Tải bản đầy đủ (.pdf) (185 trang)

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2006

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 185 trang )

ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
________________________________





NGUYễN ĐìNH QUỳNH






ĐảNG CộNG SảN VIệT NAM LãNH ĐạO HOạT ĐộNG
KINH Tế ĐốI NGOạI Từ NĂM 1986 ĐếN NĂM 2006







LUậN áN TIếN Sĩ LịCH Sử











Hà Nội - 2014
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
________________________________




NGUYễN ĐìNH QUỳNH




ĐảNG CộNG SảN VIệT NAM LãNH ĐạO HOạT ĐộNG
KINH Tế ĐốI NGOạI Từ NĂM 1986 ĐếN NĂM 2006



Chuyên ngành:Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 62 22 56 01




LUậN áN TIếN Sĩ LịCH Sử




NGƯờI HƯớNG DẫN KHOA HọC:
PGS. TS TRầN KIM ĐỉNH



Hà Nội - 2014


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS. TS Trần Kim Đỉnh.
Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan. Các tài
liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận án



Nguyễn Đình Quỳnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN 12
Chƣơng 1. ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1995 29
1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo đổi mới hoạt động kinh tế đối

ngoại của Đảng 29
1.1.1. Khái quát về hoạt động kinh tế đối ngoại trước năm 1986 29
1.1.2. Đặc điểm tình hình trong giai đoạn mới 39
1.2. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại của Đảng 41
1.2.1. Chủ trương đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại của Đảng 41
1.2.2. Đảng chỉ đạo đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại 47
1.3. Đánh giá những thành tựu và hạn chế về sự lãnh đạo của Đảng 55
1.3.1. Thành tựu 55
1.3.2. Hạn chế 60
Tiểu kết chƣơng 1 62
Chƣơng 2. ĐẢNG LÃNH ĐẠO MỞ RỘNG, NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006 65
2.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trƣơng của Đảng 65
2.1.1. Tình hình thế giới và trong nước 65
2.1.2. Chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại
của Đảng 70
2.2. Đảng chỉ đạo mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại 78
2.2.1. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất - nhập khẩu 78
2.2.2. Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài 85
2.2.3. Đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài 85
2.2.4. Hợp tác khoa học - kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và các hoạt động
dịch vụ thu ngoại tệ 90
2.3. Đánh giá những thành tựu và hạn chế về sự lãnh đạo của Đảng 93
2.3.1. Thành tựu 93
2.3.2. Hạn chế 98
Tiểu kết chƣơng 2 101
Chƣơng 3. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 103
3.1. Một số nhận xét 103
3.1.1. Đảng nhận thức ngày càng rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động kinh tế
đối ngoại 103

3.1.2. Không ngừng hoàn thiện chủ trương về hoạt động kinh tế đối ngoại 106
3.1.3. Đảng chủ trương phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại đi đôi với giữ
vững tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế 109
3.1.4. Bảo đảm tính đồng bộ trong chỉ đạo các lĩnh vực của hoạt động kinh tế
đối ngoại, nhưng chú trọng những lĩnh vực trọng điểm 111
3.1.5. Một số hạn chế trong hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện 116
3.2. Một số kinh nghiệm 125
3.2.1. Chú trọng tính thống nhất trong chủ trương về hoạt động kinh tế đối
ngoại với chủ trương cải cách kinh tế 125
3.2.2. Hoạch định chủ trương về hoạt động kinh tế đối ngoại phù hợp với đặc
điểm kinh tế khu vực và thế giới 128
3.2.3. Hoạch định chủ trương về kinh tế đối ngoại gắn với yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng 131
3.2.4. Bảo đảm nguyên tắc độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa
trong lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại 133
3.2.5. Chú trọng các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền
kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế đối ngoại 136
Tiểu kết chƣơng 3 139
KẾT LUẬN 142
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN 145
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
PHỤ LỤC


BẢNG QUY ƢỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ban Chấp hành Trung ương
: BCHTƯ
Chủ nghĩa xã hội

: CNXH
Công nghiệp hóa
: CNH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
: CNH, HĐH
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
: APEC
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
: ASEAN
Kinh tế đối ngoại
: KTĐN
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
: AFTA
Nhà xuất bản
: Nxb
Tổ chức Thương mại Thế giới
: WTO
Tổng sản phẩm trong nước
: GDP
Trang
: tr.
Tư bản chủ nghĩa
: TBCN
Vốn đầu tư trực tiếp
: FDI
Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
: ODA
Xã hội chủ nghĩa
: XHCN


7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), cách mạng khoa học - công
nghệ trên thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tạo ra những bước nhảy vọt về chất,
thúc đẩy sản xuất vật chất, tạo ra nhiều ngành kinh tế mới. Nền sản xuất vật chất và
đời sống xã hội của các nước trong cộng đồng quốc tế diễn ra quá trình quốc tế hóa,
toàn cầu hóa sâu sắc. Toàn cầu hóa kinh tế nổi lên như một xu hướng định hướng,
dẫn dắt quá trình phát triển của thế giới. Mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến xu
thế mở cửa và hội nhập của mỗi quốc gia vào cộng đồng quốc tế, đòi hỏi các quốc
gia phải cải cách thể chế và cơ cấu lại nền kinh tế để có sức mạnh trong cạnh tranh.
Đây là quá trình mang lại những cơ hội và xung lực cho phát triển, đồng thời cũng
đặt ra những thách thức gay gắt đối với nền kinh tế tất cả các nước, trước hết là các
nước đang phát triển và chậm phát triển.
Khi toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan và cách mạng khoa học -
công nghệ trở thành động lực của sự phát triển, thì hoạt động kinh tế đối ngoại
(KTĐN) ngày càng khẳng định là chỗ dựa thiết yếu, kênh truyền dẫn đến nền kinh
tế thế giới nhanh và mạnh nhất.
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong hoàn cảnh một nước
nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kinh tế, kỹ thuật lạc hậu, trình độ phát triển
xã hội thấp, do đó, việc tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài có tầm quan trọng đặc
biệt. Phát triển KTĐN trở thành một trong những định hướng lớn của nền kinh tế
quốc dân, qua đó, Việt Nam mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút vốn
đầu tư nước ngoài, tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, phát triển các lĩnh vực
dịch vụ và đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài. Nhu cầu đó càng trở nên bức xúc trước
nguy cơ ngày càng tụt hậu xa hơn về kinh tế so với khu vực và thế giới.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng chủ trương tập trung nhiều nguồn lực cho
việc đổi mới, mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động KTĐN. Văn kiện Đại hội Đảng
thời kỳ đổi mới, có phần đánh giá thực tiễn trước khi xác định phương hướng,
nhiệm vụ của hoạt động KTĐN, nêu rõ những tư tưởng chỉ đạo, phương châm và

cách thức thực hiện. Thời kỳ này Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết có liên quan
và Nghị quyết chuyên đề về hoạt động KTĐN như: Nghị quyết số 13 - NQ/TW của
Bộ Chính trị năm 1988, Nghị quyết số 06 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương
8
(BCHTƯ) Đảng (khóa VI) năm 1989, Nghị quyết 03 - NQ/TW của BCHTƯ Đảng
(khóa VII) năm 1992, Nghị quyết số 01/NQ - TW của Bộ Chính trị năm 1996, Nghị
quyết số 07 - NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2001. Các Văn kiện của Đảng gắn việc
đổi mới, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động KTĐN với “chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế” là một bước phát triển về lý luận, vừa kế thừa những luận
điểm ở các Đại hội trước, vừa là bước hoàn thiện có tính đột phá nhằm đáp ứng đòi
hỏi của sự nghiệp cách mạng và bản thân nền kinh tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào kinh tế quốc tế, góp phần tích cực
thúc đẩy kinh tế - xã hội thoát ra khỏi khủng hoảng và có bước phát triển ổn định,
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), thực hiện “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, việc hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực
hiện của Đảng về hoạt động KTĐN có những hạn chế. Việc hoạch định chủ trương của
Đảng về KTĐN có phần chậm trễ, chưa có chiến lược tổng thể quốc gia về KTĐN,
chưa có lộ trình mở cửa từng lĩnh vực cụ thể của hoạt động KTĐN. Sự chỉ đạo, điều
hành hoạt động KTĐN còn bất cập. Khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế còn yếu,
thiếu sức cạnh tranh, nhập siêu lớn. Nếu không nhanh chóng tháo gỡ, khắc phục những
hạn chế nêu trên, rất có thể hoạt động KTĐN rơi vào tình trạng trì trệ, mất cân đối,
không thể trở thành cánh tay nối dài của kinh tế trong nước, điều đó sẽ ảnh hưởng đến
toàn bộ nền kinh tế, đến nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Như vậy, một công trình tổng kết một cách hệ thống, toàn diện những chủ
trương của Đảng đối với hoạt động KTĐN, đánh giá những thành công, hạn chế, rút
kinh nghiệm để khắc phục và phát triển là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn sâu sắc. Với những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn chủ đề “Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2006”
làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Làm sáng tỏ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động KTĐN
từ năm 1986 đến năm 2006; rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu để vận
dụng vào thực tiễn hiện nay.
9
2.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những nhân tố tác động và nhu cầu cấp thiết về đổi mới hoạt động
KTĐN; phân tích yêu cầu mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động KTĐN từ năm
1986 đến năm 2006.
- Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo đối với hoạt động KTĐN của Đảng từ
năm 1986 đến năm 2006.
- Rút ra những nhận xét và kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt
động KTĐN những năm 1986 - 2006.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với hoạt động KTĐN, bao gồm những chủ trương về hoạt động KTĐN và
những giải pháp, biện pháp Đảng đề ra trong quá trình hiện thực hóa chủ trương.
3.2. Phạm vi
Về nội dung khoa học:
Luận án tập trung nghiên cứu quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng đối
với hoạt động KTĐN và những giải pháp, biện pháp lớn của Đảng nhằm thực hiện
chủ trương. Trong đó, nội dung chính của hoạt động KTĐN bao gồm:
Toàn bộ những hoạt động về hợp tác đầu tư với nước ngoài; các hoạt
động ngoại thương, xuất nhập khẩu; các hoạt động hợp tác về khoa
học kỹ thuật, chuyển giao khoa học kỹ thuật - công nghệ với nước
ngoài; các hoạt động dịch vụ nhằm thu ngoại tệ như: du lịch quốc tế,
bảo hiểm quốc tế, vận tải quốc tế [12, tr. 13-14].
Về thời gian: Luận án có mốc mở đầu nghiên cứu là năm 1986 (Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam mở ra một bước ngoặt rất
quan trọng cho quá trình đổi mới kinh tế) và mốc kết thúc là năm 2006 (năm diễn ra
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam; năm Việt Nam
giành được nhiều thành tựu nổi bật nhất về KTĐN sau 20 năm kiên trì đổi mới).
Tuy nhiên, để có cái nhìn tiếp nối và tổng thể, luận án có đề cập đến hoạt động
KTĐN trước năm 1986 và sau năm 2006 (ở mức độ nhất định).
10
Về không gian: Trong không gian của chủ thể thực hiện hoạt động KTĐN
(Việt Nam) với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới có sự liên quan,
tương tác.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Để thực hiện luận án, tác giả dựa vào các nguồn tư liệu sau:
- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước.
- Báo cáo tổng kết của các cơ quan Nhà nước về kinh tế, kinh tế - xã hội,
hoạt động KTĐN được lưu trữ ở Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành.
- Công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã được công bố ở trong và
ngoài nước đề cập hoặc liên quan đến đề tài.
- Niên giám thống kê.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, luận án được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp lịch sử, phương pháp
lôgíc và các phương pháp cơ bản khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê,
so sánh.
Để xử lý các sự kiện, con số, với mục đích hệ thống hóa, khái quát hóa các
chủ trương của Đảng về đổi mới, đẩy mạnh phát triển hoạt động KTĐN, luận án sử
dụng các phương pháp so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa.
Luận án cũng đi sâu, làm rõ những sự kiện chủ yếu, quan trọng, phản ánh
quá trình đổi mới, phát triển hoạt động KTĐN dưới tác động các chủ trương của
Đảng, các chính sách của Nhà nước bằng phương pháp lịch sử (phương pháp đồng

đại, phương pháp lịch đại), phương pháp phân tích, đối chiếu, thống kê
Để luận giải và rút ra những kinh nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận và thực
tiễn, luận án sử dụng các phương pháp lôgíc - lịch sử, so sánh và hệ thống hóa, trừu
tượng hóa.
Một cách tổng quát, luận án được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp của
khoa học lịch sử, ngoài ra, có kết hợp với các phương pháp liên ngành khác. Các
phương pháp trên được vận dụng phù hợp với từng nội dung của luận án.
11
5. Đóng góp khoa học của luận án
- Hệ thống hóa, làm rõ những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với
hoạt động KTĐN từ năm 1986 đến năm 2006.
- Dựng lại một cách khách quan thực trạng hoạt động KTĐN Việt Nam
những năm 1986 - 2006 dưới sự lãnh đạo của Đảng; phân tích, chỉ ra thành tựu, hạn
chế, nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động KTĐN;
trên cơ sở đó, đúc rút một số kinh nghiệm từ thực tiễn 20 năm Đảng lãnh đạo hoạt
động KTĐN.
- Luận án là tài liệu tham khảo và có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng
dạy về lịch sử KTĐN Việt Nam và những môn học có liên quan.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến
đề tài, danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
Chương 1. Đảng lãnh đạo đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986
đến năm 1995.
Chương 2. Đảng lãnh đạo mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối
ngoại từ năm 1996 đến năm 2006.
Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm.
12
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN


KTĐN của một quốc gia là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật,
công nghệ của một quốc gia nhất định với các quốc gia còn lại hoặc với các tổ chức
kinh tế quốc tế khác, được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển
trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế ngày càng
sâu rộng. Hoạt động KTĐN là một trong những hoạt động quan trọng của nền kinh
tế mỗi quốc gia, là một lĩnh vực phong phú và đa dạng, có kết cấu rộng và phức tạp,
bao hàm những đặc trưng cơ bản: một là, KTĐN là quan hệ kinh tế với bên ngoài;
tự bản thân tên gọi của nó đã khẳng định đó là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa
học - công nghệ mà chủ thể là một quốc gia với các quốc gia khác và các tổ chức
kinh tế quốc tế cho dù quan hệ đó tiến hành trong nước hay ngoài lãnh thổ của
mình. Đặc trưng này làm cho KTĐN thành thực thể kinh tế có cơ cấu nhiều tầng
nấc, nhiều cấp độ quan hệ: Chính phủ, các địa phương, thậm chí cá nhân với nhau
nếu hội đủ điều kiện theo quy định pháp luật của từng quốc gia; hai là, KTĐN là
lĩnh vực có nội dung rộng lớn, thể hiện dưới nhiều hình thức hoạt động có liên quan
chặt chẽ với nhau, tạo nên một thể thống nhất, qua đó xác định vị trí nền kinh tế của
mỗi quốc gia trong hệ thống kinh tế thế giới.
Những năm đầu đổi mới, hoạt động KTĐN Việt Nam là một trong những
“kênh” cơ bản đưa nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng. Cũng vì lẽ đó, KTĐN, hoạt
động KTĐN của Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt
động KTĐN là một trong những chủ đề thu hút được sự quan tâm của đông đảo các
nhà khoa học, của giới nghiên cứu. Bằng các phương pháp tiếp cận khác nhau, các
công trình nghiên cứu về hoạt động KTĐN trong thời gian này tập trung trong các
sách chuyên khảo, các luận án, các bài báo và đề tài nghiên cứu khoa học. Khảo cứu
các công trình nghiên cứu có liên quan hoặc trực tiếp về hoạt động KTĐN dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể chia thành những nhóm sau:
1. Nhóm các công trình nghiên cứu có đề cập đến hoạt động kinh tế
đối ngoại
Năm 1988, tác giả Lê Hồng Phục và Đỗ Đức Định viết cuốn “Một số vấn đề
kinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển châu Á” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà

13
Nội). Sau khi mô tả và phân tích một số nội dung chủ yếu trong hoạt động KTĐN của
các nước đang phát triển ở châu Á, các tác giả cho rằng, hầu hết các nước đang phát
triển ở châu Á coi chiến lược mở cửa với bên ngoài là một trong những động lực chủ
yếu để tăng trưởng kinh tế, xu hướng tự do hóa KTĐN ngày càng tăng lên (ngoại
thương và đầu tư nước ngoài). Đó đồng thời cũng là cơ sở để các tác giả đi tới kết
luận: Cho dù những dự đoán về tương lai còn rất khác nhau, song nhìn chung đều có
thể nhất trí rằng, xu hướng mở cửa và tự do hóa KTĐN sẽ chi phối những đường nét
căn bản chính sách phát triển kinh tế của mọi quốc gia trong khu vực và đem lại cho
họ niềm hy vọng lớn lao vào sự thịnh vượng kinh tế của kỷ nguyên châu Á.
Trong sách “Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu: Kinh nghiệm của ASEAN”
(Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992), tác giả Mohamed Ariff và Hal Hill đưa ra
quan điểm: Trong gần 3 thập kỷ tồn tại, tuy thời điểm có khác nhau, song nhìn chung
các nước ASEAN lần lượt áp dụng hai chiến lược CNH: CNH thay thế nhập khẩu
vào thập kỷ 60 và CNH hướng về xuất khẩu từ thập kỷ 70. Nhờ những đóng góp của
hoạt động KTĐN mà kinh tế các nước ASEAN tăng trưởng từ 7% đến 9% trong suốt
hai thập kỷ qua. Quá trình trên của các nước ASEAN để lại nhiều kinh nghiệm cho
các nước đang phát triển, đẩy mạnh phát triển KTĐN.
“Chính sách kinh tế đối ngoại của các nước châu Á - Thái Bình Dương thời
kỳ sau Chiến tranh lạnh” là bài báo của tác giả Bùi Tất Thắng (Tạp chí Nghiên cứu
Quốc tế, số 6, 1995). Bài viết cho rằng những thay đổi trong chính sách KTĐN của
các nước trên thế giới nói chung cũng như của các nước khu vực châu Á - Thái
Bình Dương nói riêng “đều bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng dẫn đến sụp đổ của
Đông Âu và Liên Xô cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90” [116, tr. 26]. Có thể thấy hai
xu hướng lớn trong việc điều chỉnh chính sách KTĐN của các nước châu Á - Thái
Bình Dương: một là, coi chiến lược mở cửa với bên ngoài là một trong những động
lực chủ yếu của sự tăng trưởng; Hai là, xu hướng tự do hóa các hoạt động KTĐN
ngày càng tăng lên.
Năm 1998, Nxb Đại học Oxford, Anh, xuất bản cuốn “The Role of
Government in East Asian Economic Development: Comparative Institutional

Analysis” (Vai trò của Chính phủ trong phát triển kinh tế Đông Á: Phân tích thể chế
so sánh) của tập thể tác giả Masahiko Aoki, Hyung - Ki Kim và Masahiro Okuno -
Fujiwara. Cuốn sách giải thích “điều kỳ diệu của Đông Á” để tìm ra sự đa dạng của
14
các nền kinh tế khác nhau ở Đông Á, cũng như tính cần thiết về sự can thiệp của
Chính phủ các nước trong mối quan hệ kinh tế với bên ngoài.
Bài viết “APEC - những ưu, nhược của sự hội nhập” (Tạp chí Thông tin
khoa học xã hội, số 4, 1998) của tác giả Arkhipov nghiên cứu về APEC với tư cách
là một thể chế kinh tế quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Arkhipov cho biết:
APEC chiếm hơn 1/2 GNP của thế giới và khoảng 80% khối lượng mậu dịch, là
mối quan tâm lớn trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia ở châu Á -
Thái Bình Dương. Tác giả Arkhipov kết luận: Hội nhập APEC không chỉ là xu thế
khách quan, mà là thực tiễn đang diễn ra với những mặt tích cực và hạn chế đan xen
phức tạp. Biết tận dụng những cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để đẩy lùi thách thức,
tạo ra cơ hội mới lớn hơn; ngược lại, nếu như không biết chớp thời cơ sẽ nhanh
chóng bị loại khỏi cuộc chơi.
Trong chuyên khảo “The Four Asian Tigers: Economic Development and the
Global Political Economy” (Bốn con hổ châu Á: Phát triển kinh tế và kinh tế chính
trị toàn cầu, Nxb Emerald, Anh, 1999), nhà nghiên cứu Eun Mee Kim phân tích bối
cảnh địa chính trị và kinh tế trong chiến lược CNH hướng về xuất khẩu khu vực
châu Á. Thông qua việc so sánh bốn quốc gia đang trỗi dậy được ví với bốn con hổ
(Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore) - tác giả giải thích tại sao nền kinh
tế của các quốc gia nói trên thành công; từ đó, đúc rút một số kinh nghiệm phát triển
kinh tế cho các quốc gia khác.
“The Role of Foreign Direct Investment in East Asian Economic
Development” (Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế
Đông Á) là cuốn sách của tập thể tác giả Takatoshi Ito và Anne O. Krueger, Nxb
Đại học Chicago, Mỹ, 2000. Các tác giả chỉ ra trào lưu sử dụng vốn FDI dài hạn
tăng lên đáng kể những năm 1990. Trong thực tế, nhiều nhà chính sách xem vốn
nước ngoài là một nguồn tài nguyên cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế. Tác động

của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực Đông Á cho phép khám phá cấu
trúc tổng thể vốn FDI của từng quốc gia.
Tác giả Masahisa Fujita viết cuốn “Economic Integration in Asia and India”
(Hội nhập kinh tế ở châu Á và Ấn Độ), Nxb Palgrave Macmillan, Mỹ, 2008. Tác giả
Masahisa Fujita là Chủ tịch Viện Kinh tế Phát triển Nhật Bản (JETRO). Theo tác
giả: Trong dòng chảy của toàn cầu hóa kinh tế thế giới, hội nhập kinh tế về mặt thể
15
chế của EU và Mỹ thực chất không bằng một số nước ở châu Á, bao gồm Nhật Bản,
Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước ASEAN. Ngoài ra, Ấn Độ cũng có những bước
đi mạnh mẽ trong hội nhập kinh tế. Cuốn sách trình bày một tư duy khác về hội
nhập kinh tế châu Á.
Năm 2010, Nxb Routledge, Mỹ, xuất bản cuốn sách “The Future of Asian
Trade and Growth: Economic Development with the Emergence of China” (Tương
lai của tăng trưởng và thương mại châu Á: Phát triển kinh tế với sự xuất hiện của
Trung Quốc) của tác giả Linda Yueh. Cuốn sách phân tích một cách toàn diện các
xu hướng của thương mại và tăng trưởng kinh tế ở châu Á, định hướng phát triển
trong tương lai. Ngoài ra, cuốn sách còn phân tích về tầm quan trọng của chiến lược
phát triển hướng về xuất khẩu ở khu vực châu Á và mô hình của Trung Quốc (đặc
biệt từ khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001).
Năm 2012, tác giả Anthony D'Costa chủ biên cuốn“Globalization and
Economic Nationalism in Asia” (Toàn cầu hóa và chủ nghĩa dân tộc trong kinh tế ở
châu Á), Nxb Đại học Oxford, Anh. Cuốn sách cho rằng: Bằng các cách khác nhau
chính phủ châu Á theo đuổi chủ nghĩa dân tộc kinh tế ngay cả khi họ đã hội nhập
với nền kinh tế thế giới. Cuốn sách phủ nhận quan điểm cho rằng: Trong toàn cầu
hóa, vai trò của Nhà nước trở nên dư thừa, không thể can thiệp vào nền kinh tế. Một
số quốc gia trong khu vực châu Á (bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc,
Singapore, Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á) đang rất năng động trong việc định
hình thương mại, đầu tư, công nghệ, công nghiệp và tài chính. Họ cùng minh họa
cho lý do tại sao các nước thực hành chủ nghĩa dân tộc trong kinh tế ngay cả khi họ
nhiệt tình đón nhận tiến trình toàn cầu hóa và tự do hóa.

Nhìn chung, các công trình trên đi sâu phân tích cơ sở hình thành, nội dung
của quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và hoạt động kinh doanh quốc tế nói riêng
(đa số các học giả, chuyên gia nghiên cứu nước ngoài gọi hoạt động KTĐN là hoạt
động kinh doanh quốc tế). Các tác giả cho rằng: Do tính chất quốc tế hóa đời sống
kinh tế, sự phát triển lực lượng ngày càng mạnh mẽ, phân công lao động và trao đổi
nhanh chóng vượt khỏi phạm vi quốc gia, chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất trở
thành yêu cầu của sự phát triển. Vì thế, mở rộng phát triển KTĐN trở thành xu
hướng tất yếu. Một số ẩn phẩm phân tích hoàn cảnh tự nhiên, lịch sử, xã hội của
một số nước châu Á. Những điểm chung, riêng của các nước này trong quá trình
16
phát triển KTĐN; đồng thời, nhấn mạnh bối cảnh vào thập kỷ 70, khi các nước này
bắt đầu thực hiện chiến lược CNH hướng về xuất khẩu và những yếu tố tạo nên
thuận lợi, thôi thúc các nước này mở cửa phát triển KTĐN. Một số công trình tập
trung phân tích những vấn đề cơ bản của nền kinh tế thế giới hiện nay, chiến lược
mở cửa của các nước NIEs châu Á, so sánh để làm rõ một số nội dung trong các
hoạt động KTĐN của các quốc gia đó.
Những ấn phẩm của các học giả trên thế giới đã dày công nghiên cứu về mối
quan hệ kinh tế quốc tế, hoạt động kinh doanh quốc tế từ nhiều cách tiếp cận và
phương diện khác nhau. Một số cuốn sách, bài báo được in và lưu hành ở nước
ngoài, một số được dịch ra tiếng Việt và lưu hành ở Việt Nam. Những tài liệu này
giúp tác giả có được nhận thức phong phú hơn, nhất là tiếp cận dưới góc nhìn của
người nước ngoài về kinh doanh quốc tế của các nước ở châu Á, Đông Nam Á; tầm
quan trọng của quá trình mở rộng, nâng cao hiệu quả của kinh doanh quốc tế. Liên
kết kinh tế, nhất là liên kết kinh tế thông qua hoạt động KTĐN là yêu cầu khách
quan của sự phát triển.
2. Nhóm các công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động kinh tế đối
ngoại ở Việt Nam
Tác giả Ngô Bá Thành có bài viết “Những đòi hỏi của ngày nay đối với tư
duy kinh tế mới trong hoạt động kinh tế đối ngoại” (Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số
4, 1987); trong đó, tác giả chỉ rõ: Khi có sự đấu tranh giữa các nước XHCN với

TBCN phải coi trọng trước hết sự phân công lao động quốc tế XHCN. Điều này thể
hiện sự liên kết giữa các thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV). Sự hợp
tác này là sự hợp tác anh em, giúp đỡ lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Đó là sự
liên minh kinh tế XHCN với mục đích thúc đẩy quá trình xích lại gần nhau về trình
độ kinh tế của các nước trong cộng đồng. Đó cũng là mối quan hệ về sự phân công
lao động và sự hợp tác với các nước XHCN. Không có sự phân công và hợp tác này
thì không thể sử dụng được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế XHCN thế giới.
Năm 1991, Nxb Sự thật xuất bản cuốn “Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại
Việt Nam” do tác giả Nguyễn Thế Uẩn chủ biên. Cuốn sách trình bày cô đọng và
súc tích kết quả nghiên cứu của tác giả về KTĐN Việt Nam giai đoạn 1986 - 1990.
Xác định luận cứ khoa học tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý
KTĐN, tạo điều kiện tiếp tục đổi mới sau những bước đi đầu tiên. Trong những
17
năm tới, nhiệm vụ của KTĐN là góp phần đạt cho được mục tiêu “vượt qua những
khó khăn gay gắt trước mắt, tăng cường ổn định chính trị, đưa đất nước cơ bản ra
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội” [138, tr. 69].
Tác giả Nguyễn Trần Quế trong cuốn “Kinh tế đối ngoại Việt Nam thực tiễn
và chính sách” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991), khẳng định: Đối với Việt
Nam, phát triển KTĐN đúng hướng chẳng những phát huy được lợi thế bên trong
của đất nước, mà còn khai thác được lợi thế về vốn, khoa học, công nghệ, kinh
nghiệm quản lý… từ bên ngoài để tăng thêm nguồn lực cho phát triển, tạo cơ sở cho
quá trình CNH đất nước. Tác giả làm rõ thêm: “Kinh tế đối ngoại vừa phải phát
triển toàn diện, đa dạng tương xứng với tiềm năng nhiều mặt của đất nước, vừa phải
đi vào trọng điểm trong từng thời kỳ” [104, tr. 131].
“Kinh tế đối ngoại: Nghiên cứu so sánh các nước đang phát triển châu Á -
Thái Bình Dương và Việt Nam” là cuốn sách của tác giả Đỗ Đức Định (Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội, 1993). Cuốn sách phân tích chiến lược mở cửa của các nước
Hàn Quốc, Ấn Độ , so sánh KTĐN Việt Nam với các nước đang phát triển khu
vực châu Á - Thái Bình Dương. Quá trình thay đổi tư duy và chiến lược, bối cảnh
tiềm năng và hạn chế cùng tác dụng kinh tế trong chính sách đối ngoại của Việt

Nam, nêu lên các nhiệm vụ, chính sách và biện pháp của KTĐN Việt Nam.
“Mối quan hệ giữa kinh tế đối ngoại và sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
trong điều kiện nền kinh tế mở”, luận án phó tiến sĩ kinh tế của Lê Thị Minh Tâm,
năm 1994. Luận án phân tích lý luận và thực tiễn của mối quan hệ giữa KTĐN và
tăng trưởng kinh tế, phân tích định tính và định lượng mối quan hệ đó. Những thuận
lợi và thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới, từ đó đề xuất
những giải pháp cụ thể.
“Kinh tế đối ngoại Việt Nam, nội dung - giải pháp - hiệu quả” của tác giả
Vũ Phạm Quyết Thắng, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1994) phân tích: Cho đến năm
1994, nền kinh tế Việt Nam vẫn bị xếp vào loại thấp kém của thế giới (xếp thứ
185/204 nước). Dấu ấn sâu đậm được xác định từ Đại hội VI khi Đảng đưa ra
những tư tưởng quan điểm mới trong việc định hướng thiết kế một nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần. Một nền kinh tế như thế tất yếu phải là một nền kinh tế mở.
Tác giả Vũ Phạm Quyết Thắng cũng cho rằng, bắt đầu từ thời điểm đó, “những tư
tưởng quan điểm mới về kinh tế đối ngoại được hình thành” [119, tr. 3-4].
18
Trong bài viết “Kinh tế đối ngoại với công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam” (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 4, 1995), tác giả Nguyễn Trọng Xuân nêu lên
vấn đề: Sự phát triển của hoạt động KTĐN có thể kéo theo sự tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam cao hơn so với dự kiến trung bình từ 1,5 - 2,5%. Với tính chất nền
kinh tế phổ biến là nền sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, Việt Nam cần tiến
hành CNH nhằm tạo ra tiềm lực to lớn cho nền kinh tế quốc dân, đủ khả năng xây
dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tác giả nhấn mạnh rằng, hoạt động KTĐN
không chỉ góp phần tạo ra những tiền đề cho CNH, mà bản thân nó còn là một nội
dung có tính động lực của CNH.
Công trình “Đổi mới kinh tế Việt Nam và chính sách kinh tế đối ngoại” (tác
giả Võ Đại Lược chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995) tập trung nghiên
cứu quá trình đổi mới kinh tế Việt Nam dưới góc độ thể chế và lịch sử trên hai
phương diện chính: Chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và đối với hai khu vực nông
nghiệp và công nghiệp chế biến nói riêng. Cuốn sách tiếp cận chính sách KTĐN của

Việt Nam chủ yếu trên góc độ tiếp nhận ODA, FDI của nước ngoài và quan hệ
thương mại với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Các số liệu thống kê, các chính
sách kinh tế và KTĐN của Nhà nước Việt Nam và việc thực thi các chính sách đó
trong khoảng thời gian từ những năm 1980 đến năm 1995.
Năm 1996, tập thể tác giả Lưu Văn Đạt, Dương Văn Long và Lê Nhật Thức
viết cuốn “Đổi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại”
(Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội) trình bày những luận điểm như: Không đi theo
con đường tự cung, tự cấp; không đơn thuần áp dụng chiến lược thay thế nhập khẩu;
“không dựa hẳn vào sự giúp đỡ quốc tế mà tất yếu phải đi con đường độc lập tự chủ,
sáng tạo, xây dựng nền kinh tế mở cả trong và ngoài nước…” [52, tr. 8]. Việt Nam
mới có thể ứng phó được với mọi thử thách. Cần lựa chọn chiến lược CNH hướng
về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có
hiệu quả, tăng nhanh xuất khẩu, thu hút mạnh đầu tư quốc tế, thâm nhập vững chắc
vào thị trường thế giới. Cần từ bỏ hoàn toàn cơ chế Nhà nước độc quyền về ngoại
thương và chỉ có thành phần kinh tế quốc doanh độc quyền về KTĐN.
“Toàn cầu hóa - cơ hội và thách thức trong tiến trình Việt Nam hội nhập với
kinh tế thế giới và khu vực” là bài viết của tác giả Cao Sỹ Kiêm (Tạp chí Cộng sản,
số 7, 1999). Theo tác giả, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
19
khu vực, quốc tế, Việt Nam có khả năng tiếp cận một số cơ hội cụ thể nhưng cũng
đặt ra những thách thức rất lớn. Những thách thức trên chủ yếu bắt nguồn từ chính
nội lực của nền kinh tế. Điều này chứng tỏ rằng, trong quá trình hội nhập nền kinh
tế Việt Nam dễ bị tổn thương hơn với các nước thành viên.
“Vận dụng kinh nghiệm phát triển kinh tế đối ngoại trong giai đoạn công
nghiệp hóa ở các nước ASEAN vào Việt Nam” (luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu
sinh Hà Xuân Vấn, 2000) góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
phát triển KTĐN trong giai đoạn CNH, thông qua phân tích kinh nghiệm phát triển
KTĐN của các nước ASEAN. Trên cơ sở đó, cùng với thực trạng phát triển của Việt
Nam, nêu những quan điểm có tính chất định hướng và giải pháp chủ yếu để vận
dụng nhằm phát triển KTĐN hiệu quả trong giai đoạn CNH, HĐH ở Việt Nam.

Tác giả Nguyễn Trọng Xuân viết cuốn “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội, 2002) làm rõ các vấn đề: Khái niệm, thực trạng, phương hướng và nội dung
tiếp tục đổi mới hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản lý FDI; trên cơ sở đó,
nhấn mạnh tác động của FDI làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng CNH,
HĐH để nâng cao năng lực sản xuất, tăng sức cạnh tranh của Việt Nam. Tác giả
cũng đưa ra một số định hướng lớn, một số giải pháp cụ thể, nhằm thúc đẩy thu hút
và sử dụng FDI nước ngoài một cách hiệu quả.
Tác giả Võ Hùng Dũng viết bài “Ngoại thương Việt Nam từ 1991 - 2000,
những thành tựu và suy nghĩ” (Tạp chí nghiên cứu Kinh tế, số 293 và số 294,
2002). Bài báo đăng tải trên hai số báo cho rằng: Ngoại thương Việt Nam đi từ khởi
điểm thấp, thiết lập từ mối quan hệ với các nước XHCN dần lên và hình thành 2
giai đoạn rõ rệt, từ năm 1976 đến năm 1990 và từ năm 1991 đến năm 2000. Từ
những phân tích định lượng, công phu lĩnh vực ngoại thương Việt Nam, tác giả cho
rằng: “Không chỉ ngoại thương mà là nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với
những thách thức nghiêm trọng” [24, tr. 27], để tránh tụt hậu xa hơn về kinh tế, Việt
Nam cần phải có biện pháp mạnh, thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu hàng xuất
khẩu trong thời gian tới.
“Phát triển kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và
tác động của nó đến củng cố quốc phòng nước ta hiện nay”, luận án tiến sĩ kinh tế
của Lê Nguyễn Đương, năm 2002. Luận án đề cập sự tác động hai chiều của quá
20
trình phát triển KTĐN đến củng cố quốc phòng, an ninh; một số quan điểm và giải
pháp cơ bản thúc đẩy phát triển KTĐN; đồng thời, củng cố quốc phòng thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH.
Tác giả Lê Thanh Bình viết cuốn “Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu
hóa” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002). Cuốn sách trình bày tổng quan về
KTĐN Việt Nam, vấn đề đầu tư nước ngoài, tự do hóa thương mại và phát triển
ngoại thương, mở rộng hợp tác và chuyển giao khoa học công nghệ, phát triển du
lịch trong bối cảnh toàn cầu hóa. Phân tích mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và

KTĐN, thị trường trong nước và thị trường thế giới, KTĐN trong bối cảnh đổi mới
toàn diện của Việt Nam và xu thế tất yếu khách quan của toàn cầu hóa. Tình hình
trên đặt ra “mối quan tâm đầy đủ của các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ
trong việc phát triển và hội nhập kinh tế đất nước” [12, tr. 211].
“Kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay - tình hình và các giải pháp” là bài viết
của tác giả Võ Đại Lược (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 1, 2003). Theo
phân tích của tác giả, hiện nay, điều kiện quốc tế đã thay đổi, các quốc gia trong khu
vực đã tiến xa trên con đường hội nhập quốc tế, Việt Nam cần lựa chọn con đường
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo những hướng sau: Coi quan hệ KTĐN là quan
hệ thị trường; xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; khai thông các nguồn vốn
cung ứng cho hoạt động KTĐN; cơ cấu nhập khẩu phải phù hợp với định hướng xuất
khẩu; sửa đổi và ban hành các văn bản về KTĐN phù hợp với các thông lệ quốc tế.
Trong bài viết “Một số điểm nổi bật về kinh tế đối ngoại của Việt Nam mười
năm qua (1993 - 2002) và những vấn đề đặt ra đối với tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế từ nay đến năm 2010” (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 9, 2003),
tác giả Ngô Văn Lương luận giải như sau: Sự phát triển của hoạt động KTĐN 10
năm qua làm cho nền kinh tế Việt Nam trở thành một mắt khâu quan trọng trong
chuỗi giá trị toàn cầu và do đó, đây là một lĩnh vực hết sức đa dạng, thường xuyên
biến động và là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển theo
hướng hội nhập. Vấn đề đặt ra đối với hoạt động KTĐN Việt Nam là Chính phủ cần
có những giải pháp thích hợp để vừa tăng tính thích nghi, vừa hội nhập nhanh với
kinh tế quốc tế theo phương châm đa dạng hóa và đa phương hóa.
Cuốn sách “Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam” do tác
giả Ngô Văn Điểm chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004). Cuốn sách
21
phân tích quan niệm, cơ sở và các đặc trưng chủ yếu của toàn cầu hóa kinh tế, quá
trình hội nhập kinh tế của Việt Nam. Theo tác giả, trong giai đoạn 1995 - 2004, tổng
vốn đầu tư xã hội năm 2004 tăng gấp 4 lần, trong khi đó do hậu quả của cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ (1997 - 1998), đầu tư nước ngoài chỉ tăng hơn 2 lần. Với xu
thế toàn cầu hóa kinh tế, với môi trường đầu tư được cải thiện, đầu tư nước ngoài

vào Việt Nam sẽ ngày càng tăng lên. Đây là những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy
nhanh quá trình CNH, HĐH.
“Kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của một số nước trong khu vực và
những bài học đối với Việt Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của trường
Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004. Chủ nhiệm đề tài là tác giả
Hoàng An Quốc. Đề tài nghiên cứu tiến trình và chính sách hội nhập kinh tế của
một số nước và vùng lãnh thổ trong khu vực (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái
Lan, Nga, Trung Quốc), đi đến nhận định: Nghiên cứu kinh tế các nước trên thế giới
cho thấy rằng, sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế của các quốc gia phụ thuộc
rất nhiều vào khả năng hoạt động của KTĐN. Sở dĩ kinh tế của những nước phát
triển và một số quốc gia, vùng lãnh thổ công nghiệp mới (NIEs) đạt tới bước phát
triển nhanh chóng là do những quốc gia và lãnh thổ này có một chiến lược và chính
sách KTĐN phù hợp. Từ đó, tác giả nêu lên những bài học kinh nghiệm trong hội
nhập kinh tế quốc tế của các nước đối với Việt Nam.
Tác giả Võ Văn Đức viết cuốn “Phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh tăng
trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hiện nay” (Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2004). Tác giả cho rằng: Hoạt động xuất - nhập khẩu của Việt Nam có xu
hướng tăng nhanh và tốc độ tăng trưởng trung bình (15 - 20%) cao hơn tốc độ tăng
trưởng GDP (7 - 8%) kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế. Bên cạnh
những thành tựu đạt được, hoạt động xuất - nhập khẩu vẫn bộc lộ những hạn chế.
Để tăng trưởng xuất khẩu tương xứng với tiềm năng to lớn cần triệt để khai thác
những lợi thế so sánh của Việt Nam.
“Chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ 1986 đến nay” là đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ của trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2005 do tác giả Phan Huy Đường làm chủ nhiệm. Dưới góc độ lý luận kinh tế -
chính trị, chủ trì đề tài đã nghiên cứu và làm rõ thêm lý luận về quan hệ KTĐN
trong nền kinh tế thế giới, về phát triển KTĐN ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, khái
22
quát các xu hướng phát triển KTĐN ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2005. Tác
giả Phan Huy Đường đi đến nhận định: Với đường lối đổi mới, Việt Nam đang

không ngừng tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế
giới. Để tạo điều kiện thuận lợi cho KTĐN Việt Nam phát triển nhanh và vững chắc
trong một môi trường thế giới đang có nhiều biến động và cạnh tranh gay gắt, nhiều
vấn đề thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước cần được khẩn trương nghiên cứu, bổ
sung và hoàn chỉnh.
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp” là cuốn
sách của tác giả Trần Xuân Tùng (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005). Cuốn
sách đánh giá vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam, nêu lên một
số kiến nghị nhằm giải quyết các vướng mắc, trở ngại để môi trường đầu tư của
Việt Nam có sức hấp dẫn, sức cạnh tranh so với các nước trong khu vực.
“Phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại Việt Nam trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế” là bài báo của tác giả Nguyễn Thường Lạng, Tạp chí Kinh tế và
phát triển, số 117, 2007. Bài báo cho rằng với việc trở thành thành viên chính thức
của WTO mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội, bên cạnh đó cũng đặt ra những thách
thức tất yếu. Lĩnh vực KTĐN Việt Nam, “một lĩnh vực hết sức đa dạng, thường
xuyên biến động và là động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam
phát triển” [77, tr. 3] theo hướng hội nhập, hiện nay đang chịu tác động trực tiếp và
hết sức to lớn của quá trình này. Vấn đề là cần có những giải pháp thích hợp để vừa
tăng tính thích nghi, vừa phát triển nhanh lĩnh vực KTĐN theo phương châm đa
dạng hóa, đa phương hóa nhằm phục vụ có hiệu quả công cuộc CNH, HĐH.
Cuốn sách “Kinh tế đối ngoại Việt Nam” của tác giả Phan Huy Đường (Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007) phân tích những đặc điểm cơ bản của nền
kinh tế thế giới, những tiềm năng phát triển KTĐN Việt Nam. Phân chia quá trình
phát triển của KTĐN Việt Nam thành hai giai đoạn (1986 - 1992; 1992 - 2005). Đánh
giá những thành tựu và hạn chế, định hướng và những giải pháp nhằm phát triển
KTĐN Việt Nam trong giai đoạn mới. Tác giả cho rằng: Việt Nam tham gia quan hệ
kinh tế quốc tế dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi. Do đó, Việt Nam không
thể tham gia một quan hệ kinh tế quốc tế nào mà nó chỉ đem lại thua thiệt và mất mát.
Nhưng cũng phải nêu cao tinh thần cảnh giác, không thể vì lợi ích trước mắt mà làm
23

tổn hại đến lợi ích lâu dài, “chính sách kinh tế đối ngoại phải kiên trì nguyên tắc, giữ
vững mục tiêu đồng thời phải linh hoạt và khôn khéo trong sách lược” [59, tr. 133].
“Xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong hội nhập kinh tế
quốc tế” (luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Nguyễn Hồng Hải, năm 2009)
đã luận giải những vấn đề cơ bản về KTĐN ở Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc
tế; khảo sát thực trạng của KTĐN; khái quát những xu hướng phát triển KTĐN ở
Việt Nam và từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát triển KTĐN của Việt Nam trong
thời gian tới. Đóng góp của luận án là đặt KĐTN trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế, nhằm góp thêm cơ sở khoa học cho việc thực hiện “chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế” của Việt Nam hiện nay.
Năm 2013, tác giả Đinh Xuân Lý công bố công trình “Đối ngoại Việt Nam
qua các thời kỳ lịch sử (1945 - 2012)” (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội).
Cuốn sách gồm hai phần. Phần I. Đối ngoại thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân (1945 - 1975). Phần II. Đối ngoại thời kỳ cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở một số nội dung nhất định, cuốn sách trình bày
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về KTĐN. Cùng với việc đúc
rút một số bài học kinh nghiệm về hoạch định chủ trương và thực hiện đường lối đối
ngoại, tác giả kết luận: “Lĩnh vực đối ngoại, từ quan điểm, đường lối, chính sách đến
phương châm và phương pháp, hoạt động thực tiễn, vừa phải bảo đảm lợi ích quốc
gia dân tộc, lại vừa phải thích ứng với đặc điểm và xu thế quốc tế” [83, tr. 349].
Đây là nhóm những công trình nghiên cứu tương đối phong phú về số lượng,
đa dạng về chủng loại, có liên quan đến hoạt động KTĐN Việt Nam. Các ấn phẩm
sách phong phú về số lượng, nghiên cứu nhiều nội dung quan trọng có liên quan
đến hoạt động KTĐN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Các công trình đã tập trung
phân tích quá trình đổi mới kinh tế Việt Nam dưới góc độ thể chế và lịch sử trên hai
phương diện chính: Chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách KTĐN của
Việt Nam nói riêng, thể hiện qua việc tiếp nhận ODA, FDI và quan hệ thương mại
của Việt Nam với một số quốc gia. Một số công trình làm rõ vai trò quản lý của Nhà
nước trên lĩnh vực KTĐN, khẳng định tính tất yếu của việc phát triển KTĐN trong
thời kỳ CNH, HĐH đất nước, phân tích những tác động tích cực, những hạn chế

trong việc thực thi chính sách KTĐN Việt Nam thời gian qua. Các giải pháp tổng
quát nhất mà đa số các tác giả đề cập đến là: Giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế
24
trong quá trình phát triển KTĐN, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế… Các
tác giả cho rằng: Tính khả thi của các chính sách phụ thuộc lớn vào nhận thức, tính
kiên quyết và đồng bộ trong việc triển khai của Nhà nước. Các luận án đề cập đến
KTĐN ở góc độ kinh tế học và kinh tế chính trị, bàn về giải pháp phát triển KTĐN
ở phạm vi chuyên ngành. Có thể thấy một số hướng tiếp cận và những vấn đề
nghiên cứu của các luận án dưới giác độ kinh tế. Các nội dung chủ yếu mà đa số
luận án đề cập là: Phát triển KTĐN phải đồng thời bảo đảm, củng cố quốc phòng,
an ninh; lựa chọn các đối tác phù hợp trong KTĐN; vận dụng kinh nghiệm của các
nước trong khu vực nhưng cũng cần tự lực, tự cường trong phát triển KTĐN nhằm
hướng tới việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ ở Việt Nam. Các bài nghiên
cứu và đề tài nghiên cứu khoa học chủ yếu tiếp cận KTĐN dưới góc độ kinh tế học,
do vậy, các tác giả tập trung vào những nhiệm vụ và giải pháp như: Nắm vững xu
thế của thời đại; tận dụng thời cơ của toàn cầu hóa, phải thực hiện nhanh và đồng bộ
các giải pháp về nhận thức; xây dựng mô hình kinh tế “mở”; đổi mới kỹ thuật -
công nghệ, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH; nâng sức
cạnh tranh, hướng mạnh về xuất khẩu, điều chỉnh chiến lược xuất, nhập khẩu; thu
hút, sử dụng và quản lý hiệu quả FDI và ODA; xây dựng kết cấu hạ tầng và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực; tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện luật pháp, chính
sách, cơ chế vĩ mô.
Những tài liệu trên đã giúp nghiên cứu sinh thấy được nhiều nội dung phong
phú và cung cấp những số liệu tương đối khách quan về KTĐN Việt Nam trong 20
năm đổi mới (1986 - 2006).
3. Nhóm các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt
động kinh tế đối ngoại
“Công tác ngoại giao phục vụ kinh tế trong giai đoạn hiện nay” là bài viết
của tác giả Lâm Đình Ngọc (Tạp chí Cộng sản, số 11, 2001). Tác giả cho biết: Triển
khai Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Hội nghị cán bộ ngành ngoại giao tháng 8 -

1996 đã bàn sâu về “Ngoại giao phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế”. Tháng 12 -
1996, Bộ Ngoại giao ban hành “Quyết định một số vấn đề kinh tế ngành” xác định
các nội dung hoạt động và chức năng của ngành ngoại giao trong và ngoài nước về
công tác này. Bài báo đi đến nhận xét: Những năm gần đây, nhận thức của ngành về
ngoại giao phục vụ kinh tế đã được nâng cao thêm một bước, “đặc biệt là về tính
25
cấp bách của công tác này cũng như nội dung, phương hướng của hoạt động ngoại
giao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [86, tr. 26].
“Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh
tế quốc tế” là bài viết của tác giả Phan Trọng Thức (Tạp chí Cộng sản, số 26, 2003).
Tác giả cho rằng: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ, đáp ứng yêu cầu và lợi ích của đất nước; đồng thời, qua đó phát huy
vai trò của Việt Nam trong quá trình hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới.
Tiếp tục hội nhập theo quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ IX là: hội nhập phải giữ
vững độc lập, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, giữ vững định hướng XHCN; hội nhập quốc tế phải tiến hành từng bước
với lộ trình hợp lý, khả thi nhằm khai thác thuận lợi, vượt qua thách thức; hội nhập
quốc tế phải đặt trọng tâm vào lĩnh vực kinh tế - thương mại.
Tác giả Vũ Khoan viết bài “Đẩy mạnh kinh tế đối ngoại trước yêu cầu hội
nhập kinh tế thế giới” (Tạp chí Quản lý nhà nước, số 1, 2004). Theo tác giả: Đảng rất
coi trọng công tác đối ngoại nói chung, KTĐN nói riêng. “Định hướng chung, những
đường lối cơ bản mà Đảng đã xác định qua các kỳ đại hội vẫn còn nguyên giá trị”
[73, tr. 5]. Điều này được thể hiện ở một số điểm sau: thứ nhất, Đảng hiểu rõ bất kỳ
một nền kinh tế nào cũng là một bộ phận cấu thành của kinh tế thế giới; thứ hai,
Đảng luôn nhấn mạnh muốn phát triển phải dựa vào nội lực là chính, nhưng nguồn
lực bên ngoài là rất quan trọng; thứ ba, Đảng luôn nhấn mạnh nhu cầu hội nhập với
kinh tế thế giới để mở rộng thị trường, có thêm đối tác, thêm nguồn vốn để phát triển.
Tác giả Phan Trọng Thức viết bài “Cơ hội, thách thức trong quá trình hội
nhập kinh tế và định hướng phát triển kinh tế đối ngoại Việt Nam” (Tạp chí Kinh tế
và phát triển, số 88, 2004). Bài viết đề cập hai nội dung. Một là, cơ hội và thách

thức trong quá trình hội nhập kinh tế đối với Việt Nam. Cơ hội đối với Việt Nam là
dựa vào sự phát triển của nông nghiệp. Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là
năng lực cạnh tranh còn thấp trên cả ba cấp độ: nền kinh tế, doanh nghiệp và sản
phẩm. Hai là, định hướng phát triển KTĐN của Việt Nam. Bài viết cho rằng: Chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế là định hướng phổ quát trên tinh thần Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ IX.
Năm 2005, Tạp chí Lịch sử Đảng số 1 đăng bài “Vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc

×