Tải bản đầy đủ (.pdf) (135 trang)

Xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.23 MB, 135 trang )



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN







ĐÀO MINH QUÂN






XÂY DỰNG NHÓM NGHIÊN CỨU
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GẮN KẾT GIỮA
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

(Nghiên cứu trường hợp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội)








LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ











Hà Nội – 2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN





ĐÀO MINH QUÂN





XÂY DỰNG NHÓM NGHIÊN CỨU
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GẮN KẾT GIỮA

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

(Nghiên cứu trường hợp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội)




Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.72



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ




Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Gia Lâm








Hà Nội – 2009



1
MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 19
1.1. Những khái niệm cơ bản 19
1.1.1. Khoa học 19
1.1.2. Hoạt động khoa học 22
1.1.3 Nguồn lực khoa học 22
1.1.4. Tổ chức khoa học 23
1.1.5. Nghiên cứu khoa học 23
1.1.6. Kết quả nghiên cứu khoa học 26
1.1.7. Hiệu quả nghiên cứu khoa học 26
1.1.8. Khái niệm nhóm 26
1.1.9. Hợp tác nghiên cứu 28
1.1.10. Nhóm nghiên cứu 29
1.2. Vai trò của việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo trong
trƣờng đại học 31
1.3. Mô hình đại học nghiên cứu 32
CHƢƠNG 2. NHỮNG LUẬN CỨ THỰC TẾ 33
2.1 Quan điểm của các nhà khoa học về xây dựng và phát triển nhóm nghiên
cứu 33
2.1.1 Những yếu tố quan trọng để xây dựng nhóm nghiên cứu. 34
2.1.2 Các hình thức hoạt động của nhóm nghiên cứu 40
2.1.3 Vai trò của nhóm nghiên cứu trong việc thúc đẩy sự gắn kết giữa nghiên
cứu khoa học và đào tạo sau đại học 42

2
2.1.4 Những yếu tố ảnh hƣởng đến sự hình thành, duy trì và phát triển nhóm

nghiên cứu 47
2.2 Đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của Trƣờng ĐHKHXH&NV 53
2.2.1 Tổng quan về Trƣờng ĐHKHXH&NV 53
2.2.2 Đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học từ góc nhìn nhóm nghiên cứu
55
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÓM NGHIÊN CỨU Ở TRƢỜNG ĐẠI
HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI. 88
3.1 Định hƣớng hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học gắn liền với các
nhóm nghiên cứu 88
3.2 Khai thác và đầu tƣ phát triển đội ngũ cán bộ khoa học mạnh cả về số
lƣợng, trình độ và năng lực. 92
3.3 Xây dựng cơ chế và các chính sách đồng bộ, phù hợp 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 100
PHỤ LỤC I 102
PHỤ LỤC II 124


3
QUY ƢỚC VIẾT TẮT

ĐHKHXH&NV: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội
KHCN: Khoa học công nghệ
QLNCKH&ĐTSĐH: Quản lý nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học


5
PHẦN MỞ ĐẦU



1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trƣờng đại học nói chung có hai chức năng chính là đào tạo và
nghiên cứu khoa học, hai chức năng này luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau để
nâng cao chất lƣợng đào tạo và nghiên cứu (đào tạo qua nghiên cứu, để
nghiên cứu). Đào tạo để nghiên cứu nhằm trang bị cho ngƣời học một lƣợng
kiến thức cơ bản cần thiết nhất của ngành, phƣơng pháp luận và những
phƣơng pháp cần thiết để sau khi tốt nghiệp ngƣời học có thể tiếp tục học tập,
học suốt đời để có khả năng giải quyết những vấn đề do thực tế đề ra - học để
giải quyết những vấn đề chƣa học. Đào tạo qua nghiên cứu là nguyên tắc quán
triệt xuyên suốt toàn bộ quá trình học tập của sinh viên. Ở các đại học đào tạo
theo tín chỉ, ngay từ khi vào trƣờng, ngƣời học đã phải làm quen với những
thao tác “nghiên cứu” nhƣ tìm hiểu chƣơng trình, lịch trình đào tạo để tự xác
định kế hoạch học tập cho mình. Trong quá trình học tập ngƣời học chủ động
sắp xếp kế hoạch để hoàn thành dần từng phần nội dung môn học, thông qua
các khâu: nghe giảng, đọc/tổng hợp tài liệu, viết và trình bày tham luận, tham
gia các cuộc semina… Xây dựng chiến lƣợc và kĩ năng học tập chính là
những phẩm chất cần có của một sinh viên đại học.
Lĩnh vực đào tạo khoa học xã hội và nhân văn cũng không nằm ngoài
mối quan hệ tƣơng hỗ giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo đó. Yêu cầu này
đƣợc thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng, chiến lƣợc phát triển khoa học
và công nghệ của chính phủ, Luật Giáo dục, Chiến lƣợc phát triển của
ĐHQGHN cũng nhƣ của Trƣờng ĐHKHXH&NV.
Đảng và Nhà nƣớc ta đã xác định hoạt động khoa học là một trong
những nội dung then chốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là một

6
trong những vấn đề cốt lõi trong công cuộc xây dựng đƣờng lối cách mạng xã
hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn phát triển khoa học và công nghệ từ năm 2001 – 2005,

Đảng và Nhà nƣớc tiếp tục khẳng định “phát triển khoa học và công nghệ
cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và
động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, đồng thời khẳng
định vai trò quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn trong việc giải đáp
các vấn đề lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển tạo cơ sở khoa
học cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã
hội, xây dựng con người, phát huy những di sản văn hoá dân tộc, sáng tạo
những giá trị văn hoá mới của Việt Nam”[12, tr.112].
Điều này đƣợc tiếp tục khẳng định trong chiến lƣợc phát triển khoa học
và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 ban hành kèm theo quyết định số
272/2003/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2003 của Thủ tƣớng Chính phủ.
Trong chiến lƣợc xây dựng ĐHQGHN trở thành trung tâm đào tạo đại
học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ đa ngành, đa
lĩnh vực, chất lƣợng cao đạt trình độ khu vực, quốc tế, Đảng bộ ĐHQGHN
khẳng định nhiệm vụ ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ thực tiễn là một
trong những mục tiêu quan trọng nhất của ĐHQGHN.
Đảng uỷ và Ban Giám đốc ĐHQGHN đã ban hành 2 văn bản quan
trọng, cụ thể hoá Chƣơng trình hành động của Chính phủ: một là, Kết luận
của Đảng uỷ ĐHQGHN về đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ góp
phần nâng cao chất lƣợng đào tạo và phục vụ xã hội của ĐHQGHN
(27/1/2003); hai là, Chƣơng trình hành động của ĐHQGHN thực hiện kết
luận của Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng khoá IX về khoa học và công nghệ
(17/4/2003)
Kết luận của Đảng uỷ ĐHQGHN khẳng định định hƣớng phát triển
theo mô hình đại học nghiên cứu của ĐHQGHN, đồng thời cũng xác định

7
những hƣớng ƣu tiên trong hoạt động khoa học và công nghệ trên các lĩnh vực
khoa học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn và khoa học ứng dụng.
Để đáp ứng đƣợc yêu cầu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong

giai đoạn mới, Đảng uỷ, Ban Giám đốc ĐHQGHN chỉ đạo tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ hơn nữa để tăng cƣờng năng lực và chất lƣợng công tác quản lý và
tổ chức các hoạt động khoa học - công nghệ; tập trung tăng cƣờng tiềm lực
khoa học và công nghệ, đặc biệt là nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ
khoa học và hiện đại hoá trang thiết bị; đổi mới phƣơng thức tổ chức nghiên
cứu khoa học, hƣớng tới việc hình thành các nhóm nghiên cứu, các khuynh
hƣớng và trƣờng phái khoa học mạnh; khai thác mọi nguồn lực để đa dạng
hoá và tăng cƣờng nguồn kinh phí đầu tƣ cho nghiên cứu khoa học; đẩy
nhanh ứng dụng kết quả nghiên cứu vào phục vụ đời sống.
Là một trong những đơn vị thành viên của ĐHQGHN, trong kế hoạch
phát triển của mình đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, Trƣờng
ĐHKHXH&NV cũng khẳng định đang từng bƣớc xây dựng, phát triển theo
định hƣớng một đại học nghiên cứu, nâng cao chất lƣợng đào tạo và phục vụ
các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc. Đối với một đại học nghiên
cứu thì chức năng nghiên cứu chiếm ƣu thế trong sứ mạng của nhà trƣờng,
nghĩa là nghiên cứu quyết định bản chất và nội dung của các hoạt động khác
nhƣ giảng dạy, học tập, phục vụ xã hội. Thực tế cho thấy, những đề tài nghiên
cứu khoa học lớn có tính liên ngành cao nhƣ đề tài cấp nhà nƣớc, đề tài trọng
điểm cấp bộ/cấp đại học quốc gia đều đƣợc thực hiện bởi các nhóm nghiên
cứu, thay vì cá nhân nghiên cứu độc lập. Những nghiên cứu đƣợc thực hiện
bởi nhóm nghiên cứu sẽ làm tăng cả số lƣợng và chất lƣợng của sản phẩm
nghiên cứu. Nghiên cứu là nỗ lực của cả tập thể trong đó có sự kết hợp giữa
nhiều đối tác, nhiều năng lực đa dạng. Do vậy thành công của nhóm nghiên
cứu đóng vai trò quyết định đối với một đại học nghiên cứu. Chính vì vậy, để
Trƣờng ĐHKHXH&NV phát triền thành một đại học nghiên cứu thì mục tiêu

8
trƣớc mắt là xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh. Đây cũng chính là giải
pháp nhằm tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và đào tạo, đặc biệt là
đào tạo sau đại học.

1.2. Trƣờng ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN là một cơ sở đào tạo đại học,
sau đại học và nghiên cứu khoa học, có chức năng đào tạo nguồn nhân lực
chất lƣợng cao ở các trình độ cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ về các ngành khoa
học cơ bản và ứng dụng thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Ngay từ
những ngày đầu thành lập trƣờng, Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Trƣờng
ĐHKHXH&NV đã hoạch định chiến lƣợc nhằm xây dựng nhà trƣờng mạnh
về tổ chức, có đội ngũ cán bộ trình độ chuyên môn cao, đáp ứng nhiệm vụ
chính trị mà Đảng và Nhà nƣớc giao. Mục tiêu của nhà trƣờng là “ trở
thành một đại học đứng đầu đất nước về khoa học xã hội và nhân văn, ngang
tầm với các trường đại học danh tiếng trong khu vực, phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Trong đó định hướng phát
triển nhà trường đến năm 2020 là tập trung xây dựng và phát triển một số
ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế trên cơ sở quốc tế hoá các chương
trình đào tạo, đẩy mạnh hoạt động học thuật và mở rộng quan hệ hợp tác với
các trường đại học đẳng cấp cao ở khu vực và trên thế giới”[18, tr.1].
Hiện nay, Trƣờng ĐHKHXH&NV đang trong quá trình chuyển đổi từ
phƣơng thức đào tạo theo niên chế sang phƣơng thức đào tạo theo tín chỉ.
Điều này tạo ra một sự thay đổi lớn về công tác tổ chức quản lý, hoạt động
đào tạo và kéo theo cả hoạt động nghiên cứu khoa học. Cũng từ sự thay đổi
này yêu cầu làm việc theo nhóm đƣợc đặt ra không chỉ trong sinh viên, học
viên sau đại học mà còn trong cán bộ giảng dạy, khi những môn học mới,
ngành học mới có xu hƣơng tích hợp. Vì vậy, việc xây dựng các nhóm nghiên
cứu nhằm gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo đang trở thành nhu cầu cấp
thiết.

9
1.3. Thực tế, khi chuyển sang phƣơng thức đào tạo theo tín chỉ, nhiều
chính sách của ĐHQGHN và của nhà trƣờng chƣa kịp thời điều chỉnh so với
những đòi hỏi của phƣơng thức đào tạo mới này. Bản thân phƣơng thức đào
tạo theo tín chỉ đã đòi hỏi đƣợc thể hiện trong Quy chế đào tạo của ĐHQGHN

và Quy định học vụ của Trƣờng trong hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên
cứu khoa học. Tuy nhiên, Nhà trƣờng chƣa có chính sách cụ thể, đặc biệt là
những quy định về sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại
học để phù hợp với phƣơng thức đào tạo mới này nhằm phát huy đƣợc thế
mạnh nhƣ nó vốn có. Quy chế đào tạo sau đại học do ĐHQGHN ban hành
năm 2007, có quy định về sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau
đại học [13, tr.8]. Tuy nhiên những quy định chƣa cụ thể, rõ ràng, chƣa bám
sát với thực tế tại mỗi đơn vị trực thuộc, đồng thời không có những văn bản
hƣớng dẫn đi kèm.
Một thực tế khác, những công trình nghiên cứu khoa học có chất lƣợng
cao vẫn còn rất khiêm tốn so với quy mô và tiềm năng của Trƣờng, tính từ
năm 2001 – 2004 có 133 đề tài cấp trƣờng, 57 đề tài cấp Đại học Quốc gia
đƣợc thực hiện. Hoạt động nghiên cứu khoa học chƣa lôi cuốn đƣợc nhiều cán
bộ giảng viên, học viên, sinh viên tham gia do chƣa nhận thức rõ đƣợc tầm
quan trọng của nghiên cứu trong giảng dạy và học tập, sự trễ hạn đề tài vẫn
còn diễn ra thƣờng xuyên, việc nghiên cứu còn mang tính thụ động, tính từ
năm 1995 – 2005 thì đề tài quá hạn cấp trƣờng chiếm 39%, đề tài quá hạn cấp
Đại học Quốc gia chiếm 50.45% và đề tài quá hạn cấp nhà nƣớc là 100%; số
đề tài cấp trƣờng, cấp đại học quốc gia phải chấm dứt hợp đồng chiếm khoảng
6%.
Từ những lý do nêu trên về tính tất yếu, cấp thiết và những tồn tại trong
việc xây dựng nhóm nghiên cứu, luận văn đi vào nghiên cứu cơ chế hoạt động
và tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả gắn kết giữa nghiên cứu khoa học

10
với đào tạo sau đại học trong điều kiện chuyển đổi phƣơng thức đào tạo theo
tín chỉ ở Trƣờng ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo, đặc biệt là đào tạo
sau đại học, đã đƣợc đặt ra khá nhiều trên các diễn đàn của các trƣờng đại

học. Nhiều báo cáo khoa học đã tập trung nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề
này, nhƣ:
- “Đổi mới cơ chế kết hợp giữa Nghiên cứu – Sản xuất – Đào tạo sau
đại học”[15, tr.52].
- “Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và sự tích hợp với hoạt
động đào tạo góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo trong các trƣờng đại
học”[15, tr.68].
- “Thông tin khoa học công nghệ góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo
và nghiên cứu khoa học”[14].
- “Mục tiêu - Giải pháp gắn kết đào tạo sau đại học với nghiên cứu
khoa học”[14].
- “Tăng cƣờng liên kết hoạt động nghiên cứu khoa học với đào tạo sau
đại học để góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo sau đại học ở Đại học Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh”[14].
- “Gắn chặt công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ trẻ”[2].
Trong các công trình nghiên cứu nêu trên, rất nhiều giải pháp đã đƣợc
đƣa ra nhằm nâng cao hiệu quả gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo
sau đại học. Nhìn chung, các giải pháp tập trung chủ yếu vào những nội dung
sau:
1. Nguồn lực
1.1. Kinh phí: Nguồn thu hiện nay của các trƣờng đại học chủ yếu là
ngân sách nhà nƣớc cấp và học phí, nguồn thu này hiện nay quá thấp so với
nhu cầu thực tế. Nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học đƣợc cấp một phần từ

11
nguồn học phí; một phần từ ngân sách cấp trực tiếp cho các đề tài cấp đại học
quốc gia, cấp nhà nƣớc, nhƣng nguồn kinh phí này chƣa đủ để tạo động lực
cho các nhà khoa học say mê nghiên cứu khoa học.
1.2. Nhân lực: Hiện nay các trƣờng đại học, cao đẳng đang thiếu giảng
viên, đặc biệt trong bối cảnh các trƣờng đại học, cao đẳng mới đang đƣợc

thành lập, ngoài ra các trƣờng còn phát triển thêm các chƣơng trình đào tạo
chất lƣợng cao, các chƣơng trình liên kết với nƣớc ngoài… Do vậy các trƣờng
đại học đang chú trọng thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, tuy nhiên do
chính sách đãi ngộ vẫn chƣa thu hút đƣợc ngƣời tài, một phần do yếu tố tài
chính. Hiện nay việc thiếu giảng viên do đó giảng viên quá tải với khối lƣợng
đào tạo nên không có quỹ thời gian cho nghiên cứu khoa học.
1.3. Đào tạo nguồn nhân lực:
Các học viên sau đại học và các nghiên cứu sinh làm luận án với các
quy định: Làm việc trong các nhóm nghiên cứu của thầy và gắn nội dung
nghiên cứu trong luận văn với các đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm
nghiên cứu
Đào tạo sau đại học từ các đề tài hợp tác quốc tế khuyến khích viết luận
văn luận án bằng tiếng nƣớc ngoài
2. Đổi mới cơ chế quản lý:
Chủ động trong việc xác định số lƣợng và hƣớng nghiên cứu của đào
tạo sau đại học theo các bƣớc: Các hội đồng chuyên ngành, Ban chủ nhiệm
các chƣơng trình nghiên cứu trọng điểm, các nhóm nghiên cứu, các phòng thí
nghiệm lớn xác định hƣớng nghiên cứu ƣu tiên trƣớc khi tuyển sinh, đề xuất
nhu cầu và khả năng đào tạo (số lƣợng và hƣớng nghiên cứu). Các phòng,
Ban chức năng đào tạo sau đại học trên cơ sở đó xác định các hƣớng chuyên
môn đào tạo sau đại học, hƣớng đề tài luận văn, luận án. Các đơn vị đào tạo
quyết định chỉ tiêu và tổ chức thi tuyển.

12
Đổi mới phƣơng pháp đánh giá đề tài theo hƣớng: cơ sở thẩm định các
nghiên cứu ứng dụng là các kết quả thực tế, cơ sở thẩm định các nghiên cứu
lý thuyết là các công trình công bố trên các tạp chí chuyên ngành, đặc biệt là
các tạp chí quốc tế. Không phân biệt hình thức sở hữu của các tổ chức nghiên
cứu và phát triển trong việc tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công
nghệ, cũng nhƣ trong mọi hoạt động khoa học và công nghệ nói chung.

Khắc phục tình trạng tách rời giữa nghiên cứu và giảng dạy. Tiến hành
đồng thời hai biện pháp: sáp nhập một số viện nghiên cứu và trƣờng đại học
lại với nhau, nhấn mạnh chức năng nghiên cứu của cán bộ giảng dạy và có cơ
chế đánh giá cụ thể.
3. Tăng cƣờng sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận quản lý hoạt động
khoa học và công nghệ và quản lý đào tạo sau đại học:
Trong công tác tuyển chọn đề tài nghiên cứu khoa học ƣu tiên cho
các tập thể đã, đang và sẽ tham gia đào tạo sau đại học.
Xây dựng các đề tài cấp đơn vị hay đề tài đặc biệt cho nghiên cứu
sinh và học viên cao học.
Xây dựng một cơ sở dữ liệu chung về các nhà khoa học theo chuyên
ngành, thƣ mục các đề tài nghiên cứu khoa học và các đề tài luận án sau đại
học để cung cấp thông tin cho việc phản biện đề tài, phản biện luận án, xét
duyệt tuyển chọn đề tài nghiên cứu khoa học hay đề tài luận án sau đại học.
4. Hoàn thiện các văn bản quy chế, chƣơng trình đào tạo:
- Xây dựng bộ tiêu chí chuẩn chất lƣợng giảng viên
- Xây dựng chuẩn giảng viên theo tiêu chí nghiên cứu khoa học
Tập trung kiện toàn chƣơng trình đào tạo đại học, sau đại học trong đó
tăng các học phần về nghiên cứu khoa học: nghiên cứu cá nhân, phƣơng pháp
luận nghiên cứu khoa học, quy định viết tiểu luận thay cho thi kết thúc môn,
giảm giờ lý thuyết, tăng giờ seminar, v.v

13
Ngoài ra một số bài báo khoa học cũng đã đề cập đến gắn kết giữa
nghiên cứu khoa học và đào tạo thông qua việc xây dựng các nhóm nghiên
cứu, trong đó phải kể đến một số bài viết sau:
“Nhóm nghiên cứu – yếu tố quyết định tới chất lượng của hoạt động
nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học”[7]
“Kinh nghiệm tổ chức duy trì và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh” [8].
Trong cả hai bài viết này các giáo sƣ đã gợi mở một số yếu tố rất quan

trọng trong việc tạo cơ sở hình thành các nhóm nghiên cứu, đặc biệt là các
nhóm nghiên cứu thực sự có tầm ảnh hƣởng khu vực và quốc tế. Đáng chú ý
là các yếu tố sau:
- Vai trò của ngƣời đứng đầu trong việc tạo dựng và phát triển nhóm
nghiên cứu. Yếu tố năng lực khoa học, năng lực tổ chức và sự nhiệt huyết
trong nghiên cứu khoa học là những yếu tố vô cùng quan trọng của ngƣời
đứng đầu.
- Có sự định hƣớng khoa học đúng, phù hợp với xu hƣớng quốc tế và
phục vụ thiết thực cho sự phát triển của Việt Nam
- Có đƣợc các điều kiện nghiên cứu phù hợp gồm các trang thiết bị và
nguồn thông tin, tƣ liệu đầy đủ, cập nhật
- Tập hợp đƣợc đội ngũ cán bộ có nhiệt huyết và hoài bão khoa học,
nhất là các cán bộ khoa học trẻ, các thực tập sinh sau tiến sĩ, nghiên cứu sinh,
học viên cao học
- Xây dựng và phát huy năng lực tập thể, tạo sự đoàn kết, nhất trí cao
trong mọi hoạt động khoa học.
- Sự kiên trì theo đuổi hƣớng nghiên cứu đã lựa chọn, quyết tâm vƣợt
qua các khó khăn về điều kiện làm việc, thậm chí là sức ép về mặt xã hội để
đạt đƣợc mục tiêu khoa học.
- Có mối quan hệ hợp tác tốt với các tổ chức trong nƣớc và nƣớc ngoài.

14
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các giáo sƣ đƣa ra thực tế mới là
quan điểm cá nhân, dựa trên cơ sở đánh giá những thành tựu đạt đƣợc từ
chính những thành công của nhóm nghiên cứu nơi các giáo sƣ đang công tác
và với phạm vi nhỏ.
Ngoài một số bài nghiên cứu ở trên thì hiện nay, vấn đề xây dựng nhóm
nghiên cũng đang đƣợc trƣờng Đại học Kinh tế, ĐHQGHN, đầu tƣ xây dựng
dự án và trình ĐHQGHN phê duyệt.
Trƣờng ĐHKHXH&NV từ khi đƣợc thành lập tháng 9/1995 đến nay

chƣa có một văn bản hoặc đề tài, dự án nghiên cứu khoa học nào đề cập đến
việc xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả gắn kết giữa nghiên
cứu khoa học và đào tạo sau đại học.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá quan điểm của nhà khoa học về cơ sở hình thành và phát
triển nhóm nghiên cứu, những yếu tố thúc đẩy cũng nhƣ ảnh hƣởng đến sự
hình thành, duy trì và phát triển nhóm, đồng thời đánh giá, phân tích vai trò
của nhóm nghiên cứu trong việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo
sau đại học.
- Đánh giá, phân tích thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của
Trƣờng ĐHKHXH&NV, trên cơ sở đó đánh giá, phân tích về hoạt động khoa
học của một số nhóm nghiên cứu của Trƣờng.
- Đề xuất giải pháp xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu
quả gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học của Trƣờng
ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học của Trƣờng
ĐHKHXH&NV.

15
4.2 Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu từ tháng 1 năm 2003 đến tháng 12 năm 2008; vì
trong khoảng 6 năm này, việc đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở
Trƣờng ĐHKHXH&NV đã đƣợc đặc biệt quan tâm. Đồng thời, việc lƣu trữ,
quản lý các công trình nghiên cứu khoa học đã đầy đủ hơn, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc thống kê số liệu phục vụ cho nghiên cứu của chúng tôi.
Với lý do trên, chúng tôi cho rằng thời gian nghiên cứu của đề tài từ
năm 2003 đến năm 2008 là thích hợp và đủ để chứng minh giả thuyết đặt ra.
5. Mô tả mẫu khảo sát

Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã khảo sát 123 nhà khoa học của
Trƣờng ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN bằng bảng câu hỏi, kết quả thu đƣợc
theo cơ cấu mẫu nhƣ sau:
- Về giới tính: 48,8% là nam, 51,2% là nữ
- Độ tuổi: + Dƣới 35 tuổi: 49,6%
+ Từ 35 đến 45 tuổi: 20,3%
+ Từ 45 tuổi trở lên: 30,1%
Độ tuổi trung bình trong mẫu ngẫu nhiên là 38 tuổi
- Thâm niên công tác:
+ Dƣới 8 năm: 40,1%
+ Từ 8 đến 15 năm: 26,7%
+ Từ 15 năm trở lên: 33,3%
- Học vị:
+ Cử nhân: 22,5%
+ Thạc sĩ: 45,8%
+ Tiến sĩ: 31,7%
- Chức danh:
+ Giảng viên: 72,4%
+ Giảng viên chính: 14,3%
+ Phó Giáo sƣ: 12,2%
+ Giáo sƣ: 1%

16
- Kết quả nghiên cứu trong 6 năm qua:
+ Dƣới 5 công trình nghiên cứu: 69%
+ Từ 5 đến 10 công trình nghiên cứu: 23,8%
+ Từ 10 công trình nghiên cứu trở lên: 7,2%
Số công trình nghiên cứu trung bình trong mẫu nghiên cứu của các nhà
khoa học trong 6 năm qua là 4 công trình
6. Câu hỏi nghiên cứu

Hoạt động khoa học của Trƣờng ĐHKHXH&NV, đặc biệt là hoạt động
khoa học của nhóm nghiên cứu có thực sự phát huy đƣợc hiệu quả? Sự thiếu
đồng bộ trong chính sách của nhà trƣờng cũng nhƣ sự thiếu đầu tƣ trong việc
xây dựng nhóm nghiên cứu có thực sự là nguyên nhân chính dẫn đến việc các
nhóm nghiên cứu chƣa phát huy đƣợc hiệu quả và chƣa có nhiều những nhóm
nghiên cứu mạnh? Đâu là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
sự hình thành và phát triển nhóm nghiên cứu, đặc biệt là những nhóm nghiên
cứu mạnh?
7. Giả thuyết nghiên cứu
7.1 Hoạt động khoa học của của Trƣờng ĐHKHXH&NV chƣa đạt
đƣợc những kết quả tƣơng xứng với nguồn lực khoa học hiện có, trong đó
hoạt động khoa học của các nhóm nghiên cứu chƣa phát huy đƣợc hiệu quả
trong việc tập trung các nguồn lực nghiên cứu để đạt đƣợc các kết quả nghiên
cứu khoa học có chất lƣợng cao.
7.2 Việc thiếu hệ thống chính sách đồng bộ, cũng nhƣ việc đầu tƣ xây
dựng nhóm nghiên cứu còn hạn chế là nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng
hoạt động khoa học của các nhóm nghiên cứu chƣa cao, cũng nhƣ sự thiếu
vắng những nhóm nghiên cứu, đặc biệt là những nhóm nghiên cứu mạnh.
7.3 Trong rất nhiều yếu tố thúc đẩy việc hình thành và phát triển nhóm
nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, có đƣợc ngƣời đứng đầu, có đƣợc các cơ chế,
chính sách phù hợp, đồng bộ và đƣợc định hƣớng bởi kế hoạch nghiên cứu

17
mang tính chiến lƣợc lâu dài là những yếu tố quyết định để xây dựng và phát
triển nhóm nghiên cứu, đặc biệt là những nhóm nghiên cứu mạnh.
8. Phƣơng pháp chứng minh giả thuyết
Đề tài sử dụng hai phƣơng pháp nghiên cứu là:
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Tổng hợp, phân tích số liệu
thống kê về các công trình nghiên cứu, số lƣợng cán bộ tham gia nghiên cứu,
kinh phí đầu tƣ cho nghiên cứu… của Trƣờng ĐHKHXH&NV.

- Phƣơng pháp điều tra phỏng vấn bằng bảng câu hỏi: Chúng tôi tiến
hành điều tra, phỏng vấn các chủ nhiệm đề tài, các cán bộ quản lý công tác
nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học của Trƣờng ĐHKHXH&NV.
9. Kết cấu của luận văn
I. Phần mở đầu
II. Phần nội dung của luận văn
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.2. Vai trò của việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo trong
trƣờng đại học
1.3. Mô hình đại học nghiên cứu
Chƣơng 2. Những luận cứ thực tế
2.1 Quan điểm của các nhà khoa học về xây dựng và phát triển nhóm nghiên
cứu
2.2 Đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của Trƣờng ĐHKHXH&NV
Chƣơng 3. Các giải pháp xây dựng nhóm nghiên cứu ở Trƣờng Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
3.1 Định hƣớng hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học gắn liền với các
nhóm nghiên cứu
3.2 Khai thác và đầu tƣ phát triển đội ngũ cán bộ khoa học mạnh cả về số
lƣợng, trình độ và năng lực

18
3.3 Xây dựng cơ chế và các chính sách đồng bộ, phù hợp
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo và trích dẫn
Phụ lục

19
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN


1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Khoa học [3]
1- Khoa học là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận
động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy:
Hệ thống tri thức ở đây đƣợc hiểu là hệ thống tri thức khoa học. Khoa
học trong trƣờng hợp này đƣợc hiểu nhƣ một hệ thống tĩnh tại các tri thức,
xem khoa học nhƣ một sản phẩm trí tuệ đƣợc tích lũy từ hoạt động tìm tòi,
sáng tạo của nhà nghiên cứu.
Khi nói tri thức khoa học các nhà nghiên cứu muốn phân biệt với tri
thức kinh nghiệm. Hai loại tri thức này có điểm chung là đều dựa trên các sự
kiện tồn tại khách quan, đều hƣớng tới nhận thức chân lý khách quan tuy
nhiên điểm khác của chúng là:
+ Tri thức kinh nghiệm:
Là những hiểu biết đƣợc tích luỹ một cách ngẫu nhiên trong đời sống
hàng ngày. Con ngƣời cảm nhận thế giới khách quan, chịu sự tác động của thế
giới khách quan, buộc phải xử lý những tình huống xuất hiện trong tự nhiên,
trong lao động và trong ứng xử. Từ quá trình cảm nhận và xử lý các tình
huống của con ngƣời những hiểu biết kinh nghiệm đƣợc tích luỹ chuyển dần
từ những hiểu biết về từng sự vật riêng lẻ đến những mối liên hệ mang tính hệ
thống.
Tri thức kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng trong đời sống. Nhờ tri
thức kinh nghiệm, con ngƣời có đƣợc những hình dung thực tế về các sự vật,
biết cách phản ứng trƣớc tự nhiên, biết ứng xử trong các quan hệ xã hội, tri
thức kinh nghiệm giúp con ngƣời giải quyết hàng loạt vấn đề nảy sinh trong
tự nhiên, xã hội để có thể tồn tại và phát triển.

20
Tri thức kinh nghiệm ngày càng đa dạng, phong phú, chúng chứa đựng
những mặt riêng biệt, đúng đắn, nhƣng chƣa thể đi sâu vào bản chất các sự

vật, do đó tri thức kinh nghiệm chỉ giúp cho con ngƣời phát triển đến một
khuôn khổ nhất định, không thể vƣợt khỏi những giới hạn về mặt sinh học của
chính mình. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm luôn là một cơ sở quan trọng, sơ
khởi cho sự hình thành các tri thức khoa học.
+ Tri thức khoa học:
Là những hiểu biết đƣợc tích luỹ một cách hệ thống nhờ hoạt động
nghiên cứu khoa học đƣợc vạch sẵn theo 1 kế hoạch có mục tiêu xác định
(khám phá, sáng tạo) và đƣợc tiến hành dựa trên 1 hệ thống phƣơng pháp
khoa học. Tri thức khoa học đƣợc phát triển từ tri thức kinh nghiệm, nhƣng tri
thức khoa học không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm, Tri
thức khoa học khác căn bản tri thức kinh nghiệm ở chỗ: nó là sự tổng kết từ
những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hoá thành cơ
sở lý thuyết về các liên hệ bản chất. Khi nói đến tri thức khoa học là nói đến
những kết luận về quy luật tất yếu đã đƣợc khảo nghiệm, kiểm chứng dựa trên
những luận cứ lý thuyết, quan sát hoặc thực nghiệm. Tri thức khoa học không
dừng lại ở việc phát hiện sự kiện, mà còn đi xa hơn trong việc giải thích các
sự kiện bằng các giải thuyết, các cơ sở lý thuyết đã đƣợc hình thành hoặc đề
ra những lý thuyết mới để giải thích các sự kiện.
2 Khoa học là một hình thái ý thức xã hội:
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm quan điểm,
tƣ tƣởng cùng với những tình cảm, tâm trạng, truyền thống của cộng đồng
xã hội nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai
đoạn phát triển nhất định.
Ý thức xã hội tồn tại trong những hình thái khác nhau. Những hình thái
chủ yếu của ý thức xã hội gồm: ý thức chính trị, tôn giáo, pháp quyền, đạo
đức, nghệ thuật và khoa học.

21
Với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học có mối quan hệ
tƣơng tác với các hình thái ý thức xã hội khác và hợp thành đời sống tinh thần

của xã hội. Triết học Mác cũng cho rằng các hình thái ý thức xã hội khác nhau
theo đối tƣợng và hình thức phản ánh, theo những chức năng xã hội và theo
tính độc đáo của quy luật phát triển. Theo đó, cũng với tƣ cách là một hình
thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tƣơng đối với các hình
thái ý thức xã hội khác.
Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tƣợng và
hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt.
- Kết luận của nghiên cứu khoa học là đúng nhƣng bối cảnh xã hội chƣa
cho phép ứng dụng
- Kết luận của nghiên cứu khoa học có thể đúng trong bối cảnh xã hội
này nhƣng chƣa phù hợp trong bối cảnh xã hội khác.
- Kết luận của nghiên cứu khoa học có thể có những điểm yếu, không
phù hợp với quy luật vận động của thực tế xã hội.
Với cách nhìn nhận nhƣ vậy sẽ tránh đƣợc những xung đột xã hội giữa
khoa học và các hình thái ý thức xã hội. Cuối cùng, với cách nhìn khoa học là
một hình thái ý thức xã hội dẫn đến một kết luận quan trọng trong quản lý
khoa học là: Tự do tƣ tƣởng trong khoa học.
3- Khoa học là một thiết chế xã hội
Đây là khái niệm xã hội học về khoa học đƣợc Price đƣa vào đầu thập
niên 1970 trong cuốn “Thuộc tính của khoa học”. Ông nói rằng: “Có lẽ khoa
học sẽ là 1 thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong một xã hội hiện đại”.
Thiết chế xã hội đƣợc hiểu là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực điều
khiển hành vi của con ngƣời trong xã hội.
Với tƣ cách là một thiết chế xã hội, khoa học đã thâm nhập vào mọi
lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện chức năng của một thiết chế xã hội:

22
- Định ra một khuôn mẫu hành vi lấy tính khoa học làm một thƣớc đo:
tác phong làm việc khoa học, tổ chức lao động khoa học, trình bày vấn đề có
tính khoa học.

- Luận cứ khoa học trở nên một đòi hỏi trong mọi quyết định sản xuất,
kinh doanh, tổ chức xã hội. Hàm lƣợng khoa học trong sản phẩm, trong công
nghệ trở nên một tiêu chuẩn phấn đấu, xem nhƣ đó là phƣơng tiện giành thế
cạnh tranh trên thị trƣờng.
- Khoa học đang ngày càng trở nên một phƣơng tiện biến đổi tận gốc rễ
mọi mặt của đời sống xã hội, hơn nữa, một nguyên tắc làm việc, một phong
cách ứng xử trong đời sống xã hội.
4- Khoa học là một hoạt động xã hội:
Với tƣ cách là một hoạt động xã hội, hoạt động khoa học định hƣớng
theo những mục đích cơ bản sau:
+ Phát hiện ra bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới
khách quan.
+ Sáng tạo các sự vật mới, phát triển các phƣơng tiện cải tạo thế giới.
1.1.2. Hoạt động khoa học
“Hoạt động khoa học bao gồm nghiên cứu khoa học, phổ biến và
chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học, các loại dịch vụ khoa học, như
dịch vụ thông tin, dịch vụ đảm bảo các nguồn lực và cơ sở hạ tầng cho nghiên
cứu khoa học”[5, tr.10].
1.1.3 Nguồn lực khoa học
“ Nguồn lực khoa học là các yếu tố đầu vào của nghiên cứu. Các yếu
tố này tạo nên sức mạnh của nghiên cứu và đảm bảo cho sự thực thi mọi ý
tưởng nghiên cứu

23
Nguồn lực cho nghiên cứu bao gồm: nguồn lực thông tin (tin lực),
nguồn lực tài chính (tài lực), nguồn lực con người (nhân lực), nguồn lực vật
tư (vật lực)”[5, tr.11].
1.1.4. Tổ chức khoa học
Tổ chức khoa học là thuật ngữ đƣợc sử dụng với hai nghĩa[5, tr.11]:
- Tổ chức khoa học là một tập hợp hoạt động (sự tổ chức) nhằm liên kết

các yếu tố của nguồn lực khoa học.
- Tổ chức khoa học là một thực thể không gian (cái tổ chức), trong đó
nhân lực đƣợc sắp sếp theo cấu trúc xác định, đƣợc phân chia chức năng và
đƣợc liên kết theo một trật tự xác định do trình tự của hoạt động khoa học chi
phối.
1.1.5. Nghiên cứu khoa học [5, tr.16]
1- Định nghĩa
Ở nƣớc ta hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều định nghĩa
khác nhau về nghiên cứu khoa học, khái niệm này vẫn chƣa đƣợc hiểu thống
nhất. Với luận văn “Xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả gắn
kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học” (nghiên cứu trƣờng hợp
Trƣờng ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN) chúng tôi sử dụng định nghĩa về nghiên
cứu khoa học sau:
“ Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm
kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật,
phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới
và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới”.
2- Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học
Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự
vật mà khoa học chƣa hề biết đến. Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt đặc điểm

24
khác của nghiên cứu khoa học, mà ngƣời nghiên cứu cũng nhƣ ngƣời quản lý
nghiên cứu cần quan tâm xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phƣơng pháp luận
nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu. Giáo sƣ Vũ Cao Đàm đã đƣa ra một số đặc
điểm của nghiên cứu khoa học nhƣ sau:
a. Tính mới:
b. Tính tin cậy:
c. Tính thông tin
d. Tính khách quan

e. Tính rủi ro
f. Tính kế thừa
g. Tính cá nhân
h. Tính trễ trong áp dụng
3- Phân loại nghiên cứu khoa học [4, tr.19]
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học. Trong phạm vi khuôn
khổ của đề tài chúng tôi đề cập đến cách phân loại theo giai đoạn nghiên cứu
đƣợc đƣa ra trong cuốn “Phƣơng pháp luận nghiên cứu khoa học” của
PGS.TS Vũ Cao Đàm.
Theo các giai đoạn nghiên cứu, ngƣời ta phân chia thành nghiên cứu cơ
bản; nghiên cứu ứng dụng và triển khai.
a. Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính,
cấu trúc, động thái các sự vật, tƣơng tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ
giữa sự vật với các sự vật khác. Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có thể là các
khám phá, phát hiện, phát minh dẫn đến hình thành một hệ thống lý thuyết có
giá trị tổng quát. Nghiên cứu cơ bản đƣợc phân thành hai loại: Nghiên cứu cơ
bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hƣớng.

×