Tải bản đầy đủ (.pdf) (51 trang)

Một số biện pháp phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập phần “từ trường” và “cảm ứng điện từ”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (317.31 KB, 51 trang )
















Một số biện pháp phát triển t duy và năng lực sáng
tạo của học sinh trong quá trình hớng dẫn học sinh
giải bài tập phần từ trờng và cảm ứng điện từ






Mục lục
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tợng nghiên cứu
5. Phơng pháp nghiên cứu


nội dung
Chơng 1: Cơ sở lý luận.
1. Phát triển t duy học sinh
1.1 Khái niệm t duy
1.2 Các loại t duy
1.3 Các biện pháp phát triển t duy của học sinh
2. Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
2.1 Khái niệm năng lực
2.2 Sự hình thành và phát triển năng lực
2.3 Khái niệm năng lực sáng tạo
2.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng
lực sáng tạo của học sinh
3. Lý luận về bài tập vật lý
3.1 Quan niệm về bài tập vật lý
3.2 Tác dụng của bài tập vật lý trong dạy học
3.3 Phân loại bài tập vật lý
3.4 Phơng pháp giải bài tập vật lý
3.5 Các kiểu hớng dẫn học sinh giải bài tập vật lý








Chơng 2: Một số biện pháp phát triển t duy và năng lực sáng tạo của
học sinh trong quá trình hớng dẫn học sinh giải bài tập phần từ
trờng và cảm ứng điện từ.
1. Tình hình giải bài tập ở trờng phổ thông 19

2. Đề xuất một số biện pháp phát triển t duy
và năng lực sáng tạo của học sinh 20
3. Mức độ yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản của
phần từ trờng và cảm ứng điện từ 22
4. Minh hoạ bằng một số bài tập
phần từ trờng và cảm ứng điện từ 26
5. Một số bài tập tham khảo 46
kết luận
Tài liệu tham khảo




















Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài.
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội trên thế giới đã kéo theo sự
phát triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật. Cùng với đó thì xã hội lại đặt ra
những yêu cầu mới về con ngời trong thời đại mới, những con ngời đó phải
đáp ứng đợc sự đòi hỏi của sự phát triển. Chúng ta biết rằng khối lợng tri
thức của loài ngời tăng lên rất nhanh chỉ trong một thời gian rất ngắn. Vì vậy
nếu đơn giản chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, thì chúng ta chỉ là
những bộ sách, kho sách di động mà thôi. Con ngời trong thời đại mới phải
biết t duy, phải năng động và sáng tạo, phải biết vận dụng những kiến thức
của nhân loại mà mình đã đợc học trong nhà trờng, trong chính cuộc sống
để vận dụng vào khoa học, kĩ thuật và sản xuất. Chính vì vậy mà trong những
năm gần đây, việc đổi mới công tác giáo dục diễn ra rất sôi động trên thế giới
và ngay cả ở nớc ta. Sự nghiệp CNH - HĐH đất nớc đòi hỏi nghành giáo
dục phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung, phơng pháp và phơng tiện
dạy học. Trong nghị quyết TW lần 2 khoá VIII đã chỉ rõ mục tiêu giáo dục
trong giai đoạn mới: Một mặt phải đảm bảo cho thế hệ trẻ tiếp thu đợc
những tinh hoa của nền văn hoá nhân loại, mặt khác phải phát huy tính năng
động cá nhân, bồi dỡng năng lực sáng tạo. Quan điểm này xuyên suốt các
phơng pháp dạy học.
Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm và những thành tựu vật lý đóng
vai trò ngày càng quan trọng đối với công nghệ và sản xuất. Đồng thời cũng
giúp hiểu nhiều hiện tợng thờng gặp trong thiên nhiên và đời sống. Đây
cũng là một môn trong nhà trờng phổ thông, chính vì thế mà ngời giáo viên
vật lý cũng phải biết đa ra phơng pháp dạy học mới. Vai trò của ngời giáo
viên trong day học là tổ chức và hớng dẫn học sinh thực hiện tốt các hoạt
động dạy học.







Nhận thức đợc vấn đề trên, tôi đã quyết định chọn đề tài này. Vì một
phần quan trọng trong quá trình dạy học bộ môn là việc hớng dẫn học sinh
giải bài tập. Một trong những tác dụng của bài tập vật lý đó là phát triển t
duy, năng lực sáng tạo của học sinh. Để việc giải bài tập vật lý không chỉ dừng
lại ở sự tìm cách vận dụng các công thức vật lý để giải cho xong và đi đến đáp
số mà việc giải bài tập vật lý phải giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các hiện
tợng vật lý đợc đề cập đến và từ sự hiểu biểu sâu sắc đó mà giúp học sinh
không bị bỡ ngỡ khi gặp những dạng bài phức tạp hơn, nó giúp học sinh giải
quyết những vấn đề khác nhau của đời sống và công nghệ sau này.
Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích lựa chọn ra một số biện pháp để
phát triển t duy và năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trình
hớng dẫn học sinh giải bài tập.
Nằm trong chơng trình vật lý phổ thông thì phần từ trờng - cảm ứng
điện từ là sự triển khai quan điểm về trờng sang lĩnh vực từ học và đặt nền
tảng cho việc thống nhất hai lĩnh vực tởng chừng nh độc lập là điện học và
từ học thành một lĩnh vực chung là điện từ học. Đây là những khái niệm khá
trừu tợng đối với học sinh và học sinh không thể nhận biết ra chúng chỉ đơn
thuần bằng mắt nếu nh không có những thiết bị, dụng cụ hỗ trợ khác. Hơn
nữa, đây là kiến thức đợc áp dụng rất nhiều trong các lĩnh vực của cuộc sống.
Chính vì thế mà việc làm cho học sinh hiểu sâu sắc hơn những khái niệm, định
luật, hiện tợng trong phần này và việc phát triển t duy, năng lực sáng tạo
cho học sinh để học sinh biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hình thành kỹ
năng, kỹ sảo là rất quan trọng.
2. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu các biện pháp phát triển t duy và năng lực sáng tạo của học
sinh, tác dụng của bài tập trong việc phát triển t duy và năng lực sáng tạo của
học sinh, yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản trong chơng từ trờng và
cảm ứng điện từ, căn cứ vào tình hình thực tế trong quá trình giáo viên







hớng dẫn học sinh giải bài tập ở trờng phổ thông từ đó mà lựa chọn một số
biện pháp phù hợp để phát triển t duy và năng lực sáng tạo của học sinh trong
quá trình giáo viên hớng dẫn học sinh giải bài tập.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu các biện pháp phát triển t duy và năng lực sáng tạo của học
sinh trong quá trình dạy học vật lý.
- Tìm hiểu lý luận chung về bài tập vật lý và tác dụng của nó trong quá
trình dạy học bộ môn, các kiểu hớng dẫn học sinh giải bài tập và trình tự các
bớc trong quá trình giải bài tập.
- Xác định những kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm vững trong
chơng từ trờng và cảm ứng điện từ.
- Tìm hiểu thực tế việc giải bài tập vật lý ở trờng phổ thông hiện nay.
- Đa ra một số biện pháp phát triển t duy và năng lực sáng tạo của
học sinh, áp dụng vào một số bài tập cụ thể.
- Đa ra một số dạng bài tập tơng tự giúp học sinh luyện tập và tham
khảo.
4. Đối tợng nghiên cứu.
Là các biện pháp phát triển t duy và năng lực sáng tạo của học sinh
trong quá trình hớng dẫn học sinh giải bài tập vật lý và vai trò của bài tập vật
lý trong việc phát triển t duy, năng lực sáng tạo của học sinh.
5. Phơng pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu lý luận chung về phơng pháp dạy học vật lý, tâm lý học,
giáo dục học.
- Trò chuyện, tiếp xúc với giáo viên và học sinh.

- Điều tra qua dự giờ.







Nội dung
Chơng 1: Cơ sở lý luận
1. Phát triển t duy học sinh.
1.1 Khái niệm t duy.
- T duy là một quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật,
hiện tợng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của
chúng, đồng thời cũng là sự vận dụng sáng tạo những kết luận khái quát đã
thu đợc vào những dấu hiệu cụ thể, dự đoán đợc những thuộc tính, quan hệ
mới.
1.2 Các loại t duy.
- T duy kinh nghiệm: là một t duy dựa chủ yếu trên kinh nghiệm cảm
tính và sử dụng phơng pháp thử và sai. Kiểu t duy này đơn giản, không
cần phải rèn luyện nhiều, có ích trong hoạt động hàng ngày để giải quyết vấn
đề trong phạm vi hẹp.
- T duy lý luận: Là loại t duy giải quyết nhiệm vụ đợc đề ra dựa trên
sử dụng những khái niệm trừu tợng, những tri thức lý luận . T duy này rất
cần thiết cho hoạt động nhận thức và phải rèn luyện lâu dài mới có đợc.
- T duy lôgíc: Là t duy tuân theo các quy tắc, quy luật của lôgíc học
một cách chặt chẽ, chính xác, không phạm sai lầm trong các lập luận, biết
phát hiện các mâu thuẫn, nhờ đó mà nhận thức đợc đúng đắn chân lý khách
quan. Đối với học sinh ở trờng phổ thông, không thể dạy cho họ lôgíc học để
sau đó học mới vận dụng các quy tắc và quy luật lôgíc để suy nghĩ, lập luận.

Trái lại, ta có thể thông qua việc giải quyết những nhiệm vụ cụ thể mà tích luỹ
dần kinh nghiệm và đến một lúc nào đó sẽ tự tổng kết thành những quy tắc
đơn giản thờng dùng.
- T duy vật lý: Là sự quan sát các hiện tợng vật lý, phân tích một hiện
tợng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những
mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định






tính và mặt định lợng của các hiện tợng và các đại lợng vật lý, dự đoán các
hệ quả mới từ các lý thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu đợc
vào thực tiễn.
1.3 Các biện pháp phát triển t duy của học sinh.
1.3.1 Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tò mò, ham hiểu biết của học
sinh.
T duy chỉ thực sự bắt đầu khi học sinh đợc đặt vào tình huống có vấn
đề. Ta có thể tạo ra nhu cầu, hứng thú bằng cách kích thích bên ngoài: Khen
thởng, sự ngỡng mộ của bạn bè, gia đình Nhu cầu hứng thú có thể nảy sinh
ngay trong quá trình học tập, nghĩa là từ một bộ môn học, từ mâu thuẫn nội tại
của quá trình nhận thức, những tình huống điển hình hay gặp trong dạy học
vật lý.
- Tình huống phát triển: Học sinh đứng trớc một vấn đề chỉ mới đợc
giải quyết một phần, một bộ phận trong một phạm vi hẹp, cần phải đợc tiếp
tục phát triển, hoàn chỉnh, mở rộng sang những phạm vi, lĩnh vực mới. Quá
trình phát triển, hoàn thiện vốn kiến thức sẽ đem lại những kết quả mới.
Nhng trong quá trình đó vẫn có thể sử dụng những kiến thức, kỹ năng và
phơng pháp đã biết cho đến lúc gặp mâu thuẫn không thể giải quyết đợc

bằng vốn hiểu biết cũ.
- Tình huống lựa chọn: Học sinh đứng trớc một vấn đề có mang một số
dấu hiệu quen thuộc có liên quan đến những kiến thức hay nhiều phơng pháp
giải quyết đã biết, nhng cha biết chắc chắn có thể dùng kiến thức nào hay
phơng pháp nào sẽ mang lại kết quả chắc chắn. Học sinh cần phải lựa chọn,
thậm chí còn phải làm thử mới biết đợc cách nào đem lại kết quả nh mong
muốn.
- Tình huống bế tắc: Học sinh đứng trớc một hiện tợng vẫn thờng
thấy nh không hiểu vì sao, vẫn coi nh một điều bí mật của tự nhiên. Bây giờ






họ đợc giao nhiệm vụ phải tìm hiểu nguyên nhân, lý giải rõ ràng nhng cha
biết dựa vào đâu.
- Tình huống ngạc nhiên, bất ngờ: Học sinh đứng trớc một hiện tợng
xảy ra theo một chiều hớng trái với suy nghĩ thông thờng, do đó kích thích
sự tò mò, lôi cuốn sự chú ý của họ tìm cách lý giải, phải bổ sung hoàn chỉnh
hoặc thay đổi quan điểm của sai lầm của mình.
1.3.2 Xây dựng một lôgíc nội dung phù hợp với đối tợng học sinh.
Vật lý học đa vào dạy học ở trờng phổ thông không phải là vật lý học
đợc trình bày dới dạng hiện đại nhất của khoa học, bởi nếu nh vậy thì
nhiều khi học sinh không thể hiểu đợc. Hơn nữa, ta lại yêu cầu học sinh phải
tự lực hoạt động để xây dựng, chiếm lĩnh kiến thức. Bởi vậy, giáo viên phải
tìm một con đờng thích hợp vừa với trình độ học sinh để họ có thể làm đợc
việc đấy. Giáo viên cần phải phân chia vấn đề lớn thành một chuỗi vấn đề nhỏ
hơn mà học sinh có thể tự lực giải quyết đợc với sự hớng dẫn cần thiết của
giáo viên.

1.3.3 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hiện các thao tác t duy,
những hành động nhận thức phổ biến trong học tập vật lý.
Trong quá trình nhận thức vật lý, học sinh phải luôn thực hiện các thao tác
chân tay, các thao tác t duy, các hành động nhận thức. Để cho học sinh có
thể tự lực hoạt động nhận thức có kết quả và hoạt động với tốc độ ngày càng
nhanh thì giáo viên phải luôn luôn có kế hoạch rèn luyện cho học sinh.
1.3.4 Tập dợt để học sinh giải quyết vấn đề nhận thức theo phơng
pháp nhận thức của vật lý.
Chính trong quá trình hớng dẫn học sinh tự lực hoạt động để tái tạo
kiến thức vật lý, giáo viên làm cho họ hiểu nội dung của các phơng pháp vật
lý và sử dụng các phơng pháp này ở những mức độ thích hợp, tuỳ theo trình
độ của học sinh và nhà trờng. Sau một số lần áp dụng các phơng pháp nhận
thức cụ thể, giáo viên có thể giúp học sinh khái quát hoá thành một trình tự






các giai đoạn của mỗi phơng pháp, dùng làm cơ sở định hớng tổng quát cho
hoạt động nhận thức vật lý của học sinh. Những phơng pháp nhận thức chủ
yếu hay dùng trong hoạt động nhận thức vật lý ở trờng phổ thông là phơng
pháp thực nghiệm và phơng pháp mô hình.
1.3.5 Rèn luyên ngôn ngữ vật lý cho học sinh.
Mỗi khái niệm vật lý đợc biểu đạt bằng một từ, mỗi định nghĩa, định luật vậy
lý đợc phát biểu bằng một mệnh đề, mỗi suy luận bao gồm nhiều phán đoán
liên tiếp. Tuy nhiên kiến thức vật lý rất đa dạng nhng những cách phát biểu
các định nghĩa, quy tắc, định luật vật lý cũng có những hình thức chung nhất
định, giáo viên có thể chú ý rèn luyện cho học sinh quen dần.
2. Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.

2.1 Khái niệm năng lực.
Trong khoa học tâm lý, ngời ta coi rằng năng lực là những thuộc tính
tâm lý riêng của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con ngời hoàn thành
tốt đẹp một loại hoạt động nào đó, mặc dù phải bỏ ra ít sức lao động nhng
vẫn đạt kết quả cao .
2.2 Sự hình thành và phát triển năng lực.
Sự hình thành và phát triển năng lực của con ngời chịu sự tác động của
nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố sinh học, yếu tố hoạt động của chủ thể và yếu
tố giao lu xã hội.
- Yếu tố sinh học: Vai trò của sự di truyền trong sự hình thành năng lực:
Di truyền là sự tái tạo ở trẻ em những thuộc tính sinh học đã có ở cha mẹ, là
sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm và những phẩm chất nhất
định đã đợc ghi lại trong hệ thống gen. Những đặc điểm sinh học mặc dù có
ảnh hớng đến quá trình hình thành tài năng, cảm xúc, sức khoẻ, thể chất của
con ngời, nhng nó chỉ tạo nên tiền đề của sự phát triển năng lực.
- Yếu tố hoạt động của chủ thể: Năng lực không có sẵn trong con ngời.
Con ngời bằng hoạt động của chính mình mà chiếm lĩnh những kinh nghiệm






hoạt động của các thế hệ đi trớc biến thành năng lực của chính mình. Tuỳ
theo đặc điểm của loại hình hoạt động của con ngời mà các yếu tố bẩm sinh
có thể phát triển mạnh theo hớng này hay hớng khác hoặc có thể bị thui
chột đi.
- Yếu tố môi trờng xã hội: Môi trờng xã hội là hệ thống các quan hệ
chính trị, kinh tế, t tởng đợc thiết lập trong xã hội. Những bộ phận của
môi trờng thờng có tác động mạnh mẽ đến con ngời là gia đình, trờng

học, bạn bè, ngời xung quanh
Môi trờng góp phần tạo nên động cơ, mục đích, phơng tiên, hành
động và đặc biệt cho hoạt động giao lu của mỗi cá nhận với xã hội mà nhờ
đó cá nhân thu đợc kinh nghiệm của xã hội loài ngời, biến nó thành của
chính mình.
- Vai trò của giáo dục trong việc hình thành các năng lực.
Giáo dục là một loại hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và
phát triển nhân cách con ngời (trong đó có năng lực) theo những yêu cầu của
xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Giáo dục (dạy học) có thể mang lại những hiệu quả, những tiến bộ của
mỗi học sinh mà các yếu tố khác không thể có đợc. Đặc biệt là dạy học có
thể đi trớc sự phát triển thúc đẩy sự phát triển.
2.3 Khái niệm năng lực sáng tạo.
Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh
thần hay vật chất có tính cách tân ý nghĩa xã hội, có giá trị.
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về
vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng
thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới.
2.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực của học sinh.
- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức
mới: Việc nghiên cứu kiến thức mới sẽ thờng xuyên tạo ra những tình huống






đòi hỏi học sinh đa ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản
thân họ.
- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán xây dựng giả thuyết: Dự đoán có vai

trò rất quan trọng trên con đờng sáng tạo khoa học. Dự đoán chủ yếu dựa vào
trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức sâu sắc về mỗi lĩnh
vực. Có thể có các cách dự đoán sau đây trong giai đoạn đầu của hoạt động
nhận thức vật lý của học sinh.
+ Dựa vào sự liên tởng tới một kinh nghiệm đã có.
+ Dựa trên sự tơng tự.
Dựa trên một dấu hiệu bên ngoài giống nhau mà dự đoán sự giống nhau
về bản chất hay dựa trên sự giống nhau về cấu tạo mà dự đoán sự giống nhau
về tính chất.
+ Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tợng mà dự đoán
chúng có quan hệ nhân quả.
+ Dựa trên nhận xét thấy hai hiện tợng luôn luôn biến đổi đồng thời,
cùng tăng hoặc cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng.
+ Dựa trên sự thuận nghịch thờng thấy của nhiều quá trình.
+ Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết
sang một lĩnh vực khác.
+ Dự đoán về mối quan hệ định lợng.
- Luyện tập đề xuất phơng án kiểm tra dự đoán.
Muốn kiểm tra xem dự đoán, giả thuyết có phù hợp với thực tế không ta phải
xem điều dự đoán đó biểu hiện trong thực tế nh thế nào? Có những dấu hiệu
nào có thể quan sát đợc. Điều đó có nghĩa là từ một dự đoán, giả thuyết, ta
phải suy ra một hệ quả có thể quan sát đợc trong thực tế, sau đó tiến hành thí
nghiệm để xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết quả thí
nghiệm không? Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là đề xuất đợc phơng án
kiểm tra hệ quả đã rút ra đợc.







- Giải các bài tập sáng tạo.
Trong loại bài tập này, ngoài việc vận dụng một số kiến thức đã học,
học sinh bắt buộc phải có ý kiến độc lập mới mẻ, không thể suy ra một cách
lôgíc từ những kiến thức đã học.
3. Lý luận về bài tập vật lý.
3.1 Quan niệm về bài tập vật lý.
Trong thực tiễn dạy học, bài tập vật lý là một vấn đề không lớn mà
trong trờng học tổng quát nó đợc giải quyết nhờ những suy luận lôgíc,
những phép toán và thí nghiệm trên cơ sở những định luật và phơng pháp vật
lý.
Trong sách giáo khoa và tài liệu phơng pháp giảng dạy bộ môn thì bài
tập vật lý đợc hiểu là những bài luyện tập đợc lựa chọn một cách phù hợp
với mục đích chủ yếu là: Nghiên cứu các hiện tợng vật lý, hình thành các
khái niệm, phát triển t duy vật lý của học sinh và rèn luyện kĩ năng vận dụng
các kiến thức của họ vào thực tiễn.
Hiểu theo nghĩa rộng thì sự t duy định hớng tích cực luôn luôn là việc
giải bài tập. Về thực chất, mỗi một vấn đề mới xuất hiện do nghiên cứu tài liệu
giáo khoa trong các tiết học vật lý chính là một bài tập đối với học sinh.
Tóm lại, bài tập vật lý có hai chức năng chủ yếu cơ bản khác: Tập vận
dụng các kiến thức cũ và tìm kiếm kiến thức mới.
3.2 Tác dụng của bài tập vật lý trong dạy học.
- Bài tập giúp cho việc ôn tập đào sâu, mở rộng kiến thức.
Bài tập vật lý là một phơng tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động. Khi giải
bài tập, học sinh phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử dụng tổng
hợp những kiến thức thuộc nhiều chơng, nhiều phần của chơng trình.
- Bài tập có tác dụng hình thành kiến thức mới.







Các bài tập loại này đợc sử dụng khéo léo có thể dẫn học sinh đén
những suy nghĩ về một hiên tợng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới để
giải thích hiện tợng mới do bài tập phát hiện ra.
- Giải bài tập vật lý rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lý thuyết vào
thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát.
- Giải bài tập vật lý là một trong những hình thức làm việc tự lực cao
của học sinh.
Trong khi làm bài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu
bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà học
sinh rút ra đợc nên t duy học sinh phát triển, năng lực làm việc tự lực của
học sinh đợc nâng cao, tính kiên trì đợc phát triển.
- Giải bài tập vật lý góp phần làm phát triển t duy sáng tạo của học
sinh.
- Giải bài tập vật lý để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học
sinh.
Tùy theo cách đặt câu hỏi kiểm tra, ta có thể phân loại đợc các mức độ
nắm vững kiến thức của học sinh, khiến cho việc đánh giá chất lợng kiến
thức của học sinh đợc chính xác.
3.3 Phân loại bài tập vật lý.
Có nhiều cách phân loại bài tập vật lý. Dựa vào các phơng tiện giải có
thể chia bài tập vật lý thành các loại sau:
- Bài tập định tính: Bài tập loại này mà khi giải, học sinh không cần
phải thực hiện các phép tính phức tạp hay chỉ phải làm những phép tính đơn
giản, có thể tính nhẩm đợc.
- Bài tập tính toán: Là những bài tập mà muốn giải chúng, ta phải thực
hiện một loạt phép tính và kết quả là thu đợc một đáp số định lợng, tìm giá
trị của một số đại lợng vật lý. Nó bao gồm hai loại:







+ Bài tập tính toán tập dợt: Đây là những bài tập cơ bản, đơn giản,
trong đó chỉ đề cập đến một hiện tợng, một định luật và sử dụng một vài
phép tính đơn giản.
+ Bài tập tính toán tổng hợp: Là bài tập mà muốn giải nó phải vận dụng
nhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức.
- Bài tập thí nghiệm: Là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm
chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài
tập.
- Bài tập đồ thị: Là bài tập trong đó các số liệu đợc dùng làm dữ kiện
để giải phải tìm trong các đồ thị cho trớc hoặc ngợc lại, đòi hỏi học sinh
phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tợng nêu trong bài tập đồ thị.
3.4 Phơng pháp giải bài tập vật lý.
- Bớc 1: Nghiên cứu đầu bài.
Đọc kỹ đề bài, mã hoá các đề bài bằng những ký hiệu quen dùng, đổi
đơn vị của các đại lợng trong cùng hệ thống thống nhất là hệ SI. Vẽ hình
hoặc sơ đồ.
- Bớc 2: Phân tích hiện tợng quá trình vật lý và lập kế hoạch giải.
Mô tả hiện tợng, quá trình vật lý xảy ra trong tình huống nêu lên trong đầu
bài.
+ Vạch ra các quy tắc, định luật cho quá trình ấy.
+ Dự kiến những lập luận, biến đổi toán học cần thực hiện nhằm xác lập
mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm.
- Bớc 3: Trình bày lời giải.
+ Viết phơng trình của các định luật và giải hệ phơng trình có đợc

để tìm ẩn số dới dạng tổng quát, biểu diễn các đại lợng cần tìm qua các đại
lợng đã cho.
+ Thay giá trị bằng số của các đại lợng đã cho để tìm ẩn số. Thực hiện
các phép tính với độ chính xác cho phép.






- Bớc 4: Kiểm tra và biện luận kết quả.
3.5 Các kiểu hớng dẫn học sinh giải bài tập vật lý.
3.5.1 Cơ sở định hớng của việc hớng dẫn học sinh giải bài tập vật lý.
T duy khi giải bài tập vật lý phơng pháp giải bài tập vật lý cụ thể
Mục đích s phạm xác định kiểu hớng dẫn giải bài tập vật lý cụ thể
Xác định phơng pháp hớng dẫn học sinh giải bài tập cụ thể
3.5.2 Các kiểu hớng dẫn học sinh.
- Hớng dẫn theo mẫu (Algôrít): Là sự hớng dẫn chỉ rõ cho học sinh
các thao tác (các hành động sơ cấp đợc học sinh hiểu một cách đơn giá và
nắm vững) cần thực hiện và trình tự thực hiện các thao tác ấy để đạt kết quả
mong muốn. Thờng đợc Algôrít khi cần dạy cho học sinh phơng pháp giải
từng loại bài tập cơ bản điển hình và luyện tập cho họ kỹ năng giải bài tập dựa
trên cơ sở hớng dẫn học sinh đã nắm đợc Algôrít giải.
u điểm của kiểu này: Đảm bảo cho học sinh giải đợc bài tập một
cách chắc chắn và rèn kỹ năng giải bài tập cho học sinh.
Hạn chế: ít có tác dụng rèn luyện cho học sinh khả năng tìm tòi, sáng
tạo.
- Hớng dẫn tìm tòi (hớng dẫn ơrixtic).
Là kiểu hớng dẫn mang tính chất gợi ý cho học sinh suy nghĩ, tìm tòi,
phát hiện cách giải quyết, tự xác định các hành động cần thực hiện để thu

đợc kết quả.
Nó đợc áp dụng khi cần giúp đỡ cho học sinh vợt qua khó khăn để
giải đợc bài tập, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu phát triển t duy và rèn
luyện học sinh tự lực, tìm tòi cách giải.
u điểm: Tránh tình trạng giáo viên giảng thay bài tập cho học sinh.
Hạn chế: Không phải bao giờ cũng đảm bảo cho học sinh giải đợc bài
tập một cách chắc chắn.






- Định hớng khái quát chơng trình.
Cũng là kiểu hớng dẫn học sinh tìm tòi cách giải quyết nhng giáo
viên định hớng hoạt động t duy của họ theo đờng lối khái quát của việc
giải quyết vấn đề. Ngay sự định hớng ban đầu đã đòi hỏi học sinh phải tự lực,
tìm tòi cách giải quyết. Nếu học sinh không đáp ứng đợc thì sự giúp đỡ của
giáo viên là cụ thể hoá thêm một bớc bằng cách gợi ý thêm cho họ để thu hẹp
hơn phạm vi phải tìm tòi, giải quyết cho vừa sức học sinh. Nếu học sinh không
tìm tòi giải quyết đợc thì sự hớng dẫn của giáo viên chuyển dần thành
hớng dẫn theo mẫu để đảm bảo cho học sinh hoàn thành yêu cầu một bớc,
sau đó tiếp tục yêu cầu học sinh tự lực tìm tòi giải quyết bớc tiếp theo. Nếu
cần thì giáo viên lại giúp đỡ thêm. Cứ nh vậy cho đến khi giải quyết đợc bài
tập đã giao.
Đợc áp dụng khi có điều kiện hớng dẫn toàn bộ tiến trình hoạt động
giải bài tập của học sinh nó giúp cho họ tự lực giải đợc bài tập đã ra, đồng
thời dạy cho các em cách suy nghĩ trong quá trình giải bài tập và tự rút ra
phơng pháp giải một loại bài tập nào đó.
u điểm: Rèn luyện t duy của học sinh trong quá trình giải bài tập và

đảm bảo cho học sinh giải đợc bài tập đã giao.
Hạn chế: Đòi hỏi sự hớng dẫn phải theo sát tiến trình giải bài tập của
học sinh nghĩa là không chỉ dựa vào những lời hớng dẫn đã soạn sẵn mà phải
kết hợp với trình độ học sinh để điều chỉnh sự giúp đỡ cho thích hợp.

Chơng 2. Một số biện pháp phát triển t duy và năng lực sáng tạo của
học sinh trong quá trình hớng dẫn học sinh giải bài tập phần từ
trờng và cảm ứng điện từ
1. Tình hình giải bài tập ở trờng phổ thông.






Trong thời gian thực tập tại trờng THPT Mỹ Hào Hng Yên. Tôi đã
đợc giảng dạy phần từ trờng. Trong thời gian này, tôi đã đợc dự giờ, trò
chuyện với giáo viên và học sinh, qua đó tôi thấy rằng:
Nói đến giải bài tập vật lý, nhiều giáo viên và học sinh trong nhà
trờng phổ thông hiện nay thờng nghĩ đến việc tìm cách vận dụng những
công thức vật lý để lập các phơng trình mà giải chúng để tìm ra những con số
gọi là đáp số của bài toán. Cứ nh thế, việc giải toán vật lý rút cuộc trở thành
một thứ toán ứng dụng, quy về những thủ thuật và kỹ thuật lập phơng trình,
giải phơng trình ứng với vô số các kiểu, loại bài tập vật lý khác nhau.
Hiện nay trong nhà trờng THPT ở Việt Nam sử dụng chủ yếu các bài
tập vật lý định lợng giải quyết các câu hỏi (vấn đề) đặt ra bằng các phép tính
toán khi giải các phơng trình. Nhiều giáo viên dành rất nhiều công sức vào
việc dạy học sinh nhận diện các kiểu, loại bài tập vật lý khác nhau và cách
thức vận dụng các công thức vật lý cho từng kiểu, loại toán đó mà quên phần
lớn vấn đề ý nghĩa đích thực của việc giải bài tập vật lý là làm sáng tỏ bản

chất vật lý của các hiện tợng mô tả trong các đề bài nói riêng và các hiện
tợng xảy ra trong đời sống bao gồm cả đối tợng kỹ thuật.
Kiến thức phần từ trờng và cảm ứng điện từ đợc trình bày trong
sách giáo khoa vật lý 11 rất chi tiết và cụ thể. Song song với đó, đa số bài tập
đợc nêu ra trong phần này rất sát với kiến thức mà học sinh đã đợc học.
Chính vì thế mà ở nhà trờng phổ thông hiện nay, phần lớn học sinh giải bài
tập phần này sẽ rất nhanh bởi đơn thuần họ chỉ việc áp dụng những công thức
sẵn có trong sách giáo khoa và sử dụng những phép tính đơn giản là sẽ ra ngay
đợc kết quả và công việc giải bài tập dừng lại ở đó.
Nhng học sinh lại không hiểu đợc hiện tợng vật lý diễn ra hay
không biết phân tích hiện tợng. Giáo viên thì hớng dẫn học sinh giải bài tập
lại không tránh đợc tình trạng nh giải thay bài tập cho học sinh, không biết
phát triển t duy học sinh, không làm cho học sinh hiểu rõ vấn đề đợc nêu






lên trong bài và hiểu nó một cách sâu sắc hơn. Tất cả những điều này đã làm
cho việc hớng dẫn học sinh giải bài tập không đáp ứng đợc yêu cầu phát
triển t duy học sinh và năng lực sáng tạo, dẫn đến tình trạng học sinh giải bài
tập nh những cái máy đã đợc lập trình sẵn và khi gặp phải một bài tập hoàn
toàn mới, những vấn đề họ cha gặp bao giờ thì học sinh không thể giải quyết
đợc những yêu cầu đặt ra.
2. Đề xuất một số biện pháp phát triển t duy và năng lực sáng tạo của
học sinh.
Trong quá trình hớng dẫn học sinh giải bài tập không phải là ngời
giáo viên chỉ cần làm cho học sinh ra đợc kết quả yêu cầu của bài toán mà
thông qua hoạt động giải bài tập, ngời giáo viên phải phát triển đợc t duy

và năng lực sáng tạo của học sinh. Theo tôi, để làm đợc việc đó, ngời giáo
viên cần phải có một số biện pháp cơ bản sau:
- Giáo viên phải biết lựa chọn hệ thống bài tập cho mỗi đề tài, chơng,
phần của giáo trình vật lý phổ thông, các bài tập đa ra phải vừa sức học sinh,
phải đa dạng về phơng pháp giải, phơng thức giải và nội dung. Những bài
tập đó phải góp phần khắc phục những khó khăn chủ yếu, những sai lầm phổ
biến của học sinh trong học tập, đóng góp một phần nào đó vào việc nắm vững
kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quen vận dụng kiến thức đã
chiếm lĩnh đợc; phát triển đợc năng lực học sinh trong việc giải quyết các
vấn đề học tập trong thực tiễn.
- Sau khi đọc đề bài cho học sinh, giáo viên dành thời gian từ 2 đến 3
phút để học sinh đọc kỹ và nghiên cứu đầu bài giúp học sinh hình dung đợc
bài tập với những dữ kiện, giả thiết đã cho và những yêu cầu của bài tập. Từ
đó học sinh sẽ lựa chọn những kiến thức để giải bài tập.
- Khi hớng dẫn học sinh giải bài tập ngời giáo viên phải biết định
hớng đúng đắn sự t duy của học sinh thông qua những câu hỏi định hớng
t duy. Những câu hỏi này phải thoả mãn những yêu cầu cơ bản sau:






+ Câu hỏi phải đợc diễn đạt chính xác về ngữ pháp, về nội dung khoa
học và về điều mình muốn hỏi.
+Câu hỏi phải vừa sức học sinh.
+Nội dung câu hỏi phải định hớng đợc suy nghĩ của họ theo đờng
lối đúng đắn của việc giải quyết vấn đề đang xét và đáp ứng đợc những đòi
hỏi từng bớc của quá trình giải quyết vấn đề.
Giáo viên đa đợc ra những câu hỏi loại này, không những giúp học

sinh giải đợc bài tập đã ra mà còn đáp ứng đợc yêu cầu phát triển t duy của
học sinh trong quá trình giải bài tập. Từ những câu trả lời của học sinh mà
giáo viên phân tích các câu trả lời đó để học sinh thấy đợc những cái đúng,
cái sai của mình. Từ đó, giáo viên chỉnh sửa lại câu trả lời và chọn ra một đáp
án thích hợp nhất.
- Đối với một số bài tập, nếu có thể giáo viên luyện tập cho học sinh
phỏng đoán kết quả (một cách định tính) trớc khi bắt tay vào việc tính toán
thông qua phân tích đề bài hay hiện tợng vật lý xảy ra.
- Giáo viên phải tạo cho học sinh thói quen lập luận trong quá trình giải
bài tập, vì mỗi bài tập vật lý đa ra, việc giải nó không phải chỉ là tính toán
đơn thuần để đi tới kết quả, hơn nữa, để giải đợc bài tập, trớc hết học sinh
phải hiểu rõ hiện tợng xảy ra, diễn biến của nó từ đầu đến cuối. Muốn vậy,
trớc khi bắt tay vào việc tính toán, giáo viên yêu cầu học sinh nêu hiện tợng
xảy ra và phân tích hiện tợng đó, đa ra những lập luận để xác định các mối
quan hệ trong bài.
- Sau khi đã tìm ra đợc bài toán, giáo viên có thể tập cho học sinh biện
luận kết quả vừa tìm đợc (có thể chấp nhận đợc không?trong thực tế có hay
không? ) và có thể đa ra biện pháp để kiểm tra kết quả
- Sau khi giải bài tập, giáo viên đa ra những câu hỏi mở rộng, đào sâu
kiến thức giúp học sinh hiểu sâu hiện tợng nêu ra trong bài, những kiến thức
vật lý liên quan và nâng cao trình độ hiểu biết của học sinh. Đồng thời, thông






qua nhng câu hỏi này, giáo viên có thể giúp học sinh liên hệ với cuộc sống,
khoa học, kĩ thuật và sản xuất. Điều này sẽ giúp học sinh giải đợc những bài
toán phức tạp hơn mà không bỡ ngỡ và sẽ tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội

đề xuất ra đợc những ý kiến mới mẻ, có ý nghĩa, làm cho họ cảm nhận đợc
hoạt động sáng tạo là hoạt động thờng xuyên, có thể thực hiện đợc với sự cố
gắng nhất định.
- Cuối mỗi lời giải, giáo viên cho học sinh tự khái quát hoá rút ra
phơng pháp giải từng loại, kiểu bài tập phức hợp mới gặp lần đầu.
3. Mức độ yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản phần từ trờng và
cảm ứng điện từ.
3.1 Phần từ trờng:
Từ trờng là dạng vật chất tồn tại xung quanh hạt năng điện chuyển
động và tác dụng lực từ lên hạt mang điện khác chuyển động trong nó.
3.1.1 Véctơ cảm ứng từ là đại lợng đặc trng cho từ trờng về mặt lực
tác dụng của từ trờng.
Véctơ cảm ứng từ thờng đợc ký hiệu là
B
.
Đơn vị của cảm ứng từ là Tesla, ký hiệu là T.
3.1.2 Đờng cảm ứng từ là đờng cong có hớng mà tiếp tuyến với nó ở
mỗi điểm trùng với phơng còn chiều của nó trùng với chiều của véctơ cảm
ứng từ tại điểm đó.
Một từ trờng mà véctơ cảm ứng từ tại mọi điểm đều song song với
nhau và có độ lớn bằng nhau gọi là từ trờng đều. Các đờng cảm ứng từ của
từ trờng đều là các đờng thẳng song song cách đều nhau.
3.1.3 Từ trờng của dòng điện trong dây dẫn thẳng dài (đặt trong không
khí).
- Các đờng cảm ứng từ là những đờng tròn đồng tâm nằm trong mặt
phẳng vuông góc với dây dẫn và tâm là giao điểm của mặt phẳng đó với dây
dẫn.







- Chiều của các đờng cảm ứng từ đợc xác định bằng quy tắc đinh ốc 1.
- Độ lớn: B = 2.10
-7
.
r
I

3.1.4 Từ trờng của dòng điện trong khung dây tròn (đặt trong không
khí).
- Các đờng cảm ứng từ là những đờng cong, riêng đờng cảm ứng từ
qua tâm là đờng thẳng vuông góc với mặt phẳng chứa khung dây.
- Chiều của các đờng cảm ứng từ đợc xác định bằng quy tắc đinh ốc 2.
- Độ lớn của cảm ứng từ tại tâm của khung dây : B = 2.10
-7
.
R
I

3.1.5 Từ trờng của dòng điện chạy trong ống dây dài (đặt trong không
khí).
- Các đờng cảm ứng từ bên trong ống dây là các đờng song song,
cách đều nhau: Từ trờng bên trong ống dây là từ trờng đều.
- Chiều của các đờng cảm ứng từ đợc xác định bằng quy tắc đinh ốc 2.
- Độ lớn cảm ứng từ bên trong ống dây: B = 4.10
-7
.n.I
3.1.6 Lực từ tác dụng lên một đoạn dây dẫn có dòng điện đặt trong từ

trờng đều.
- Phơng vuông góc với mặt phẳng chứa I và
B

- Chiều của lực từ đợc xác định bằng quy tắc bàn tay trái.
- Độ lớn F = B.I.lsin. (công thức Ampe).
3.1.7 Lực tơng tácgiữa hai dây dẫn thẳng, dài, song song có dòng điện
chạy qua.
- Nếu dòng điện chạy trong hai dây cùng chiều thì chúng hút nhau.
- Nếu dòngđiện chạy trong hai dây ngợc chiều thì chúng đẩy nhau.
- Độ lớn của lực từ tác dụng lên mỗi đơn vị chiều dài của mỗi dây.
F=2.10
-7
.I
1
.I
2
/r






3.1.8 Lực từ tác dụng lên khung dây có dòng điện đặt trong từ trờng
đều.
- Trong trờng hợp khi mặt phẳng khung vuông góc với đờng cảm ứng
từ thì lực từ chỉ có xu hớng làm co hay kéo dãn khung mà không làm khung
quay.
- Trong các trờng hợp khác thì lực từ tạo thành ngẫu lực làm quay

khung. Khi mặt phẳng khung song song với các đờng cảm ứng từ thì mô men
ngẫu lực từ là lớn nhất.
M = I.B.S
3.1.9 Khi một hạt mang điện chuyển động trong từ trờng thì chịu tác
dụng của lực Lorenxơ.
- Phơng của lực Lorenxơ: Vuông góc với mặt phẳng chứa
v

B
.
- Chiều của lực Lorenxơ: Đợc xác định theo quy tắc bàn tay trái.
- Độ lớn: F = q.v.B.sin
3.2 Cảm ứng điện từ.
3.2.1 Từ thông qua một diện tích phẳng đặt trong từ trờng đều.


= B.S.cos
3.2.2 Hiện tợng cảm ứng điện từ: Khi có sự biến thiên từ thông qua
diện tích giới hạn bởi một mạch điện kín thì trong mạch xuất hiện dòng điện
cảm ứng.
- Chiều của dòng điện cảm ứng trong mạch đợc xác định dựa vào định
luật Lenxơ.
- Độ lớn của suất điện động cảm ứng trong một mạch điện kín.
= N.
t


- Khi một thanh kim loại chuyển động trong từ trờng với điều kiện véc
tơ cảm ứng từ và véc tơ vận tốc của thanh đều vuông góc với thanh còn véc tơ







cảm ứng từ và véc tơ vận tốc làm thành với nhau một góc . Khi đó xuất điện
động cảm ứng trong thanh : =B.l.v.sin
Nếu
B
vuông góc với
v
thì : =B.l.v
Chiều của dòng điện cảm ứng trong thanh đợc xác định bằng quy tắc
bàn tay phải.
- Khi xuất hiện suất điện động cảm ứng trong một mạch điện do biến
thiên từ thông của chính mạch đó gây ra gọi là hiện tợng tự cảm.
Độ lớn của suất điện động tự cảm l
à :

tc
= L.
t


Năng lợng từ trờng của ống dây:
W =
2
1
L.I
2

* Trong phần từ trờng, khó khăn lớn nhất gặp phải khi giải các bài
toán loại này là vấn đề chiều của các đại lợng véc tơ với các quy tắc cần nhớ
để xác định đúng chiều của chúng. Vì vậy, trong quá trình hớng dẫn học sinh
giải bài tập, giáo viên cần đặc biệt chú ý và tập cho học sinh sử dụng thành
thạo các quy tắc.
* Với những bài toán về cảm ứng điện từ, giáo viên phải chỉ cho học
sinh hiểu thật rõ điều gì làm cho từ thông biến đổi: do dây dẫn chuyển động
hay do từ trờng biến đổi hay do cả hai. Vì vậy, trớc khi bắt tay vào giải bài
tập phần này, giáo viên phải yêu cầu học sinh phân tích rõ đề bài để xác định
nguyên nhân gây ra từ thông biến đổi.
4. Minh hoạ bằng một số bài tập phần từ trờng - cảm ứng điện từ.
Bài 1:
Một xôlênôit dài l = 20 cm gồm N = 100 vòng nằm ngang trong không
khí, trục ống vuông góc với
0
B
của trái đất, B
0
=2.10
-5
T . Trong lòng ống có






treo 1 kim nam châm, khi có dòng I chạy qua xôlênôit, kim lệch góc
=45
0

.Tìm I cho1/ =0,32
* Câu hỏi định hớng t duy
- Khi cha có dòng điện I, kim nam châm định hớng nh thế nào?
- Khi có dòng điện em có nhận xét gì về từ trờng tại điểm đặt kim nam
châm? Hãy chỉ ra trên hình vẽ.
- Khi đó kim nam châm sẽ chỉ theo hớng nào? Hãy chỉ ra góc trên
hình vẽ.
- Để xác định đợc cờng độ dòng điện chạy trong ống dây thì ta phải
tìm đại lợng nào? Dựa vào biểu thức nào?
- Xác định B
d
bằng cách nào?
Lời giải.

d
B

B




o
B

Khi cha có dòng điện chạy trong xôlênôit thì kim nam châm sẽ hớng
theo
0
B
của trái đất.

Khi có dòng điện thì sẽ sinh ra trong lòng xôlênôit một từ trờng đều có
cảm ứng từ
d
B
hớng dọc theo trục của ống dây. Do ống dây có trục vuông
góc với
0
B

d
B

0
B
.

Từ trờng tổng hợp trong lòng ống dây là từ trờng tổng hợp của
d
B

0
B
áp dụng nguyên lý chồng chất từ trờng ta có:

B
=
d
B
+
0

B


×