Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

Nhận diện thông tin sai và việc cải chính thông tin sai trên báo in nước ta hiện na

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 102 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




PHAN THỊ THANH THỦY



NHẬN DIỆN THÔNG TIN SAI
VÀ VIỆC CẢI CHÍNH THÔNG TIN SAI TRÊN
BÁO IN NƯỚC TA HIỆN NAY





LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH BÁO CHÍ HỌC
Mã số: 60.32.01




Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS Đinh Văn Hường






HÀ NỘI-2011

96
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5
7. Kết cấu luận văn 7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ CẢI
CHÍNH THÔNG TIN SAI TRÊN BÁO CHÍ 8
1.1. Cơ sở lý luận của cải chính thông tin sai trên báo chí 8
1.1.1. Vấn đề thông tin trên báo chí 8
1.1.2. Thông tin sai trên báo chí và vấn đề cải chính 9
1.2. Cơ sở pháp lý của cải chính thông tin sai trên báo chí 14
1.2.1 Những vấn đề cải chính được quy định trong Hiến pháp năm 1992 và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999 14
1.2.2 Quy chế cải chính trên báo chí của Bộ Văn hóa Thông tin ban hành
năm 2007 17
1.3 Ý nghĩa của việc cải chính thông tin sai trên báo chí 19
1.3.1 Từ văn hóa xin lỗi trong giao tiếp của người Việt 19
1.3.2 Từ góc độ tiếp cận của độc giả 21
1.3.3 Từ góc độ uy tín của cơ quan báo chí 23
1.3.4 Từ góc độ pháp lý 27
Tiểu kết chƣơng 1: 28






97
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CẢI CHÍNH THÔNG TIN SAI
TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 29
2.1 Thông tin sai và phƣơng thức cải chính thông tin sai trên báo in Việt
Nam hiện nay 29
2.1.1 Tiêu chí định tính cho vấn đề cải chính thông tin sai trên báo in 29
2.1.2 Một số tình huống thông tin sai và cải chính thông tin sai trên báo in
Việt Nam từ năm 2008-2010 31
2.2 Thực trạng thông tin sai và cải chính thông tin sai trên ba tờ báo in
Lao Động, Tiền Phong, Đời sống và Pháp luật 44
2.2.1 Ưu điểm của cải chính thông tin sai trên 3 tờ Lao động, Tiền Phong và
Đời sống và Pháp luật 46
2.2.2 Nhược điểm của cải chính thông tin sai trên 3 tờ Lao động, Tiền Phong
và Đời sống và Pháp luật 53
2.3 Các yếu tố tạo nên thành công trong cải chính thông tin sai trên báo in
Việt Nam hiện nay 57
2.3.1 Hệ thống văn bản và quy chế chặt chẽ 57
2.3.2 Chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình thu thập xử lý tin bài của
phóng viên 59
2.3.3 Quan điểm của tòa soạn trong vấn đề cải chính thông tin sai 61
2.3.4 Sự tham gia của công chúng, xử lý hồi âm dư luận của báo chí 62
2.4 Các yếu tố dẫn đến thông tin sai và hạn chế trong cải chính thông tin
sai trên báo in hiện nay 64
2.4.1 Trong quá trình tác nghiệp của phóng viên 65
2.4.2 Trong quá trình biên tập tin, bài của ban biên tập 67

2.4.3 Quan điểm của tòa soạn trong vấn đề cải chính thông tin sai 68
Tiểu kết chƣơng 2: 69




98
CHƢƠNG 3: KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG VÀ HIỆU QUẢ CẢI CHÍNH THÔNG TIN SAI CHO BÁO IN
THỜI GIAN TỚI 70
3.1 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho tác giả và cơ quan báo chí 70
3.1.1 Đối với phóng viên, nhà báo trực tiếp viết bài 70
3.1.2 Đối với biên tập viên và công tác biên tập 71
3.1.3 Đối với vấn đề quan điểm của tòa soạn 73
3.2 Yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra cho báo in hiện nay về vấn đề cải
chính thông tin sai 75
3.2.1 Yêu cầu cấp thiết về hành lang pháp lý rõ ràng 75
3.2.2 Nâng cao tính chuyên nghiệp trong đào tạo báo chí ở Việt Nam 78
3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả cải chính thông tin sai
trên báo in 80
3.3.1 Minh bạch trong quá trình thu thập và xử lý thông tin của phóng viên 80
3.3.2 Vấn đề coi trọng thông tin cải chính từ quan điểm của tòa soạn 82
3.3.3 Gợi ý một số cách thức cải chính thông tin sai trên báo in 83
Tiểu kết chƣơng 3 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………… 93



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin sai trên báo chí đang được xem là “căn bệnh” của báo chí
hiện đại. Hiện nay, sự xuất hiện của nhiều loại hình thông tin đã làm thông tin
báo chí đẩy mạnh tiêu chí nhanh và nóng, điều này dễ dẫn đến thông tin sai.
Càng nghiêm trọng hơn khi trong những năm gần đây, thông tin sai trên báo
chí nhiều hơn, với tính chất và mức độ nghiêm trọng cũng gia tăng. Điều đáng
bàn ở chỗ, việc báo chí thông tin sai có thể gây ảnh hưởng rất lớn về tâm lý
cũng như kinh tế để khắc phục thông tin sai đó. Tuy nhiên, việc cải chính
thông tin ấy lại ít được chú ý.
Vấn đề cải chính thông tin sai đã được quy định cụ thể trong Luật báo chí và
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Tuy nhiên, đến nay, việc khảo sát cụ thể nào
để xem các cơ quan báo chí thực hiện vấn đề cải chính này đến đâu vẫn ít được
quan tâm đến.
Trong khi đó, thực tiễn làm báo hiện nay cho thấy: Các quy định về xử
phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực báo chí và xuất bản hiện nay có nội
dung liên quan đến vấn đề thông tin sai. Việc cải chính nói đúng ra là liên
quan trực tiếp đến quá trình nghiệp vụ của người làm báo. Cải chính giúp cho
những người làm nghề tránh được sai sót trong những lần tiếp theo. Vì vậy,
vấn đề này cần được chú ý đúng mực để đảm bảo đạo đức người làm báo,
khẳng định uy tín cơ quan báo chí và sự tôn trọng độc giả của nền báo chí
hiện đại.
Hạn chế thông tin sai là đòi hỏi cấp thiết để hướng tới một nền báo chí
có tính chuyên nghiệp. Và vấn đề cải chính tin sai trên báo chí là vấn đề
không chỉ của riêng hoạt động làm báo mà còn liên quan đến cả văn hóa xin
lỗi. Thông tin cải chính trên báo thường không có vị trí xứng đáng với bài
thông tin sai, vì vậy gây nhiều bức xúc cho độc giả. Hầu hết các ý kiến trên

2
báo chí, trên các diễn đàn đều cho rằng: Thông tin cải chính trên báo chí hiện

nay chưa thỏa mãn những băn khoăn của độc giả.
Nghiên cứu về vấn đề này, luận văn sẽ làm rõ thực trạng tin sai và vấn
đề cải chính hiện nay, từ đó nêu nên sự cần thiết về mặt lý luận cũng như
nghiệp vụ báo chí để khắc phục ngay hiện tượng thông tin sai và có sự lưu
tâm đúng mức đến vấn đề cải chính trên báo chí, cụ thể là báo in.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phải khẳng định, đây là vấn đề không mới, các quy định cụ thể đã được
thể hiện trong:
- Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại
điều 33 và điều 69. Trong đó điều 33 ghi rõ: “Nhà nước phát triển công tác
thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các
phương tiện thông tin đại chúng khác. Nghiêm cấm những hoạt động văn hoá,
thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống
tốt đẹp của người Việt Nam”. Và điều 69 quy định: “Công dân có quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội,
biểu tình theo quy định của pháp luật”.
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí (năm 1999) và
các Nghị định về những điều không được thông tin trên báo chí.
- Quy chế “Cải chính trên báo chí". Ban hành kèm theo quyết định số 03/2007
QĐ-BVHTH ngày 07 tháng 02 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin.
Kèm theo đó là các nghị định, quy chế về vấn đề xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực báo chí xuất bản trong đó có điều quy định về việc sử
dụng sai nội dung thông tin.
Đây là vấn đề có tính chất nghiệp vụ cao nên những bài viết manh tính
chuyên khảo về vấn đề này, những bài viết nghiệp vụ trên các diễn đàn nghề
báo có quy mô nhỏ tương đối nhiều.

3
Có thể đưa ra một số sách tham khảo và một số bài viết có tính nghiệp
vụ báo chí về vấn đề cải chính thông tin sai như sau:

- Nguyễn Bắc Sơn (1999), Tản mạn với văn hóa và thông tin”, Nxb
Văn hóa thông tin, Hà Nội trong cuốn này có bài viết mang tên: “Báo chí
nước ta có nên nói dối dù là ngày 1-4?”
- Bài viết: “Những điểm mới trong Luật Báo chí sửa đổi” của Luật sư,
Tiến sĩ Phan Đăng Thanh trên báo Pháp Luật TPHCM, 18/7/2008
- Bài viết của tác giả Thanh Loan: “Nhà báo không được phản bội độc giả”
trên diễn đàn Báo chí Việt Nam www.baochivietnam.com.vn ngày 16/5/2006.
- "Cẩm nang viết tin" của Peter Eng và Jeff Hodson đăng trên diễn đàn
nghề báo với hai phần mang tên: “Nhà báo, đạo đức là trách nhiệm”.
- Báo cáo: “Báo chí Việt nam cần hành lang pháp lý rõ ràng hơn” của
Học viện Báo chí Tuyên truyền tại Hội thảo quốc tế về chống xúc phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín trên báo chí tổ chức 10/3/2010.
Đồng thời, những năm gần đây, nhiều học viên, sinh viên chuyên ngành
Báo chí đã mạnh dạn nghiên cứu về vấn này vì tính cấp thiết và ý nghĩa lớn về
mặt thực tiễn. Tiêu biểu phải kể đến luận văn của Nguyễn Thị Thu Thanh do
Tiến sĩ Nguyễn Thế Kỷ (Ban tuyên giáo Trung ương) hướng dẫn với tên: Nhận
diện những sai phạm về nội dung thông tin trên báo chí Việt Nam hiện nay.
Như đã nói, đây là vấn đề vừa thuộc lĩnh vực pháp lý với nhiều văn bản
quy định chi tiết, vừa là vấn đề mang tính nghiệp vụ với khá nhiều bài bàn
luận, và luôn soi chiếu vào những văn bản Luật hiện hành. Đây cũng là vấn đề
có thể mở ra nhiều hướng nghiên cứu, với nội dung nghiên cứu khác nhau
như: Những dạng thông tin sai, nội dung thông tin sai… Trên cơ sở nhiều bài
viết mang tính chất nghiệp vụ trao đổi và khảo sát thực tiễn, tác giả đã lần đầu
tiên thực hiện đề tài này ở góc độ quan tâm vào hướng phân loại thông tin sai
và vấn đề cải chính.

4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là những dạng thông tin sai và
vấn đề cải chính thông tin sai trên báo in Việt Nam hiện nay.

Về phạm vi nghiên cứu của luận văn là ba tờ báo: Lao Động, Tiền
Phong và Đời sống và Pháp luật đồng thời có sự tham khảo, đối chiếu thêm
một số tờ báo khác như: Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Sài Gòn giải phóng…
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 – 2010.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra thực trạng của vấn đề cải chính thông tin sai trên báo chí hiện
nay qua ba tờ báo Lao Động, Tiền Phong, Đời sống và Pháp luật để thấy rõ:
Những dạng thông tin sai hiện nay báo chí đang gặp phải và vấn đề cải chính
thông tin sai của các báo hiện nay ra sao: Đã đúng luật chưa, có được chú trọng
hay không, hình thức cải chính ra sao, thông tin cải chính đã đầy đủ chưa…
Đồng thời, so sánh về các hình thức cải chính thông tin của nhiều tờ
báo để nhận rõ ưu và nhược điểm, từ đó đề xuất cách cải chính thông tin hợp
lý để tờ báo luôn có được thái độ thẳng thắn, khách quan trước mỗi sự việc,
giữ được uy tín và đảm bảo tôn trọng độc giả.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý của việc cải
chính thông tin sai trên báo chí, cụ thể là báo in. Đồng thời chỉ rõ ý nghĩa vai
trò của việc cải chính thông tin sai trong nghiệp vụ báo chí, trong xác định uy
tín cơ quan báo chí, trong vấn đề pháp lý và cả trong văn hóa tiếp nhận trao
đổi thông tin của người Việt Nam.
Nghiên cứu thực trạng vấn đề cải chính thông tin sai trên báo in Việt
Nam hiện nay. Việc nghiên cứu này được tiến hành chủ yếu trên 3 tờ báo in
Lao Động, Tiền Phong, Đời sống và Pháp luật, có đối chiếu so sánh với một

5
số tờ báo khác ở cả thể loại báo mạng và báo in để đánh giá ưu điểm và hạn
chế của những cách thức cải chính mà báo in đang thực hiện.
Qua những vấn đề nghiên cứu sẽ chỉ ra kinh nghiệm và các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả của vấn đề cải chính thông tin sai cho báo in hiện nay.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu đề ra, tác giả đã vận dụng một
số phương pháp sau trong quá trình nghiên cứu:
- Phương pháp sưu tầm tài liệu, thống kê, phân loại tổng hợp, đánh giá
thông tin và đưa ra nhận xét.
- Phương pháp liên ngành: Sử dụng kiến thức của nhiều ngành trong đó
có vận dụng liên hệ một số vấn đề của lĩnh vực văn hóa vào việc đưa ra tiêu
chí định tính: Thông tin thế nào để đảm bảo đầy đủ thông tin cải chính và đáp
ứng được kỳ vọng của độc giả.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tập trung phỏng vấn một số người liên
quan đến vấn đề thu thập, xử lý tin bài, duyệt bài, kiểm định nguồn tin và về ý
kiến đối với thông tin cải chính trên báo chí Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Trước tiên, luận văn sẽ giúp định dạng những vấn đề thông tin sai trên
báo in hiện nay. Những dạng thông tin sai thường gặp với tính chất và mức độ
nghiêm trọng khác nhau.
Luận văn sẽ bổ sung một phần về những vấn đề lý luận trong việc cải
chính thông tin trên báo chí, là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên
cứu, quản lý báo chí và cả những người làm báo trong vấn đề cải chính, đính
chính thông tin sai trên báo in.
Thêm vào đó, luận văn khẳng định sự cần thiết của việc phải cải chính
thông tin đối với lý luận báo chí để đảm bảo hiệu quả truyền thông, tăng sự
tiếp nhận thông tin của công chúng.

6
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Có thể nhận thấy rằng, tính thực tiễn khi nghiên cứu luận văn này rất
cao. Bởi vấn đề thông tin sai là hiện thực không thể phủ nhận của báo chí hiện
nay nhất là việc thông tin sai này đang có xu hướng ngày càng gia tăng.

Vì vậy, về mặt thực tiễn, luận văn sẽ chỉ rõ thực trạng vấn đề thông tin
sai trên báo in Việt Nam, những dạng thông tin sai, những tình huống thông
tin sai trong giai đoạn hiện nay.
Chỉ ra hiện trạng vấn đề cải chính thông tin sai trên báo in hiện nay để
thấy rõ ưu và nhược điểm của những cách thức cải chính đang được tiến hành
qua một số tờ báo.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn của luận văn còn ở chỗ gợi ý cách thức cải chính
thông tin hợp lý cho mỗi tờ báo. Để từ đó, người viết báo tránh được những vấn
đề dễ sai trong thông tin và đảm bảo tính trung thực của thông tin và tôn trọng
độc giả của mình.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về thông tin sai còn có ý nghĩa về mặt
nghiệp vụ báo chí, nghiên cứu thông tin sai là để những người làm báo rút kinh
nghiệm về mặt nghiệp vụ, tránh những sai sót trong quá trình thông tin viết bài,
giữ vững nguyên tắc nghề nghiệp cũng như đạo đức nghề nghiệp của mình.
Nghiên cứu này cũng giúp lãnh đạo một số cơ quan báo chí có cái nhìn
nghiêm túc hơn về việc thông tin, hạn chế ít nhất những thông tin sai và đặc biệt có
thái độ nghiêm túc trước thông tin sai do phóng viên hay biên tập viên thực hiện. Qua
đó, biết đề ra những giải pháp hợp lý để nâng cao trách nhiệm đối với công việc của
từng cá nhân, từng bộ phận trong tòa soạn.
Nghiên cứu việc cải chính cũng giúp chính những nhà quản lý báo chí có
cách đánh giá trung thực hơn về vấn đề cải chính hiện nay. Có những đề xuất
hợp lý đối với các cơ quan chức năng có thẩm quyền cao hơn trong những vấn
đề xây dựng văn bản luật về báo chí, đồng thời có biện pháp kịp thời đối với biểu
hiện tiêu cực trong cải chính như: Trốn tránh, không cải chính khi sai…

7
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương như sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của vấn đề cải chính thông tin

sai trên báo chí
Chương này triển khai trong 20 trang, trình bày các cơ sở lý luận và cơ
sở pháp lý về vấn đề thông tin sai và cải chính thông tin sai. Đồng thời khẳng
định vấn đề phải cải chính nếu đã thông tin sai trên báo chí. Việc phải cải
chính thông tin sai trong phần này dự định soi chiếu thêm từ tâm lý tiếp nhận
thông tin của độc giả và văn hóa của người Việt Nam. Đồng thời có nhìn nhận
đối chiếu về những văn bản pháp lý liên quan.
Chƣơng 2: Thực trạng vấn đề cải chính thông tin sai trên báo in ở Việt
Nam hiện nay
Chương này trình bày trong 40 trang. Chương này bao gồm toàn bộ sự
khảo sát, đánh giá thực tiễn vấn đề cải chính thông tin trên ba tờ báo: Lao
Động, Tiền Phong, Đời sống và Pháp luật. Từ đó nhận xét, đánh giá về thực
tiễn của vấn đề đang nghiên cứu. Đưa ra các tình huống cụ thể của việc cải
chính thông tin, khi nào cần cải chính, cải chính ra sao? Nhận xét cụ thể
những cách làm tốt và chưa tốt của các tờ báo được khảo sát. Đánh giá
nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong cách thức cải chính thông
tin của báo in hiện nay.
Chƣơng 3: Kinh nghiệm và giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu
quả cải chính thông tin sai cho báo in thời gian tới
Chương này trình bày trong 25 trang. Tập trung vào việc đánh giá các bài
học kinh nghiệm mang tính nghiệp vụ báo chí trong vấn đề cải chính tin sai và
bước đầu gợi ý giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin cải chính trên các
báo. Đề xuất một vài giải pháp cải chính thông tin nếu tờ báo có thông tin sai.
Phần phụ lục: Bao gồm các tư liệu, hình ảnh … minh họa cho vấn đề
nêu trong luận văn có 25 trang.


8
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA

VẤN ĐỀ CẢI CHÍNH THÔNG TIN SAI TRÊN BÁO CHÍ

1.1. Cơ sở lý luận của cải chính thông tin sai trên báo chí
1.1.1. Vấn đề thông tin trên báo chí
Trước tiên, thông tin được hiểu là tổng hợp những hiểu biết, khám phá,
tri thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính con người được lưu giữ
truyền bá hay sử dụng theo mục đích nhất định.
Và thông tin chính là hoạt động của báo chí, giống như một cách nói
ngắn gọn rằng: “Báo chí – loại hình hoạt động thông tin chính trị xã hội” [13,
tr.51].
Trong lý luận báo chí, khái niệm thông tin cũng có các cách hiểu khác
nhau: “Một là, tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực
cuộc sống. Hai là, sự loan báo cho mọi người biết” [13, tr.55].
Không phải mọi thông tin đều là thông tin báo chí và tất nhiên người ta
có cách hiểu riêng về thông tin báo chí.
Thông tin chính là chức năng của báo chí. Được hiểu là hoạt động sống của
báo chí. Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện
mục đích của mình. Thông tin trở thành cầu nối giữa báo chí và công chúng.
Thông tin trên báo chí rất đa dạng và sinh động, phản ánh đầy đủ mọi mặt
của đời sống thực tiễn và được tổng kết thành những nhóm thông tin sau đây:
Nhóm thông tin chính trị - xã hội: Đây là nhóm thông tin chiếm ưu thế
quan trọng về đời sống chính trị trong nước và khu vực, đồng thời là nhóm
thông tin bám sát các vấn đề xã hội hiện có.
Nhóm thông tin kinh tế chứa đựng những thông tin liên quan đến mọi
mặt của nền kinh tế, tài chính.

9
Nhóm thông tin văn hóa – giải trí bao gồm trong đó các thông điệp về
các lĩnh vực văn hóa, đáp ứng nhu cầu nâng cao tầm hiểu biết của người dân
và đáp ứng nhu cầu thông tin giải trí của công chúng.

Nhóm thông tin chỉ dẫn ngày càng được ưa chuộng đối với báo chí phương
Tây bởi nó góp phần giúp ích cho công chúng trong việc chỉ rõ: “Ở đâu, như thế
nào…” trước nhu cầu về sức khỏe, du lịch và các mặt khác của cuộc sống con người.
1.1.2. Thông tin sai trên báo chí và vấn đề cải chính
Hoạt động báo chí nằm trong các hoạt động có ý thức của con người.
Vì vậy, phải khẳng định, hoạt động thông tin đó sẽ không tránh khỏi việc có
những sai sót.
Trong lý thuyết truyền thông, chúng ta có mô hình truyền thông nổi
tiếng của Harold Laswell như sau [13, tr.18]








Mô hình truyền thông đó đã chỉ ra rằng, trong quá trình truyền thông có
hiện tượng nhiễu. Và trong nhiều nguyên nhân gây nhiễu quá trình này như:
Điều kiện tự nhiên, phương tiện kỹ thuật thì nguyên nhân từ chính bản thân
thông tin cũng có vai trò quan trọng. Việc nội dung thông tin kém chất lượng
hoặc thông tin sai chính là nhân tố tham gia vào việc làm “nhiễu quá trình
truyền thông”.
Nói trên phương diện thực tiễn báo chí thì có thể thấy rằng: Trên báo
chí không tránh được những thông tin sai. Và hiện tượng thông tin sai này có

Nhiễu (Noise)









Phản hồi (feedback)





S
M
C
R
E

10
ở trên tất cả các loại hình báo chí bao gồm cả: Phát thanh, truyền hình, báo in,
báo điện tử…
Có thể dẫn ra một vài ví dụ như sau: Gần đây nhất, Đài truyền hình
Việt Nam đã mắc phải lỗi sai thông tin trong chương trình “Người xây tổ ấm”
mang tên “Chuyện đời cô Lượm”. Do việc không kiểm chứng thông tin đã
dẫn đến việc hàng triệu khán giả bị “lừa” vì cô Lượm thực chất là Trần Thị
Thùy Dương, không hề có hoàn cảnh đáng thương như những gì truyền hình
đưa. Tất cả những éo le mà cô gặp phải thực chất chỉ là một câu chuyện hư
cấu mà thôi. Việc không kiểm chứng thông tin đã dẫn đến chuyện thông tin
sai của một cơ quan uy tín như VTV.
Báo in và nhất là báo mạng thì thường có nhiều thông tin sai hơn. Do
áp lực của tính thời gian, do kỹ năng thu thập và xử lý thông tin của người

làm báo mà chúng ta thấy rằng, vấn đề thông tin sai của hai loại hình này
được nhắc đến nhiều hơn.
Về việc mua xe ôtô của Bộ Tài chính mà báo chí đồng loạt đưa trong thời
gian tháng 5/2011 đã làm Bộ Tài Chính phải có Công văn số 6293/BTC-VP
ngày 16/5/2011 gửi Ban Tuyên giáo Trung ương; Bộ Thông tin và Truyền
thông; một số cơ quan báo chí. Trong đó có chỉ rõ: Từ ngày 05/5 đến ngày
13/5/2011 vừa qua, trên một số báo viết và báo Điện tử như: Sài Gòn Tiếp thị,
Đại Đoàn Kết, Bee.net.vn và chuyên trang TuanVietnam.net của Báo Điện tử
VietNamNet… đã đưa tin không chính xác và thiếu khách quan về việc trang bị,
quản lý và sử dụng xe ôtô phục vụ công tác trong cơ quan, doanh nghiệp thuộc
Bộ Tài chính. Việc đưa các thông tin mang tính suy diễn, không đúng sự thật đã
gây bức xúc trong dư luận xã hội và làm mất uy tín của ngành Tài chính.
Vấn đề thông tin thiếu khách quan và không đảm báo tính trung thực
trên báo chí đã dẫn đến lỗi sai thông tin. Ở đề tài nghiên cứu của mình, tôi xin
đưa ra những kiểu thông tin sai mà báo chí hiện nay thường gặp:


11
a, Thông tin sai do lỗi kỹ thuật của quá trình in ấn, đánh máy
Đây là dạng lỗi sai được xếp vào những lỗi thông tin do yếu tố kỹ thuật.
Bao gồm cả những lỗi sai về chính tả, sai về từ. Dạng này cũng được xếp vào
lỗi sai kỹ thuật là do quá trình đọc bản bông còn chưa tỉ mỉ. Những lỗi sai này
có thể làm khuyết đi thông tin, làm mất một phần câu chữ, độc giả có thể khó
hiểu với chữ bị sai, bị thiếu nhưng ngữ nghĩa của cả câu, của cả đoạn văn bản
báo chí đó ít thay đổi. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, lỗi sai về yếu tố kỹ
thuật này cũng có mức độ nghiêm trọng nhất định.
Trường hợp trên trang VnExpress sau đây là một ví dụ:
Bài “Không để thí sinh đăng ký đại học như chơi xổ số” đăng ngày
18/2/2011 có đoạn như sau: “Chúng ta không thể để học sinh đăng ký nguyện
vọng như chơi sổ xố, đến cuối cùng mở ra mới biết kết quả mà hãy để các em

thấy rõ cơ hội của mình, phải chọn trường phù hợp với kết quả cho đến khi
nào không thể lựa chọn được nữa. Chúng ta sẽ không hạn chế cơ hội của các
em", Bộ trưởng Luận nói””.
Cùng một từ “xổ số” nhưng cách viết trên tít khác với cách viết trong
bài làm cho độc giả thực sự băn khoăn.
Điều đáng chú ý là theo Tiến sĩ Nguyễn Ái Việt, Phó Viện trưởng Viện
Công nghệ thông tin, ĐHQG Hà Nội, tại họp báo công bố “báo cáo tình hình
chính tả văn bản Tiếng Việt” tổ chức 28/7/2010 cho biết: Các tờ báo mạng
đang là đối tượng mắc lỗi chính tả nặng nề nhất có tỷ lệ lỗi trung bình lên tới
9,58%. Đặc biệt, Đài tiếng nói Việt Nam, cơ quan truyền thông lớn của Chính
phủ, lại đứng đầu về tỷ lệ lỗi chính tả với hơn 30%. Các báo điện tử
Vnexpress, Việt báo và báo điện tử 24h cũng đều có tỷ lệ lỗi trên 20%.
Đôi lúc, lỗi trên báo chí lại do mất từ, sai từ. Ví dụ bài viết về bà
Hillary Clinton là cựu để nhất phu nhân thì có tờ báo viết sai thành: Hillary
Clinton, cựu đệ nhất phân.

12
Về vấn đề lỗi sai này, còn rất nhiều trường hợp nữa. Nhưng về cơ bản,
các báo khi sửa sai thường “làm trong lặng lẽ”. Tức là báo mạng thì tự sửa lại
lỗi đã có trên bài. Báo in do đã lên khuôn, bán ra thị trường nên thường không
sửa, nếu sửa thì chỉ là “rút kinh nghiệm” những trường hợp sau.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp như báo Lao Động, chủ động sửa lỗi sai
mang tính kỹ thuật này dưới dạng một đính chính như sau:
Báo Lao Động số 209 ra ngày 11.9 trong bài “Chết ở phút 89” có một
lỗi kỹ thuật. Trong đoạn đầu đọc đúng là “Chỉ còn đúng 4 ngày nữa (15.9),
cuộc bầu chọn Còi vàng, Còi bạc 2008 đến hạn nộp phiếu…”. Báo Lao Động
và tác giả xin chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc
Bài viết được đính chính có lỗi kỹ thuật như sau:
“Chỉ còn đúng 4 ngày nữa (15.9), cuộc bầu chọn Còi vàng, Còi bạc
2008 đến hạn nộp phiếu…”

Như vậy, lỗi được báo đính chính ở đây là dấu cách quá nhiều trước
chữ “cuộc” trong đoạn văn.
b. Lỗi từ nội dung thông tin của bài báo
Đây thực sự là vấn đề nghiêm trọng đối với những người làm báo và
nền báo chí nói chung. Nội dung thông tin của bài báo sai là do một vài
nguyên nhân trong quá trình thu thập xử lý nguồn tin của nhà báo chưa hoàn
toàn chính xác, chưa đảm bảo tính khách quan trung thực. Lỗi sai về nội dung
này cũng có những cấp độ khác nhau.
Một là: Sai những chi tiết trong bài: Có thể hiểu là thông tin trong cả
một bài viết có chỗ chưa đúng. Ví dụ như sai tên người, sai tên địa danh, sai
tên chủ thể nào đó. Sai trong cách trích dẫn phát ngôn…
Trên báo Lao Động số 25 năm 2008 có bài viết “Nhiệm vụ trọng tâm
của công đoàn cao su Việt Nam năm 2008: Đẩy mạnh công tác dân vận” có
trích dẫn lời ông Lê Thanh Bình – Chủ tịch công đoàn Cao su Việt Nam.
Nhưng trên thực tế đây là những nội dung góp ý với báo cáo tổng kết của

13
Công đoàn Cao su Việt Nam chứ không phải ý kiến của ông Lê Thanh Bình.
Như vậy là báo đã lấy nguồn trích dẫn sai.
Hai là: Sai toàn bộ ý nội dung thông tin của bài viết
Đây được xem là lỗi sai trầm trọng đối với cơ quan báo chí và người
làm báo. Vì lỗi sai này đã làm sai lệch hoàn toàn nội dung thông tin. Dẫn đến
hiểu lầm về danh dự cá nhân nếu đó là viết về nhân vật, dẫn đến mất uy tín
của các cơ quan tổ chức nếu đó là bài viết về các tổ chức hay công ty. Dẫn
đến hoang mang trong xã hội nếu đó là bài viết về các vấn đề thuộc lĩnh vực
dân sinh, xã hội, và dẫn đến thiệt hại về kinh tế nếu đó là những bài viết có
nhận định thiếu khách quan trung thực về các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế -
tài chính.
Ngày 18/11/2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu
Bộ Thông tin và Truyền thông báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả xử lý cụ

thể đối với phóng viên của Báo điện tử Vietnamnet có sai phạm trong việc
đưa tin về công nghệ tẩy trắng trứng gà ta.
Theo đó, Báo điện tử Vietnamnet đã đưa tin phản ánh tình trạng một số
cơ sở trên địa bàn xã Đông Hội, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội, sử dụng hóa
chất để tẩy trắng trứng gà nhập lậu từ Trung Quốc, tiêu thụ trên thị trường
Việt Nam. Thông tin trên đã khiến dư luận đặc biệt quan tâm và các cơ quan
chức năng phải vào cuộc xác minh.
Kết quả kiểm tra của các cơ quan liên ngành an toàn vệ sinh thực phẩm
TP. Hà Nội cho thấy, chưa phát hiện được cơ sở nào sử dụng hóa chất để tẩy
trắng trứng gà cũng như tiêu thụ trứng gà được tẩy trắng ngoài thị trường như
báo đã nêu. Ngày 21/10/2009, UBND TP Hà Nội cũng đã có văn bản khẳng
định thông tin về việc này như tờ báo đã nêu là không chính xác.
Như vậy, đây là trường hợp bài báo đã sai toàn bộ nội dung thông tin
trong bài viết của mình. Với trường hợp những lỗi sai nghiêm trọng này, các
cơ quan báo chí và người viết bài sẽ bị xử phạt, tùy theo tính chất và mức độ

14
sự việc sẽ ở mức hành chính hay truy tố trước pháp luật. Và tất nhiên, các nhà
báo và cơ quan báo chí đưa sai nội dung thông tin buộc phải cải chính trên
báo mình để thông báo lại nội dung thông tin đã đưa là thiếu tính chính xác và
có lời xin lỗi đối với chủ thể bài báo đề cập đến và xin lỗi độc giả.
Vậy, chúng ta hiểu rằng: Báo chí đưa nội dung thông tin sai, thì cần cải chính.
Theo Từ điển Tiếng việt: Từ “Cải chính” được hiểu là: Sửa lại cho đúng.
Còn đính chính được hiểu là: Sửa lại cho đúng những chỗ in, viết, nói sai
Theo cách giải thích rộng hơn, “Cải chính’’ được hiểu là lời của toà soạn
hay của một cơ quan, một tổ chức, một cá nhân bác bỏ một thông tin hoặc một
nhận xét sai và nói rõ trên các phương tiện thông tin đại chúng, ý kiến mà mình
khẳng định là đúng về việc ấy. Cải chính thường đồng nghĩa với đính chính.
Như vậy, trong hoạt động báo chí nói chung, cải chính được hiểu là : Lời của
một cơ quan báo chí về việc bác bỏ, hay sửa lại những thông tin đã đăng, phát, sai

nội dung trên ấn phẩm của cơ quan mình và khẳng định lại thông tin đúng.
1.2. Cơ sở pháp lý của cải chính thông tin sai trên báo chí
Phải khẳng định rằng, cải chính là một hoạt động nghề nghiệp không
thể thiếu của nghề báo và của người làm báo. Bởi trên thực tế, chưa từng có
cơ quan báo chí nào trong quá trình hoạt động nghiệp vụ không có lúc sai.
Tuy nhiên, vấn đề cải chính cũng có tính pháp lý khi có những văn bản quy
định luật cụ thể về vấn đề này.
1.2.1 Những vấn đề cải chính được quy định trong Hiến pháp năm
1992 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999
Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại
điều 33 và điều 69 có quy định về những vấn đề liên quan đến báo chí như sau:
Điều 33 ghi rõ: “Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát
thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin
đại chúng khác. Nghiêm cấm những hoạt động văn hoá, thông tin làm tổn hại

15
lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người
Việt Nam”.
Điều 69 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí;
có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định
của pháp luật”.
Hiến pháp mặc dù không nói cụ thể đến những vấn đề cải chính, nhưng
đã quy định nghiêm cấm những hoạt động văn hóa thông tin làm tổn hại đến
lợi ích đất nước, đến đời sống văn hóa và nhân cách của người Việt Nam.
Vấn đề này được cụ thể hóa hơn trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Báo chí năm 1999 - Đây là văn bản pháp quy chính thức nhất cho hoạt
động báo chí nước nhà. Vì đến thời điểm hiện tại, dù đã trình Quốc hội nhưng
Luật báo chí sửa đổi năm 2010 vẫn chưa được chính thức thông qua.
Vấn đề cải chính được quy định cụ thể ở điều 9 và 10.
“Điều 9. Cải chính trên báo chí

Báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống xúc phạm danh dự
của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân thì phải cải chính và xin lỗi
hoặc đăng, phát sóng lời cải chính của tổ chức, công dân. Trong trường hợp
báo chí không cải chính hoặc cải chính không thoả đáng; không đăng, phát
sóng lời cải chính của tổ chức, công dân mà không có lý do chính đáng thì họ
có quyền khiếu nại với cơ quan chủ quản báo chí hoặc yêu cầu Toà án xét xử.
Lời cải chính của cơ quan báo chí của tổ chức, công dân phải được
đăng, phát sóng kịp thời và tương xứng với thông tin cần cải chính.
Điều 10. Những điều không được thông tin trên báo chí
Để quyền tự do ngôn luận trên báo chí được sử dụng đúng đắn, báo chí
phải tuân theo những điều sau đây:
1- Không được kích động nhân dân chống Nhà nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân;

16
2- Không được kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây
hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác;
3- Không được tiết lộ bí mật Nhà nước: bí mật quân sự, an ninh, kinh
tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định;
4- Không được đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm
danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân.”
Như vậy điều khoản cụ thể của vấn đề cải chính trên báo chí đã nêu rõ
nếu báo chí đăng tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống xúc phạm danh dự của tổ
chức, danh dự, nhân phẩm của công dân thì phải cải chính. Đồng thời, điều
luật này cũng khẳng định, mọi sự cải chính của cơ quan báo chí phải được
đăng, phát kịp thời và tương xứng với thông tin cải chính. Vấn đề này được
hiểu là, thông tin sai đến đâu, phải cải chính đến đó. Tùy vào tính chất mức độ
sai của thông tin đã đăng phát để cải chính cho phù hợp và tất nhiên, việc cải
chính phải kịp thời, không để quá lâu sau khi thông tin sai.
Điều 10 không quy định cụ thể về vấn đề cải chính, nhưng thực chất

đây là nguyên tắc của những người làm nghề để không vi phạm vào những
vấn đề không được thông tin dẫn đến việc phải tiến hành cải chính hoặc nặng
hơn là chịu trách nhiệm trước pháp luật.
LS-TS Phan Đăng Thanh cho biết: Trên thực tế, dự án Luật Báo chí sửa
đổi bổ sung năm 2010 khi được trình Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam cũng có điều liên quan đến vấn đề cải chính rất được chú ý và bàn
luận: Trong đó dự án Luật Báo chí mới bổ sung này có đưa hẳn cách thức cải
chính vào Luật: “Cơ quan báo chí phải cải chính, xin lỗi trên báo chí của mình
“vào đúng vị trí với cùng một kiểu, cỡ chữ, đúng chuyên mục đã phát sóng mà
báo chí đã đăng, phát thông tin”.
Đây là điều luật sửa đổi được kế thừa từ Nghị định 51 quy định chi tiết
thi hành Luật Báo chí 1999.

17
1.2.2 Quy chế cải chính trên báo chí của Bộ Văn hóa Thông tin ban
hành năm 2007
Đây được hiểu là văn bản cụ thể nhất quy định các vấn đề cải chính
thông tin trên báo chí hiện nay. Theo đó, Quy chế cải chính trên báo chí gồm
6 điều (xem phụ lục 1) quy định cụ thể phạm vi và đối tượng điều chỉnh;
những nội dung thông tin phải cải chính, yêu cầu cải chính và đăng phát ý
kiến của tổ chức, cá nhân; thời hạn cải chính; khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm.
Có thể nói, quy chế này đã quy định chi tiết và là văn bản mang tính soi
chiếu cho hoạt động cải chính trên báo chí nói chung, báo in nói riêng. Trong
đó, cũng có quy định về những nội dung thông tin cần phải cải chính mà
phóng viên, người viết bài phải chú ý đến để tránh tinh trạng thông tin sai.
Tại Điều 2 của quy chế này có quy định những nội dung thông tin phải
cải chính. Theo đó, cơ quan báo chí, tác giả tác phẩm báo chí phải thực hiện
việc cải chính thông tin đã đăng, phát trên báo chí trong các trường hợp sau:
1. Thông tin sai sự thật;
2. Thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín tổ chức; xúc phạm

danh dự, nhân phẩm cá nhân.
3. Thông tin gây hiểu lầm làm tổn hại đến uy tín, danh dự, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân và xã hội.
Hiện nay, thực tế làm báo đã chỉ ra rằng, thông tin sai sự thật đang là
lỗi nội dung báo chí dễ mắc phải nhất. Trong đó, tính chất mức độ nghiêm
trọng của việc thông tin sai sự thật này cũng khác nhau. Có thể là sai các chi
tiết, cũng có thể là sai nội dung thông tin cốt lõi. Thêm vào đó, việc thông tin
gây mơ hồ, hiểu lầm cũng là lỗi mà người viết bài dễ mắc phải.
Điều 3 trong quy chế cải chính là phần xác định rõ nhất nội dung và
hình thức của thông tin cải chính phải đảm bảo nếu đã để xảy ra tình trạng
thông tin sai.

18
Tại điều này, quy định chi tiết về nội dung tin cải chính bao gồm: Thông tin
cải chính phải nêu rõ những thông tin nào sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc
phạm uy tín tổ chức; danh dự, nhân phẩm của cá nhân đã đăng, phát trong tác phẩm
báo chí và nội dung thông tin được cải chính.
- Lời xin lỗi của cơ quan báo chí, tác giả tác phẩm báo chí được đăng,
phát liền sau nội dung thông tin cải chính.
- Gửi văn bản thông báo việc cải chính trên báo chí và lời xin lỗi đến tổ
chức, cá nhân có liên quan.
Cũng trong điều này, vị trí và hình thức của thông tin cải chính cũng
được quy định cụ thể: Thông tin cải chính, xin lỗi, văn bản kết luận, ý kiến
phát biểu phải được đăng, phát đúng vị trí, đúng chuyên mục, đúng số trang
với cùng một kiểu, cỡ chữ (đối với báo in, báo điện tử), đúng chuyên mục, giờ
phát sóng, số lần phát sóng (đối với báo nói, báo hình) mà báo chí đã đăng,
phát thông tin. Các báo điện tử, trang tin điện tử phải xoá ngay thông tin
thuộc diện phải cải chính
- Khi đăng, phát thông tin cải chính, xin lỗi, văn bản kết luận, phải ghi,
nói rõ: “Cải chính nội dung thông tin trong tác phẩm báo chí (tên tác phẩm

báo chí) đã đăng, phát trên báo, đài (tên cơ quan báo chí) số, ngày phát hành,
ngày, giờ phát sóng”.
- Khi đăng, phát ý kiến phát biểu, phải ghi, nói rõ: “Thông tin phản hồi
về nội dung thông tin trong tác phẩm báo chí (tên tác phẩm báo chí) đăng,
phát trên báo, đài (tên cơ quan báo, đài) số báo, chuyên mục phát hành, phát
sóng… (số báo) phát hành, phát sóng ngày tháng năm…” của tổ chức, cá
nhân (tên tổ chức, cá nhân).
Trong quá trình nghiệp vụ, tính thời gian của thông tin cải chính cũng
rất được chú trọng. Theo đó, quy định về thời hạn cải chính cũng phải đảm
bảo theo đúng yêu cầu đối với từng loại hình báo chí. Chậm nhất là là sau 01
(một) ngày đối với báo chí điện tử trên mạng Internet, sau 5 (năm) ngày đối

19
với báo in ra hàng ngày, cách ngày đối với báo nói, báo hình. Trường hợp
chuyên mục một tuần một lần thì phát vào thời gian phát chuyên mục kế tiếp.
Đối với báo tuần thì thời hạn cải chính chậm nhất là sau 10 ngày.
Riêng trường hợp tạp chí xuất bản trên 30 (ba mươi) ngày/ kỳ, ngoài
việc phải đăng trên tạp chí đó trong số ra gần nhất, thì chậm nhất là sau 7
(bảy) ngày còn phải đăng trên một tờ báo hàng ngày hoặc đài phát thanh, đài
truyền hình có phạm vi phát hành, phủ sóng tương đương với phạm vi phát
hành của tạp chí và phải chịu toàn bộ chi phí về việc đăng, phát thông tin.
Như vậy tại Quy chế này, các vấn đề cụ thể của vấn đề cải chính đã
được xác định chi tiết. Quy chế này là thước đo cho cách thức cải chính trên
báo chí hiện nay. Giúp định dạng nội dung và hình thức của thông tin cải
chính đối với tất cả các báo. Theo đó, nếu cơ quan báo chí vi phạm các quy
định của quy chế này có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự theo đúng quy định của pháp luật.
Mức phạt hành chính cũng được quy định cụ thể tại Điều 7 trong Nghị
định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí xuất bản
của Chính phủ năm 2011. (Xem phụ lục 3).

Điều này khẳng định rằng: Hoạt động cải chính trên báo chí là hoạt
động có cơ sở pháp lý cao và cụ thể, rõ ràng. Được quy định, hướng dẫn bằng
hệ thống văn bản pháp quy chặt chẽ. Nhà báo và cơ quan báo chí tất nhiên
phải xem xét các yếu tố này để đảm bảo vấn đề đúng pháp luật khi tiến hành
thu thập thông tin, hạn chế ít nhất tin sai, không viết những thông tin Nhà
nước và Pháp luật nghiêm cấm. Đồng thời, có ý thức tiến hành cải chính tin
sai theo đúng luật hiện hành.
1.3 Ý nghĩa của việc cải chính thông tin sai trên báo chí
1.3.1 Từ văn hóa xin lỗi trong giao tiếp của người Việt
Vấn đề xin lỗi thuộc phạm trù văn hóa. Trong cuộc sống, đôi khi chúng
ta mắc sai lầm và phải xin lỗi người khác để được tha thứ. Đó vốn dĩ là một
chuyện bình thường, bởi đã làm sai phải nói lời xin lỗi.

20
Tác giả Duyên Trường trong bài “Câu chuyện văn hóa: Xin lỗi” đăng
trên Báo Tuổi trẻ, có viết: “Ở Singapore, những lời xin lỗi trước rất phổ biến!
Khi phải thay bóng đèn trong lối đi ở trung tâm thương mại, sửa chữa thang
máy tại nhà ga xe điện, lắp đặt hệ thống cáp ngầm trên đường phố hoặc thi
công công trình cao ốc mấy ngàn mét vuông lập tức người ta treo ngay tấm
biển chữ to ghi rõ: “Chúng tôi thành thật xin lỗi quí khách vì những phiền
phức đã gây ra trong quá trình thực hiện”!
Xin lỗi được đánh giá là dấu hiệu của lòng tự trọng cá nhân, của văn
minh xã hội. Và tất nhiên, người ta sẽ nhìn vào những biểu hiện của việc xin
lỗi trong xã hội ấy để đánh giá sự phát triển của một xã hội.
Tuy nhiên, chúng ta cũng nên hiểu rằng: Xin lỗi phải đi kèm với một nỗ
lực tối đa để sửa chữa sai lầm, để khắc phục hậu quả. Chứ không phải xin lỗi
rồi để đấy.
Xin khẳng định: “Nói lời xin lỗi” là nét văn hóa chung của cả nhân loại.
Tùy theo những ngữ cảnh khác nhau mà con người ta sử dụng theo cách khác
nhau. Một yếu tố làm nên cái đẹp hơn nữa trong "văn hóa xin lỗi ", đó chính

là hành động phải đi đôi với lời nói. Cách nói lời xin lỗi, cùng với ngữ âm,
ngữ điệu và thái độ là những yếu tố quan trọng tạo nên sự lịch sự và chân
thành trong giao tiếp.
Trên thực tế, ở nhiều Quốc gia Châu Á, chuyện xin lỗi là điều không
thể thiếu trong văn hóa giao thiếp, thậm chí cả trong điều hành xã hội. Ví dụ
như Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan đã cúi mình xin lỗi trước nhân dân khi
có sự cố hạt nhân ở nhà máy điện Fukusima 1 trong thảm họa động đất và
sóng thần Nhật Bản tháng 3/2011.
Trong giao tiếp của người Việt, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và
trọng sự hòa thuận. Vi vậy, khi phạm phải vấn đề sai trong lời nói, chuyện xin
lỗi là điều nhất thiết cần thiết để đảm bao giao tiếp trong sự hòa thuận và
được kéo dài. Người Việt Nam có một hệ thống nghi thức lời nói rất phong

21
phú. Nghi thức lời nói trong lĩnh vực cách nói lịch sự cũng rất phong phú. Do
truyền thống nặng về tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không có
những từ cảm ơn, xin lỗi khái quát dùng chung cho mọi người trường hợp như
người phương Tây. Cũng như trong xưng hô, đối với mỗi người ta có một
cách cảm ơn, xin lỗi khác nhau.
Báo chí là một loại hình của truyền thông và tất nhiên nó có sự giao
tiếp giữa các chủ thể dù trực tiếp hay không. Có thể là giao tiếp giữa bạn đọc
với nhau, có thể là giữa tòa soạn và bạn đọc. Và nội dung của giao tiếp này
không gì khác chính là: Thông tin. Vì vậy, khi cơ quan báo chí thông tin sai,
điều không thể bàn cãi là phải có lời xin lỗi. Soi vào quy chiếu văn hóa Việt
Nam với sự trang trọng trong lời nói, trong nghi lễ nói thì việc này, các cơ
quan báo chí phải đặt trong hoàn cảnh trang trọng, trong mục có tính chất
trang trọng và không thể thiếu sự chân thành.
Cải chính trên báo chí, được hiểu là thông tin lại những gì mình đã làm
sai, vậy nên, việc cải chính luôn đi cùng với lời xin lỗi của cơ quan báo chí.
Đây là vấn đề vừa thuộc lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp, vừa thuộc vấn đề có

tính pháp lý cao, lại chứng tỏ văn hóa giao tiếp, văn hóa phản hồi của cơ quan
báo chí.
1.3.2 Từ góc độ tiếp cận của độc giả
Trong cuốn sách mang tên “Ghế” của nhà báo lão thành Hữu Thọ, có
một tiểu phẩm mang tên “Nói như bố người ta” trong đó có đoạn như sau:
“Dẫn chứng của một số bài báo lên mặt dạy đời, trịch thượng: Phê phán thì
như chửi rủa, ăn nói hàm hồ, vơ đũa cả nắm, góp ý thì như dỗ con nít, còn
“kiến nghị” thì như lên giọng cha chú! Rồi bảo là tranh luận nhưng cứ cho ý
kiến của mình là đúng. Sai sót thì “nói lại” hoặc “cải chính” sơ sơ, đăng bé
như cái bao diêm. Có cố ý lắng nghe, thông cảm cũng không nghe nổi, không
thông cảm nổi”.

×