đƣa nƣớc ta cơ bản trở
thành một nƣớc công nghiệp. Để thực hiện thành công mục tiêu này, Đảng ta
đã thực sự coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu” và đã xác định: “phải phát
triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con ngƣời, yếu tố cơ
bản của sự phát triển nhanh và bền vững”; “phát triển giáo dục - đào tạo gắn

với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ”.
Mục tiêu cơ bản của giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là: “Xây dựng những con ngƣời và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tƣởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên
cƣờng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc;
giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh
hoa văn hoá nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con ngƣời Việt
Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri
thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tƣ duy sáng tạo, có kỹ năng thực
hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ,
là những ngƣời thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”
nhƣ lời căn dặn của Bác Hồ”. [2, tr.28]
1.2.2. Những yêu cầu đặt ra đối với giáo dục đại học
1.2.2.1.Trong bối cảnh quốc tế và bối cảnh nƣớc ta nhƣ vậy, đã đặt ra cho
giáo dục đại học một vai trò và nhiệm vụ hết sức quan trọng. Chính bởi giáo
dục đại học là một loại hình sản xuất đặc biệt, sản xuất ra tri thức mới và
nguồn nhân lực hàm chứa tri thức cao và phi lợi nhuận - một nguồn lực rất
cần thiết cho việc thực hiện thành công sự nghiệp “công nghiệp hoá, hiện đại
hoá” và đƣa đất nƣớc ta hội nhập cùng với thế giới.
Giáo dục đại học sẽ là: “đòn bẩy nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt
hậu, tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nền
kinh tế tri thức nƣớc ta phát triển ngang tầm các nƣớc phát triển, đáp ứng xu
thế toàn cầu hoá”.


28
Do đó, phải phát triển giáo dục đại học để:
+ Đào tạo nhân lực trình độ đại học và trên đại học đáp ứng nhu cầu
nhân lực cho mọi thành phần kinh tế;
+ Cập nhật, đổi mới kiến thức, kỹ năng nhằm đáp ứng nhu cầu nâng

cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, ngƣời lao động do yêu cầu của cơ chế mới,
của công nghệ mới đặt ra;
+ Đào tạo ngƣời giỏi, bồi dƣỡng tài năng cho sự nghiệp phát triển đất
nƣớc lâu dài;
+ Đáp ứng nhu cầu học tập của ngƣời lao động và nhân dân.
Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục đại học nƣớc ta đến 2010 nhƣ sau:
“Đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu
kinh tế - xã hội của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao năng lực
cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo
điều kiện thuận lợi để mở rộng giáo dục sau trung học phổ thông qua việc đa
dạng hoá chƣơng trình đào tạo trên cơ sở xây dựng một hệ thống liên thông
phù hợp với cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền của nhân
lực và năng lực của các cơ sở đào tạo. Tăng cƣờng năng lực thích ứng với
việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việc làm cho mình và cho những ngƣời
khác.
Nâng cao tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ 118 năm họ 2000 - 2001
lên 200 vào năm 2010. Tăng quy mô đào tạo thạc sĩ từ 11.727 học viên năm
2000 lên 38.000, nghiên cứu sinh từ 3780 năm 2000 lên 15.000 vào
năm 2010”. [14]
1.2.2.2. Là trung tâm trí tuệ của xã hội, nhà trƣờng đại học sẽ có mục đích chủ
yếu là đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật và quản lý có trình độ đại học và trên
đại học, năng động, sáng tạo, có đầu óc phê phán, có tinh thần tự chủ, có năng

×