đại học quốc gia h nội
Trờng đại học khoa học xã hội v nhân văn
*********
Trần thị thanh quỳnh
Nghiên cứu câu đối-
một thể loại hán văn thông qua khảo sát
di sản câu đối tại các di tích tiêu biểu của
thăng long-h nội
Luận văn thạc sĩ khoa học
Chuyên ngnh hán nôm
Mã số: 60 22 40
Ngời hớng dẫn: pgs.ts nguyễn văn thịnh
H nội - 2008
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
LỜI CAM ĐOAN 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lí do chọn đề tài 7
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu 10
5. Đóng góp của luận văn 10
6. Cấu trúc luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 12
Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỂ LOẠI CÂU ĐỐI 12
1.1. Nguồn gốc của câu đối 12
1.1.1. Câu đối ở Trung Quốc 12
1.1.2. Câu đối ở Việt Nam 17
1.2. Căn cứ lí luận của câu đối: 19
1.3. Nghệ thuật của câu đối: 21
Chương 2: 24
NGHIÊN CỨU THỂ LOẠI CÂU ĐỐI THÔNG QUA 24
PHÂN TÍCH HỆ THỐNG CÂU ĐỐI Ở CÁC DI TÍCH ĐƯỢC KHẢO SÁT
24
2.1. Đặc điểm của câu đối 24
2.1.1. Hình thức đối xứng 26
2.1.2. Nội dung tương quan 30
2.1.3. Văn tự tinh giản 31
2.1.4. Tiết tấu độc đáo 32
2.2. Quy tắc của câu đối 33
2.2.1. Lập ý(
立意
) 33
2.2.2. Thủ tượng (
取象
) 34
2.2.3. Ngôn chí (
言志
) 38
2.2.4. Trữ tình (
抒情
) 39
2.2.5. Chương pháp (
章法
) 41
3
2.3. Tiết tấu của câu đối 41
2.3.1. Tiết tấu đẹp của câu đối 42
2.3.2. Cách điệu của câu đối 45
2.3.2.1. Cách điệu luật thi 45
2.3.2.2. Cách điệu từ 46
2.3.2.3. Cách điệu dân ca 46
2.3.2.4. Cách điệu tản văn 47
2.3.2.5. Cách điệu hí văn 48
2.3.2.6. Cách điệu khúc 49
2.3.2.7 Cách điệu câu đố 49
2.3.2.8. Cách điệu biền văn 50
2.4. Từ loại và từ tính của câu đối 51
2.4.1. Đối thực từ: 55
2.4.1.1. Đối danh từ 55
2.4.1.2. Đối động từ 56
2.4.1.3. Đối tính từ 56
2.4.1.4. Đối số lượng từ 56
2.4.1.5. Đối đại từ 58
2.4.2. Đối hư từ: 58
2.4.2.1. Đối giới từ 58
2.4.2.2. Đối phó từ 59
2.4.2.3. Đối trợ từ 59
2.4.2.4. Đối liên từ 59
2.4.2.5. Đối thán từ 60
2.5. Cú pháp và kết cấu của câu đối 60
2.5.1. Cú pháp của câu đối 60
2.5.1.1. Quan hệ liệt kê 61
2.5.1.2. Quan hệ liên quan 61
2.5.1.3. Quan hệ tăng tiến 61
2.5.1.4. Quan hệ giả thiết 62
2.5.1.5. Quan hệ điều kiện 62
2.5.1.6. Quan hệ chuyển triết 63
2.5.1.7. Quan hệ lựa chọn 63
4
2.5.1.8. Quan hệ nhân quả 63
2.5.1.9. Quan hệ mục đích 64
2.5.2. Kết cấu của câu đối 64
2.5.2.1. Đối xứng và liên quan 65
2.5.2.2. Thường thức và biến thức 66
2.6. Âm luật và bằng trắc của câu đối 67
2.7. Tập cú và phỏng cải của câu đối 81
2.7.1. Liên tập cú 81
2.7.1.1. Tập thi cú 83
2.7.1.2. Tập từ cú 84
2.7.1.3. Tập sử thư cú 84
2.7.1.4. Tập văn cú 84
2.7.1.5. Tập Phật kinh cú 85
2.7.1.6. Thành ngữ đối 85
2.7.2. Liên phỏng cải 86
2.8. Sử dụng điển cố trong câu đối 87
2.9. Phân loại câu đối 90
Chương 3: CÂU ĐỐI HÀ NỘI 94
3.1. Khái quát về câu đối Hà Nội 94
3.2. Nội dung và nghệ thuật của câu đối Hà Nội 95
3.2.1. Nội dung của câu đối Hà Nội 95
3.2.1.1. Miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên 95
3.2.1.2. Tuyên ngôn về giáo lí 96
3.2.1.3. Thể hiện tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc 98
3.2.1.4. Ca ngợi công tích của các vị thần, thánh, Phật 99
3.2.2. Nghệ thuật của câu đối Hà Nội 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHẦN PHỤ LỤC 107
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Có thể nói câu đối là một sản phẩm ngữ văn về mặt thể loại. Nó giống
như một bài thơ ngắn hội tụ đầy đủ nội dung tư tưởng, phản ánh quan điểm, tình
cảm của người sáng tác, thể hiện trình độ, tài năng của tác giả thông qua biện
pháp tu từ, chọn chữ, cách luật, sử dụng điển cố… Ngày nay, tại các di tích l
ịch
sử, văn hóa, tôn giáo, nơi duy trì các lễ hội truyền thống vẫn còn lưu giữ được
di sản câu đối, thậm chí sáng tác câu đối còn tồn tại như một hình thức sinh hoạt
văn hóa.
Ở Việt Nam, ngoài câu đối chữ Hán còn xuất hiện câu đối Nôm, câu đối
chữ Quốc ngữ. Điều này chứng tỏ, ngoài những nước đồng văn tự khối vuông
như Nhật Bản, Hàn Quốc, câu
đối còn xuất hiện ở loại hình chữ latinh (chữ
Quốc ngữ), và ngôn ngữ thuần Việt (chữ Nôm) ở Việt Nam. Đó cũng chính là
nét độc đáo của câu đối Việt. Vì vậy, câu đối chữ Hán dễ dàng đi vào quần
chúng, khởi nguồn cho tư duy câu đối dân gian. Ở đây câu đối được đi theo con
đường từ trí thức đến dân gian, khác với ca dao, tục ngữ có chiều ngược lại từ
dân gian xâm nhậ
p vào tầng lớp trí thức.
Ngoài ra, câu đối còn có tính thời sự, văn hóa. Hiện nay, những người
sáng tác câu đối tuy không nhiều nhưng phần lớn số họ đều say sưa với việc
sáng tác và sáng tác có hiệu quả. Sáng tác câu đối thường gắn liền với nghệ
thuật thư pháp vì nó có quan hệ mật thiết với nghệ thuật trang trí và trưng bày
truyền thống. Do đó cũng có thể coi câu đối là nơi bảo tồn thư
pháp của nhiều
thế hệ. Hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh hoạt động sáng
tác thư pháp câu đối đã diễn ra thường xuyên và mang nét văn hóa Hán Nôm sâu
sắc.
Hà Nội xưa là trung tâm văn hóa, học tập khoa cử, tập hợp anh tài bốn
phương… Hướng tới kỉ niệm một ngàn năm Thăng Long-Hà Nội, rất nhiều công
trình văn hóa mang tính vật thể và phi vật thể đã được thai nghén và thực hiện
nhân dịp kỉ niệm này. Một trong những vấn đề được mọi người hết sức quan tâm
đó chính là những di sản văn hóa có gắn bó mật thiết và phản ánh đời sống văn
hóa, xã hội, giáo dục Hà Thành xưa. Hệ thống câu đối di tích Hà Nội cũng là
một đối tượng quan trọng đáng để nghiên cứu.
8
Ở Việt Nam đã có một số cuốn sách viết về câu đối, trình bày những nét
chung nhất về mặt thể loại như: Câu đối Việt Nam của Tạ Phong Châu, Việt
Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Việt Hán văn khảo của Phan Kế
Bính và gần đây là cuốn 3000 câu đối hoành phi Hán Nôm, 5000 câu đối
hoành phi Hán Nôm (Trần Lê Sáng chủ biên), Câu đối trong văn hóa Vi
ệt
Nam của Nguyễn Hoàng Huy, Từ điển văn học (bộ mới)… Ở Trung Quốc đại
lục và Đài Loan việc nghiên cứu câu đối về mặt thể loại được coi trọng. Các
công trình nghiên cứu, giáo trình, bài tham luận đã trình bày khá hệ thống về thể
loại câu đối. Trong luận văn thạc sỹ này, chúng tôi tiến hành tham khảo, hệ
thống nhiều nguồn tài liệu và với quan đ
iểm cá nhân để đưa ra những ý kiến và
lập luận được coi là hợp lý nhất.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Câu đối đã xuất hiện ở nước ta từ khá sớm và được coi là một trong
những loại hình văn hóa phổ biến - đó là một quan niệm truyền thống về câu đối.
Hiện nay, không phải ai cũng xem câu đối như một thể loại văn học, theo đ
ó
cũng có rất ít người trình bày về thể loại câu đối một cách hệ thống mà chỉ coi
nó là nền móng của thể phú, biền văn và thơ cách luật. Các tác phẩm nghiên cứu
về câu đối cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay, hơn nữa, phần lớn trong số đó
chỉ điểm xuyết, giới thiệu ngắn gọn về loại hình câu đối. Sau đây chúng tôi xin
được giới thiệu m
ột số tác phẩm có viết về câu đối:
Cuốn Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Mặc Lâm xuất bản, 1970 và
được in lại đầu thế kỉ XX, giới thiệu một cách sơ lược nhất về câu đối. Phan Kế
Bính đã xếp câu đối vào lối văn không vần, khác với thơ, phú, văn tế, minh,
trâm, tán, ca ngâm khúc điệu thuộc lối có vần.
Cuốn Câu đối Việ
t Nam của Tạ Phong Châu, Nxb Văn sử địa, 1959 được
xem là tác phẩm có trình bày một cách đầy đủ và hệ thống về câu đối ở Việt
Nam. Câu đối Việt Nam trình bày những vấn đề lý luận xung quanh câu đối,
giới thiệu những câu đối nổi tiếng và giai thoại về nó.
Cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Nxb Trẻ, 1999
tuy chưa nhiều nhưng c
ũng nhắc đến câu đối, phép đối trong số rất nhiều các thể
loại văn học khác.
Cuốn 3000 hoành phi câu đối Hán Nôm, Trần Lê Sáng chủ biên, Nxb
Văn hóa thông tin, 2002 và cuốn 5000 hoành phi câu đối Hán Nôm cũng do
Trần Lê Sáng chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin, 2006 chủ yếu là tiến hành sưu
9
tầm hoành phi và câu đối. Trong phần Lời tựa có giới thiệu sơ lược về nội dung
và nghệ thuật của câu đối.
Cuốn Từ điển văn học (bộ mới), Đỗ Đức Hiêu chủ biên, Nxb Thế Giới,
2001 trình bày ngắn gọn về câu đối về mặt nội dung, nghệ thuật, phân loại…
Công trình nghiên cứu: Câu đối Hán Nôm trong các di tích lịch sử-văn
hóa tiêu biểu nội thành Hà N
ội mã số QX 2001-08, Lê Anh Tuấn chủ trì, 2004
giành một chương trình bày về câu đối với các giải thuyết truyền thống trong đó
có quan niệm về câu đối, các hình thức câu đối-phân loại, nội dung-nghệ thuật
của câu đối và câu đối trong các mối quan hệ với các thể loại văn học cổ.
Cuốn Câu đối trong văn hóa Việt Nam, Nguyễn Hoàng Huy, Nxb tổng
hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004 trình bày một cách sâu sát hơn so với các
cu
ốn sách kể trên về nguồn gốc câu đối, tổng quan và thực trạng, nội dung của
câu đối Việt Nam. Ngoài ra, cuốn Câu đối trong văn hóa Việt Nam còn trình
bày một phần khá đặc biệt, đúng như tên gọi của nó là vấn đề địa vị của câu đối
trong văn hóa Việt Nam.
Những tài liệu trên tuy ở mức độ rất ngắn gọn nhưng đều bàn đến tính văn
học c
ủa thể loại câu đối. Từ những ý kiến có tính gợi ý đó, luận văn của chúng
tôi tiến tới khẳng định câu đối là một thể loại Hán văn, hơn nữa là một thể văn
đặc biệt.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Như đã trình bày ở trên, phạm vi, đối tượng nghiên cứu của luận văn là
câu đối tại một số di tích văn hóa tiêu biểu củ
a Hà Nội mà cụ thể là mặt thể loại
Hán văn của câu đối. Tuy nhiên hệ thống câu đối ở Hà Nội vô cùng phong phú
với rất nhiều di tích và rất nhiều tác gia, vì vậy chúng tôi chỉ lựa chọn câu đối tại
các di tích văn hóa lịch sử tiêu biểu của Hà Nội. Về mặt các di tích cụ thể, tiêu
chỉ lựa chọn của chúng tôi là những di tích văn hóa nổi tiếng đã được xếp hạng,
có số
lượng câu đối tương đối nhiều và có tính đại diện như Chùa, Đình, Đền,
Quán, Phủ tiêu biểu… Trong luận văn, khi tiến hành phân tích, chúng tôi sẽ
chọn ra những câu đối phù hợp để làm ví dụ để minh họa cho những đặc điểm
thể loại của câu đối.
10
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dựa trên hai phương
pháp cơ bản là phương pháp văn bản học và phương pháp văn học (cụ thể là
nghiên cứu về mặt thể loại).
Chúng tôi đã sử dụng những phương pháp cụ thể như tiến hành điền dã,
sưu tầm câu đối tại một số di tích văn hóa, lịch sử tiêu biểu của Hà Nội.
V
ề phương pháp nghiên cứu câu đối với tư cách là một thể loại văn học,
trước hết chúng tôi đưa ra những lập luận cơ bản để khẳng định câu đối tồn tại
với tư cách là một thể loại văn học hay ít nhất cũng là một thể loại văn học đặc
biệt. Trên cơ sở đó, từ những ví dụ, chứng minh cụ th
ể (chủ yếu là phần câu đối
trên một số di tích tiêu biểu của Hà Nội kết hợp với một số câu đối bên ngoài
khác) để trình bày thể loại câu đối một cách tương đối hệ thống về nguồn gốc,
căn cứ lí luận, nội dung phản ánh, thủ pháp nghệ thuật, phân loại
5. Đóng góp của luận văn
Đóng góp về mặt lí luận: Luận văn đã trình bày có tính chấ
t lý thuyết về
mặt thể loại như nguồn gốc, căn cứ lí luận, đặc điểm, phân loại câu đối để có
cái nhìn toàn diện hơn về câu đối, chứng minh câu đối tồn tại với tư cách là một
thể loại văn học đặc biệt, có chỗ đứng ngang hàng với bất kì một thể loại văn
học nào khác.
Luận văn đã dịch thuậ
t một cách nghiêm túc, có so sánh, đối chiếu cẩn
thận, góp phần sưu tầm, hệ thống câu đối trên một số di tích văn hóa, lịch sử tiêu
biểu của Hà Nội.
Với những đóng góp trên, luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo
trong nghiên cứu, trong thực tế sáng tác câu đối cũng như sáng tác thơ, phú.
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn được trình bày theo 3 mục lớn: Mở đầu, nội dung và kết lu
ận.
Phần cuối của luận văn là phụ lục với bản phiên dịch câu đối ở các di tích văn
hóa, lịch sử tiêu biểu của Hà Nội.
Phần mở đầu:
Trình bày những vấn đề mang tính thông lệ của luận văn với 6 mục chính:
Lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, phạm vi-đối tượng nghiên cứu, phương pháp
nghiên cứu, đóng góp của luận văn, n
ội dung và cấu trúc luận văn.
11
Phần nội dung:
Chương 1: Giới thiệu chung về thể loại câu đối
Chương 2: Nghiên cứu thể loại câu đối thông qua phân tích hệ thống câu
đối ở một số di tích văn hóa, lịch sử tiêu biểu Thăng Long – Hà Nội.
Chương 3: Câu đối Hà Nội
Kết luận:
Phụ lục:
Bao gồm phần chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa và một số chú giải câu đối
tại các di tích đ
ã được lựa chọn.
12
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỂ LOẠI CÂU ĐỐI
1.1. Nguồn gốc của câu đối
1.1.1. Câu đối ở Trung Quốc
Có thể nói, câu đối là một “cây đại thụ” trong vườn văn học Trung Quốc
cũng như Việt Nam. “Câu đối”, chữ Hán là “
楹聯” (doanh liên), chính là “對
聯
” (đối liên), cũng gọi là “對子” (đối tử) hoặc là “聯語” (liên ngữ) và nó
phân chia thành hai liên trên, dưới đối nhau mà thành: Câu đối tết gọi là “xuân
liên”, chúc thọ gọi là “thọ liên”, viếng người qua đời gọi là “vãn liên”, chúc
mừng hôn lễ hay thăng chức gọi là “hỷ liên”, treo trên cửa hằng ngày gọi là
“môn thiếp” (“xuân liên” cũng là một loại “môn thiếp”). Ngoài ra phạm vi sử
dụng của câu đối vô cùng rộng lớn.
Nguồn gốc của câu đối nên truy xa về “đào phù”. Theo truyền thuyết thời
kỳ cổ đại, Đ
ông Hải Độ Sóc Sơn có một cây đào rất lớn, phía dưới có hai vị thần
là Thần Đồ và Uất Luật chuyên coi xét vạn quỷ, gặp bọn quỷ xấu, hại người hai
thần sẽ dùng dây lau để trói lại làm mồi cho hổ ăn thịt. Thế là Hoàng Đế khi làm
lễ xua qủy bèn lập tượng người bằng gỗ đào lớn vẽ Thần Đồ, Uất Luật và hình
hổ ở tr
ước cửa, đồng thời treo dây lau để chế ngự hung ma.
Từ “đào phù” đề cập đến “đối liên”, theo ghi chép của người Tống, bắt
đầu từ Hậu Thục thời kì Ngũ đại. Thục chủ Mạnh Sưởng lệnh cho học sỹ Hạnh
Dần Tốn đề đào phù ở tẩm môn. Mạnh Sưởng cho là từ ngữ không đối chuẩn
bèn tự viết một liên: “新年納余慶 , 佳节賀長春” (Tân niên n
ạp dư khánh, giai
tiết hạ trường xuân – Năm mới thêm nhiều phúc, tiết đẹp chúc xuân dài). Điều
này cho thấy câu đối bắt nguồn từ thời Hậu Thục. Vương An Thạch trong bài
thơ Nguyên đán đã viết “千門萬戶曈瞳日 , 总把新桃換舊符 ” (Thiên môn vạn
hộ đồng đồng nhật, tổng bả tân đào hoán cựu phù – Muôn cửa nghìn nhà trời
vừa rạng, đều đem gỗ đào mớ
i thay cho đào phù cũ) đã đủ để chứng minh điểm
này. Ghi chép của người đời Tống về những bức đối xuân nổi tiếng tương đối
nhiều. Trương Bang Cơ trong Mặc Trang mạn lục có thuật lại việc Tô Đông
Pha (Tô Thức) ở Hàng Châu, trong lúc thời khắc giao thừa sắp đến, viếng thăm
Vương Văn Phủ thấy ông ta đang làm đào phù bèn viết chơi m
ột liên đề trên đó:
13
“門大要客千騎入 , 堂深不覺百男讙 ” (Môn đại yếu khách thiên kỵ nhập,
đường thâm bất giác bách nam hoan – Cửa lớn khách quý nghìn người cưỡi
ngựa vào, sảnh sâu bỗng chốc trăm trai nô đùa). Vương Ứng Lân trong Khốn
học ký văn có ghi chép việc Lâu Công Quý (Lâu Công Thược) viết đào phù: “門
前莫約頻來客, 坐上同觀未見書 ” (Môn tiền mạc ước tần lai khách, tọa thượng
đồng quan vị kiến thư – Trước cửa không hẹn khách năng đến, ngồi trướ
c cùng
xem chưa thấy sách). Như vậy, chúng ta có thể thấy trào lưu viết câu đối lên trên
đào phù lúc bấy giờ rất thịnh hành, hơn nữa nó không chỉ giới hạn ở những bức
đối tết. Tôn Dịch trong Lý trai thị nhi biên có chép Hoàng Canh Tẩu phu nhân
sinh ngày 14 tháng 3, Ngô Thúc đã làm bức đối chúc thọ: “天邊將滿一輪月 , 世
上還鍾百歲人” (Thiên biên tương mãn nhất luân nguyệt, thế thượng hoàn
chung bách tuế nhân – Chân trời sắp đầy một vầng trăng, thế
gian còn chăng
người trăm tuổi). Chu Hy vào năm Thiệu Nguyên thứ 5 (năm 1194 sau công
nguyên), năm ấy ông 65 tuổi, tự viết một bức đối: “佩偉遵考訓 , 晦木謹師傳 ”
(Bội vĩ tuân khảo huấn; hối mộc cẩn sư truyền – Giữ đạo lớn phải noi theo sự
giáo huấn của cha anh; người tối tăm phải kính cẩn lời thầy dạy). Điều này cho
thấy câu đối chúc th
ọ hay tự thuật đã xuất hiện từ đời Tống. Cũng trong Khốn
học kỷ văn có ghi Lâu Thược viết câu đối chúc thọ Khương thị bảy mươi tuổi:
“今日王孫 , 猶有承平之故 态; 舊時竹馬 , 得見會昌之新春” (Kim nhật vương
tôn, do hữu thừa bình chi cố thái; Cựu thời trúc mã, đắc kiến hội xương chi tân
xuân – Ngày nay vương tôn còn có thói cũ, kế nối nền hòa; ngày xưa trúc mã
được gặp xuân m
ới, thỏa tốt tươi). Liên trên, liên dưới lặp lại chữ “之”, đó là
điều khó tránh khỏi của câu đối thời kì đầu, nếu bỏ đi từ này thì lại giống như
câu đối chúc thọ của thời kì sau. Lời điếu văn cũng gần giống như “vãn liên” bắt
đầu hình thành từ thời Tống. Sau này, trong cung điện miếu vũ, danh lam thắng
tích và cả các tiệm cơm quán r
ượu, đâu đâu cũng treo câu đối, cưới hỏi, chúc
mừng hay phúng viếng đều viết câu đối để thể hiện tình cảm. Trử Nhân Thế đời
Thanh trong Kiên hồ tập ghi Triệu Tử Ngang (Mạnh Phủ(Thiếu)) qua lầu
Nghênh Nguyệt ở Dương Châu, chủ lầu yêu cầu làm câu đối, Tử Ngang đề viết:
“春風阆苑三千客 , 明月楊州 第一樓 ” (Xuân phong lãng uyển tam thiên khách,
minh nguyệt Dương Châu đệ nhất lâu – Gió xuân thổi vườ
n rộng ba nghìn khách,
trăng sáng soi Dương Châu đệ nhất lầu), chủ nhân rất vui, ban thưởng cho Tử
Ngang. Tuyên Đỉnh đời Thanh trong Dạ vũ thu đăng lục thuật chuyện Trịnh
14
Bản Kiều (Trịnh Tiếp) khi ở Dương Châu, có Phú Thương xin câu đối của ông
để tặng Trương Thiên Sư, Trịnh Bản Kiều đồng ý nhận tiền công nghìn quan,
nhưng Thương chỉ đưa cho một nửa, Bản Kiều viết liên trên “龍虎山中真宰相 ”
(Long hổ sơn trung chân tể tướng – Rồng hổ trong núi thực là loài chúa tể) mà
không viết liên dưới và nói “Rõ ràng bảo cho một nghìn vàng, nay chỉ đưa năm
trăm, ta cũng chỉ viế
t cho một nửa vậy”. Thương không còn cách nào khác buộc
phải trả đủ cho Bản Kiều, Bản Kiều mới viết thêm liên dưới: “麒鄰閣上活神
仙 ” (Kì lân các thượng hoạt thần tiên - Kì lân trên gác sống như thần tiên).
Giai thoại này thể hiện, theo sự phồn vinh của đô thị và sự phát triển của đời
sống xã hội, phạm vi sử dụng của câu đối ngày càng rộng lớn hơn. Câu đối của
Triệ
u Tử Ngang và Trịnh Bản Kiều được xem như sản phẩm của sự giao tế.
Hiện nay, mọi người đều căn cứ theo thuyết trong Trâm Vân lâu tạp kí
của Trần Thượng Cổ đời Thanh cho rằng Tống Thái Tổ (Chu Nguyên Chương)
truyền cho tất cả các công khanh đại thần cho đến thứ dân đều treo câu đối xuân
trong đêm trừ tịch, có thể chính là bắt đầu dùng môn thiếp. Minh Thái Tổ có làm
một bứ
c đối cho người làm nghề đồ tể: “双手劈開生死路 , 一刀割斷是非根 ”
(Song thủ phách khai sinh tử lộ, nhất đao cát đoạn thị phi căn – Hai tay mở ra
con đường sinh tử, một dao chia cắt nguồn gốc của thị phi). Ngoài ra, Liệt triều
thi tập có ghi môn thiếp Minh Thái Tổ tặng cho học sỹ Đào Chủ Kính: “國朝謀
略無双士 , 翰苑文章第一家 ” (Quôc triều mưu lược vô song sỹ; Hàn uyển văn
chương đệ nh
ất gia – Người mưu lược trong triều đình không ai sánh kịp; Bậc
văn chương ở chốn vườn hàn luôn đứng đầu ). Lại trong Kim Lăng tỏa sự của
Minh Chu Huy cũng ghi bức đối Minh Thái Tổ tặng Trung Sơn Vuơng Từ Đạt
“破虜平蠻 , 功貫古今人第一 ; 出將入相, 才兼文武世無双 ” (Phá Lỗ bình
Man, công quán cổ kim nhân đệ nhất; Xuất tương nhập tướng, tài kiêm văn vũ
thế vô song - Phá lỗ dẹp man, là ng
ười có công lao bậc nhất trùm kim cổ; Làm
tướng, tài kiêm văn võ có một không hai). Văn tự trước 4 sau 7 đã phá vỡ cách
thức ngũ thất ngôn ban đầu. Theo lẽ thường mà suy đoán, loại câu đối đề tặng
này không còn được viết trên gỗ đào nữa. Người đời Tống đã có các loại câu đối
chúc thọ, phúng viếng và tương tự như thế cũng được viết lên giấy. Như vậy,
việc dùng giấ
y đỏ để viết câu đối xuân bắt đầu từ thời kì này cũng có cơ sở đáng
tin cậy.
Câu đối bắt đầu từ thời Ngũ đại, đa phần mọi người đều có nhận định
chung như vậy. Gần đây, cũng có thuyết cho rằng câu đối bắt nguồn từ sớm hơn
15
thế. Hoặc là lấy Hậu Hán thư-Khổng Dung truyện: “融及退閒職 , 兵客日盈
其門 , 常嘆曰 ‘坐上客恒滿 ,
樽中酒不空 ’ 吾無憂矣 ” (Khổng Dung từ chức
về nhàn, hằng ngày binh khách đầy cửa, thường than rằng “Khách ngồi trên
thường đầy, rượu trong cốc không cạn, ta không có điều gì phải phiền muộn”)
cho rằng hai vế ‘坐上客恒滿 , 尊中酒不空 ’ là một bức đối và câu đối có từ
thời kì Đông Hán mà không biết rằng cổ nhân đã biết dùng ngẫu ngữ đối trượng
trong sách vở cũng như trong khẩu ngữ, th
ời Tiên Tần đã có nhiều, cứ đâu phải
đợi đến Đông Hán? Coi đây là câu đối quả thực là một cách nhìn có phần qua
loa. Hoặc là căn cứ vào những ghi chép của Đàm Tự Đồng trong Thạch cúc ảnh
lư bút thức: “Lưu Hiếu Xước bãi quan, tự đề ở cửa nhà rằng: “閒門罷慶吊, 高
臥謝公卿” (Nhàn môn bãi khánh điếu, cao ngọa tạ công khanh - Cửa nhàn bỏ
mừng viếng, nằm cao t
ạ công khanh). Tam muội của ông Lệnh Nhàn viết tiếp:
“落花掃仍合 , 丛欄摘復生” (Lạc hoa tảo nãi hợp; Tùng lan trích phục sinh -
Hoa rơi quét rồi lại hợp, bụi lan hái rồi lại sinh). Đây tuy giống thơ nhưng đều
là biền lệ, lại đề ở cửa, có thể coi như là câu đối”. Nói rằng, câu đối bắt đầu từ
đời Lương (Lưu Hiếu Xước là người Lương thời Nam triều). Thực ra thuy
ết này
cũng có chỗ để bàn. Một mặt, họ Đàm không dẫn được xuất xứ, chưa thấy sách
của ông, trước khi chúng ta tìm thấy nguồn gốc của nó thì không thể lấy lời
người đời Thanh nói làm căn cứ. Mặt khác, cho dù tài liệu là chính xác thì Hiếu
Xước xướng, Lệnh Nhàn hòa, “khanh” và “sinh” là đồng vận, rõ ràng là những
câu thơ nối tiếp nhau, cũng không thể coi đó là câu đối được. Thời kì Ngũ Đại,
ng
ười ta đã dùng ngẫu ngữ, ngẫu tự để viết lên đào phù, nhưng đó chỉ là giai
đoạn bắt đầu hình thành thể loại độc đáo này. Trên thực tế, việc lấy câu đối ngẫu
và biền lệ để sáng tác văn thơ đã có lịch sử lâu dài. Ví như câu “投我以桃,報之
以李” (Đầu ngã dĩ đào; báo chi dĩ lí – Người ném cho ta trái đào; Ta trả lại
bằng trái mận) trong Thi Kinh-Đạ
i Nhã-Ức và “望涔阳兮極浦 , 橫大江兮楊
靈 ” (Vọng Sầm Dương hề Cực Phố; Hoành đại giang hề Dương Linh – Trông
Thầm Dương chừ Cực Phố; Ngang qua đại giang chừ Dương Linh) trong Sở
Từ-Cửu ca-Tương quân. Tuy giới từ “以” và từ ngữ khí “兮” trên dưới lặp lại,
nhưng toàn câu đã dùng hình thức đối ngẫu. Thời kì Tiên Tần xuất hiện hình
thức đối ngẫ
u này đã chứng minh nguồn gốc lâu đời của nó. Ở đây, chúng ta
xem tiếp một đoạn văn tự trong bài Đằng Vương các thi tự của Vương Bột.
16
时维九月,序属三秋。潦水尽而寒潭清,烟光凝而暮山紫。俨骖騑
于上路,访风景于崇阿;临帝子之长洲,得仙人之旧馆。层台耸翠,上出
重霄;飞阁 流丹,下临无地。鹤汀凫渚,穷岛屿之萦回;桂殿兰宫,
列岡
峦之体势。披绣闼,俯雕甍,山原旷其盈视,川泽纡(盱)其骇瞩。闾阎
扑地,钟鸣鼎食之家; 舸舰迷津,青雀黄龙之轴(舳)。云销雨霁,彩彻
区明。落霞与孤鹜齐飞,秋水共长天一色。渔舟唱晚,响穷彭蠡之滨;雁
阵惊寒,声断衡阳之浦。(Thời duy cửu nguyệt, tự thuộc tam thu. Lạo thủy tận
nhi hàn đàm thanh, yên qang ngưng nhi mộ sơn tử. Nghiễm tham phi ư thượng
lộ, phỏng phong cảnh vu sùng a. Lâm đế tử chi trường châu, đắc tiên nhân chi
cựu quán. Tằng đài tủng thúy, thượng xuất trùng tiêu; phi các lưu đan, hạ lâm vô
địa. Hạc đinh phù chử, cùng đảo tự chi oanh hồi; Quế điện lan cung, tức phong
nhạc chi th
ể thế, phi tú thát, phủ điêu manh, sơn nguyên khoáng kỳ doanh thị,
xuyên trạch hu kỳ hãi chúc. Lư diêm phác địa, chung minh đỉnh thực
chi gia;
Khả hạm mê tân, thanh tước hoàng long chi trục. Hồng tiêu vũ tễ, thái triệt vân
cù. Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc. Ngư chu xướng
vãn, hưởng cùng Bành Lễ
chi tân; Nhạn trận kinh hàn, thanh đoạn Hành
Dương
chi phố - Lúc này đương là tháng chín, thuộc về ba thu. Nước rãnh cạn,
đầm lạch trong; ánh khói đọng, núi chiều tía. Trông ngựa xe trên đường cái; hỏi
phong cảnh nơi gò cao. Đến miền Trường Châu của đế tử; tìm được quán cũ
của người tiên. Núi non cao biếc, nhô khỏi lớp mây; bóng gác bay, màu son
chày, dưới không sát đất. Bến hạc, bãi phù quanh co đến tận đảo cồn; điện quế,
cung lan bày ra cái thể thế của núi non. Mở rộng cửa tô; cúi xem cột chạm.
Đồ
ng núi trông rộng khắp; sông đầm nhìn hãi kinh. Cửa ngõ giăng mặt đất, đó
là những nhà rung chuông, bày vạc. Thuyền bè chật bến sông, trục vẽ chim sẻ
xanh, rồng vàng. Cầu vồng tan, cơn mưa tạnh; vẻ rực sáng, suốt đường mây.
Ráng chiều rơi xuống, cùng cái cò đơn chiếc đều bay; làn nước sông thu với bầu
trời kéo dài một sắc. Thuyền câu hát ban chiều, tiếng vang đến bến Bành Lễ.
Bầy nhạn kinh giá rét, tiếng kêu dứ
t bờ Hành Dương)
Ở đây lấy 4 chữ và 6 chữ làm ngắt điệu cơ bản của biền văn, bỏ đi những
từ phụ như “之”, “于”, “其”, “而”, liên kết trên dưới không có hiện tượng lặp lại
từ, đối trượng của từng câu tương đối chỉnh, hơn nữa âm tiết trầm bổng, đọc lên
nghe thánh thót vui tai, rất giống với câu
đối sau này. Điều này cho thấy, câu đối
đã được thai nghén từ thời Tiên Tần, trải qua một thời gian dài tích lũy và phát
triển mà hình thành.
17
1.1.2. Câu đối ở Việt Nam
Ở Việt Nam, câu đối có tự bao giờ thì không biết được chính xác. Nhưng
cũng như văn tế, văn bia, thơ, phú, đều là những hình thức văn học của Trung
Quốc có từ lâu đời và đến đời Đường thì có phép tắc hẳn hoi. Qua một số ít bài
văn chữ Hán mà sử nhắc lại hay còn truyền tụng, ta chỉ thấy thấp thoáng được
phần nào bóng dáng của câu đối. Tuy nhiên, khi đọc nh
ững câu tục ngữ của Việt
Nam, chúng ta đã thấy manh nha của tính đối xứng, như câu: “gần mực thì đen –
gần đèn thì rạng”, “có công mài sắt – có ngày nên kim”. Bài văn xưa nhất của
nước Việt Nam mà sử nói đến là bài Bạch vân chiếu xuân hải phú của Khương
Công Phụ (thế kỉ XIII) nhắc câu Sư Thuận đọc nối hai câu thơ của sứ Tống:
Bạch mao phô lục thủy
Hồ
ng trạo bãi thanh ba
(Lông trắng phô nước biếc
Chèo hồng quậy sóng xanh)
hai câu trong bài tứ tuyệt này tương đương với hai vế của đối thơ ngũ ngôn. Qua
Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ và một số bài thơ Đường của các nhà sư, ta thấy
lối văn biền ngẫu, cách đối trong thơ được sử dụng rất thành thạo. Đến đời Trần,
câu đối đã phát triển đủ
hình rõ nét. Đời Lê thì câu đối Nôm dấy lên rực rỡ cho
đến tận đời Nguyễn.
Câu đối Nôm cũng như câu đối Hán của Việt Nam cũng rất phong phú.
Có nhiều giai thoại về câu đối và các kiểu chơi chữ thực sự điêu luyện và tinh tế
trong sáng tác câu đối của các tác giả.
- Về lối nói lái, có giai thoại ông Chiêu Hổ với Hồ Xuân Hương. Ông
Chiêu Hổ là chỗ bạn bè thân thiết với Xuân Hương, thường xuyên lui tới nhà bà
th
ăm viếng. Một hôm ông Hổ đến chơi nhà, Xuân Hương bận việc dưới nhà nên
không lên tiếp chuyện ngay được. Đợi lâu, ông Hổ liền đi xuống dưới nhà sau,
qua sân rộng, thấy quần áo của Xuân Hương phơi đầy ở đó. Xuân Hương nhìn
thấy ông Hổ nhưng không nói gì, chờ tới lúc ông Hổ đến gần nơi phơi quần áo,
bà mới ra một vế đối:
Tàn vàng, tán tía, che đầu nhau đỡ khi nắng cực
Ông Hổ bèn đối lại:
Thuyền rồng, mui vẽ, vén buồm lên rồi sẽ lộn lèo
- Có những câu đối lại sử dụng toàn bộ chữ trong Tam tự kinh. Theo giai
thoại, ở huyện Nông Cống – Thanh Hóa có một gia đình ngũ đại đồng đường.
18
Cụ ông đã 90 tuổi dạy chắt của mình lên 6 tuổi học Tam tự kinh. Khi ông cụ
chết, gia đình họ muốn làm một bức đối viếng cụ để tỏ lòng hiếu thảo nhưng
không biết nhờ ai. Họ nghe nói có ông Huyện nổi tiếng là hay chữ bèn mang
mười lạng bạc đến nhờ vả. Ông Huyện đồng ý và chỉ làm vế thứ nhất:
Cao tằng tổ phụ nhi thân, ngũ
đại sở đồng cư thượng thế
và không chịu làm vế tiếp theo. Ông thách đố, nếu ai đối lại được vế trên thì ông
sẽ thưởng thêm cho 10 lạng bạc nữa. Chờ một thời gian không thấy ai đối lại
được ông mới làm vế tiếp theo:
Nhất thập bách thiên nhi vạn, cửu linh tương vận tác Trung Dung
rồi trả lại cho gia chủ mười lạng bạc. Ý vế sau nói, trước khi Khổng Tử mất thì
so
ạn sách Trung Dung để nói về việc cụ ông 90 tuổi trước khi mất thì dạy chắt
sách Tam tự kinh.
- Câu đối theo lối một chữ mấy lời rất thú vị như:
Thập khẩu tâm tư, tư quốc, tư gia, tư phụ mẫu
Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương
(Mười miệng, bụng nghĩ, nghĩ nước, nghĩ nhà, nghĩ cha mẹ
T
ấc thân nói tạ, tạ trời, tạ đất, tạ quân vua cha)
“thập”, “khẩu”, “tâm” thì thành chữ “tư” (十 ,口,心 = 思 ), “thốn”,
“thân”, “ngôn” thì thành chữ “tạ” (寸 , 身 , 言 = 謝 )
- Câu đối chiết tự như:
Di qua ngọn lúa rời chân, nhảy nhót đậu cành đa
Khỉ chạy đầu non, há miệng lằn nhằn ăn quả đậu
“di” = “hòa” + “đa” (移 = 禾 + 多 )
“khỉ” = “sơn” = “đậu” (豈 = 山 + 豆 )
- Câu đối một chữ mở đầu mỗi ti
ếng như:
Tết tiếc túng tiền tiêu, tính toán toan tìm tay tử tế
Xuân sang xong sổ số, say sưa sắm sửa sẵn xu xài
- Câu đối chơi chữ như
Tôi tôi vôi
Bác bác trứng
- Có những bức đối rất dài, ví như bức đối của ông Quát và ông Siêu:
Ông Siêu ra
Thôi cũng may, công đăng hỏa có gì đâu, nhẹ nhàng nhờ phận lại nhờ
duyên, quan trong năm bảy tháng, quan ngoài tám chín niên, nào cờ nào biển,
19
nào mũ nào đai, nào võng thắm lọng xanh, hèo hoa gươm bạc; mặt tài tình mà
gặp hội kiếm cung, khắp trời nam bể bắc cũng phong lưu, mùi thế nếm qua đã
đủ.
Ông Quát đối
Quyết trả phắt, nợ tang bồng không đê vướng, ngất ngưởng chẳng tiên mà
chẳng tục, hầu gái một vài cô, hầu giai năm bảy cậu, này cờ này kiệu, này rượu
này thơ, này đàn ngọt hát hay, trà chuyên thuốc lá; tay khí vũ mà ngoài vòng
c
ương tỏa, lấy gió nội giăng ngày làm trí thức, tuổi giời thêm đó là hơn.
Ngoài ra còn có rất nhiều cách sáng tạo câu đối khác như Tập Kiều, thích
ngữ, tục ngữ, ca dao… Qua những ví dụ trên ta có thể thấy ông cha ta đã vận
dụng thể loại câu đối vào sáng tác của mình để tạo ra những tác phẩm hết sức
độc đáo và sáng tạo. Nó vừa là một trò chơi về mặt ngôn ngữ, vừa là một tác
phẩ
m văn học và là nguồn tư liệu về cuộc sống dân gian lúc bấy giờ. Cũng vì
tính chất trí tuệ và hóc búa của câu đối, luật đối mà lúc người ta chưa thể nghĩ
ngay ra vế đối. Hiện nay, cha ông ta còn để lại rất nhiều vế mà thời ấy không ai
đối lại được. Lại như giai thoại Trạng Quỳnh và cô Điểm. Cô Điểm ra vế đối:
“Da trắng vỗ bì bạch”. Trạ
ng đã không đối lại được. Câu đối này của cô Điểm,
hiện nay trên các diễn đàn về câu đối của Việt Nam hay Trung Quốc đều được
xuất hiện như một hiện tượng thú vị của câu đối Việt Nam.
1.2. Căn cứ lí luận của câu đối:
Câu đối không phải chỉ là một trò chơi văn học, cũng không phải là một
cái khuôn do con người tạo ra, bản thân nó có một tính triế
t học rất lớn. Trong
nền văn minh Trung Quốc, từ rất sớm đã xuất hiện chủ nghĩa duy vật sơ khai,
khái quát hai sự vật, hình tuợng đối lập và thống nhất thành “âm” và “dương”.
Mà “bằng” và “trắc” trong câu đối thực chất là “âm” và “dương” của sự vật
khách quan. Chúng tồn tại đối lập nhau, vừa đối lập vừa bổ sung lẫn nhau. Thêm
vào thiên biến vạn hóa của nội dung, nhữ
ng bức đối ngắn ngọn hình thành nên
thế giới nghệ thuật đa sắc mầu.
Sở dĩ câu đối có thể trở thành thế giới ngôn ngữ nho nhỏ có sự đối lập và
thống nhất âm dương là vì nó có mối quan hệ không thể tách rời với văn tự và
kết cấu ngôn ngữ đặc thù của Trung Quốc. Văn tự khối vuông của tiếng Hán, kết
cấu hài hòa, âm tiết rõ ràng, thanh đ
iệu phong phú, càng dễ làm nên những bức
đối với hai vế đối nhau và hình thức đối chuẩn, hài hòa hơn ngôn ngữ của các
dân tộc khác. Đồng thời tiếng Hán có đặc điểm bốn thanh, đối trượng tự nhiên,
20
khiến cho nó có một điều kiện khách quan gọn gàng, cô đọng, tiết tấu chặt chẽ.
Văn tự tiếng Hán đều là đơn âm tiết, hơn nữa lại có sự khác nhau giữa bốn thanh
âm dương. Dường như mỗi một tự, từ, câu đều có thể tìm thấy một tự, từ, câu
đối lập với nó. Cái “đối lập” ở đây không hoàn toàn chỉ sự đối lập về hàm nghĩa
mà còn chỉ sự đối lập về âm điệu, bằng trắc của chúng. Những tự, từ, câu khác
nhau kết hợp với nhau căn cứ theo nguyên tắc đối lập thống nhất và “đối lập”
âm dương lại tạo nên những hiệu quả kì diệu, đọc lên nghe thuận miệng, vui tai,
thu hút sự chú ý của mọi người, rất dễ nhớ dễ thuộc. Đây chính là sức hấp dẫn
c
ủa nghệ thuật câu đối. Có thể nói, sự đối lập và thống nhất của chủ nghĩa duy
vật biện chứng chính là căn cứ lí luận của câu đối và cũng là thực chất của nghệ
thuật câu đối.
Câu đối, sở dĩ được coi là một thể loại văn học đặc biệt vì nó giống như
một bài thơ ngắn hội tụ đầy đủ nhữ
ng yếu tố nội dung và nghệ thuật cần có của
một thể loại văn học. Để khẳng định thêm điều này, xin được trích một phần
định nghĩa về “văn học” trong Từ điển văn học.
“Văn học là thuật ngữ chỉ một trong số các loại hình nghệ thuật (ngang
hàng với các loại hình khác như kiến trúc, âm nhạc, nghệ thuật tạ
o hình, vũ đạo,
nhiếp ảnh, sân khấu, điện ảnh…); ở đây là nghệ thuật của ngôn từ.
Lấy chất liệu là các ngôn ngữ tự nhiên của các tộc người sống trên trái đất,
dạng thức đầu tiên của nghệ thuật ngôn từ các sáng tác lời, tồn tại bằng truyền
miệng trong các cộng đồng cư dân. Chỉ khi đã xuất hiện những hệ thống chữ
viết (văn tự) tương đối phát triển (được dự đoán là vào thời kì hình thành các
thiết chế nhà nước trong việc tổ chức và quản lý xã hội) mới xuất hiện dạng thức
thứ hai của nghệ thuật ngôn từ: những sáng tác được ghi chép bằng chữ viết.
Văn học theo nghĩa hẹp và xác định, là những sáng tác viết của nghệ thuật ngôn
từ.
Gắn với các hoạt độ
ng sống của con người, ngôn ngữ là một thực tại tư
tưởng, đồng thời cũng là một trong các chất liệu và đối tượng của trò chơi. Nghệ
thuật ngôn từ do vậy bao hàm những định hướng sáng tạo khác nhau trong phạm
vi các khả năng của chất liệu; ở cực này nó thiên về các khuynh hướng và loại
hình của tư tưởng; ở cực kia nó thiên về các dạng của trò chơi hình thức, tuy
ở
cực nào nó cũng không triệt tiêu hoàn toàn các thuộc tính vốn có ở chất liệu.
Các thuộc tính của trò chơi ngôn từ bộc lộ ngay ở sáng tác dân gian, nhất là ở
các thể tài chú trọng tạo hiệu quả thẩm mỹ từ việc khai thác các đặc tính ngữ
21
âm ngữ, nghĩa của mỗi ngôn ngữ dân tộc.” Câu đối cũng là một loại hình thể
hiện rõ nét hai khía cạnh trên của nghệ thuật ngôn từ.
Văn học có chức năng phản ánh cuộc sống, biểu lộ cảm xúc, suy tư, thể
hiện quan điểm của tác giả trước hiện thực khách quan, hiện thực cuộc sống.
Câu đối hoàn toàn có thể đáp ứng được chức nă
ng phản ánh đó. Trên thực tế, có
hàng loạt những câu đối thể hiện nỗi niềm riêng tư: cảm khái, tức giận, thương
tiếc, châm biếm, lên án…, thể hiện cuộc sống, miêu tả cảnh quan…
Câu đối là nghệ thuật sử dụng từ ngữ đầy dụng công và tinh xảo: đối ngẫu,
đối trượng, đặc biệt là nhạc điệu toát ra từ những nốt thăng giáng của luậ
t bằng
trắc… Hơn nữa, chỉ với hai vế đối nó đã có thể làm nên một tác phẩm hoàn
chỉnh, phản ánh một nội dung tư tưởng hoàn chỉnh của tác giả. Ngôn từ của câu
đối ngắn ngọn, súc tích, vì lẽ đó mà xuất hiện rất nhiều điển cố, điển tích, gợi
mở sự liên tưởng, yêu cầu một trình độ uyên thâm ở người thưởng thức. Bở
i
ngắn gọn, nên ý tứ của câu đối thường được thông qua những điển cố, điển tích,
hay những cụm từ mang tính cố định mà đọc lên chúng ta có thể hiểu được
những ý tứ sâu xa mà người sáng tác gửi gắm vào trong đó.
Điểm đặc biệt của câu đối là ở chỗ, nó có thể đứng riêng thành một tác
phẩm độc lập, nhưng lại thường đứng cùng với những b
ức đối khác trong một
quần thể di tích, phản ánh một nội dung nhất định theo từng chủ đề. Ví dụ như
câu đối chùa thường ca ngợi cảnh đẹp chốn bồng lai, ca ngợi công đức của các
vị Phật, bồ tát… Câu đối ở nhà thờ các dòng họ khác nhau thì thường ca ngợi
công tích của tổ tiên, công sinh thành, dưỡng dục của ông bà, cha mẹ, răn dạy
con cháu phải hiếu thuận, biết “ẩm thủy t
ư nguyên”… Các ngôi đền của Việt
Nam cũng vậy, lập nên để thờ ai thì những bức đối ở đó đa phần đều với nội
dung ca ngợi công tích, hành trạng… của nhân vật đó.
Như vậy, câu đối có thể phản ánh một nội dung hoàn chỉnh với nghệ thuật
điêu luyện, tinh xảo, đọc lên như một bài thơ ngắn với những câu nghe nhịp
nhàng, réo rắt giống như
thơ cách luật, thơ vần… hơn nữa nó tồn tại khá phổ
biến, có cả một đội ngũ sáng tác đông đảo và còn tiếp tục đến tận ngày nay. Với
những lí do đó, chúng ta có phần không công bằng, khắt khe khi không xếp câu
đối ngang hàng với các thể loại văn học khác.
1.3. Nghệ thuật của câu đối:
Câu đối là một loại hình nghệ thuật đặc hữu của Trung Quốc cũng như
của nước ta, trước tiên tiếng Hán đơn âm tiết khiến cho nó có điều kiện thuận
22
tiện để phát triển; Tiếp theo là Cổ thi Ngũ ngôn, Thất ngôn từ thời Hán Ngụy đã
khai nguồn cho cú pháp của câu đối; Từ thời Lục triều đến sơ Đường mà hình
thành nên cận thể thi, cung cấp căn cứ về cách luật cho câu đối; Thể biền văn
quy củ của thời Lục triều đến thời Đường thì ngày càng trở nên nghiêm ngặt hơn,
âm tiết đối xứng, đối chỉnh h
ơn trước, có bốn chữ và sáu chữ làm nên “Tứ lục
văn”, cách điệu cơ bản, lại xuất hiện sự vay mượn trên nhiều phương diện trong
việc sáng tác câu đối; vì thế việc xuất hiện câu đối ở thời kỳ Ngũ đại giống như
nước chảy thành sông vậy, rất tự nhiên. Tiếp theo đến thời Tồng, Nguyên tiếp
tục phát triển, Minh, Thanh lại càng hưng thị
nh, đoản cú liên dài loại nào cũng
có, thông thường là tác phẩm từ mười chữ trở lên, văn tự dài ngắn xen kẽ, kết
cấu tiếp diễn văn hóa, phong phú về nội dung, linh hoạt về hình thức, vượt xa so
với thời kỳ đầu của nó. Việt Nam cũng tiếp nhận được sự ảnh hưởng đó từ
Trung Quốc đồng thời còn vận dụng sáng tạo trong sáng tác câu đối bằng ch
ữ
Nôm và chữ Quốc ngữ.
Đối xứng giữa câu đối và thơ cách luật có quan hệ kế thừa và diễn tiến,
cách luật bằng trắc của luật thi cũng dùng trong câu đối. Câu thứ ba và thứ tư
trong luật thi thất ngôn, ngũ ngôn (hai câu thực), câu thứ năm và thứ sáu (hai
câu luận), đều tự đối nhau, tương đương với hai câu đối ngũ ngôn hoặc thất
ngôn. Nhưng 4 câu thực và câu luận thường có quan hệ n
ối nhau và chuyển tiếp
về mặt ý nghĩa.
Làm câu đối nên có tính khái quát, tính hình tượng và tính âm nhạc, ngôn
ngữ nhất thiết phải tinh luyện, khái quát, kết cấu đối xứng chỉnh tề, miêu tả sinh
động, tươi mới, âm tiết hài hòa. Cho dù là tả cảnh hay trữ tình đều phải mang
đến cho người đọc một ấn tượng cụ thể. Yêu cầu về đối ngẫu cao hơn luật thi,
bởi vì trong 8 câu của luật thi, trong đó có mộ
t liên hơi yếu cũng không ảnh
hưởng nhiều lắm đến toàn bài. Câu đối ngắn gọn, lại chỉ lấy câu ngũ ngôn, thất
ngôn đối nhau mà đứng vững, hơn nữa đối nhau rất rõ, một chữ hơi kém xem ra
sẽ không đứng được. Bắt đầu học làm câu đối, trước tiên phải phân biệt các
thanh, phân ra làm “bằng” và “trắc”. Thời xưa các thầy giáo tư dạy học trò làm
luật thi luôn bắt đầu từ
vế ra là rất có lí vậy. Cuốn “Khang Hy tự điển” thông
dụng thời xưa đã có một bài thơ thất ngôn tuyệt cú về bốn thanh:
平聲平道莫低昂 ,
上聲高呼猛烈強 ,
去聲分明哀遠道 ,
入聲短促急收藏 .
23
(Bình thanh là con đường bằng phẳng không xuống không lên
Thượng thanh là tiếng hô cao vừa mạnh vừa bạo vừa cường
Khứ thanh giống như con đường phân minh vừa buồn vừa xa
Nhập thanh ngắn, thôi thúc, gấp gáp, thu lại và tàng trữ)
Cách nói của bài thơ tuy không thật tỉ mỉ, nhưng đơn giản, rõ ràng, dễ
dàng lí giải, có thể tham khảo.
Thông qua các mục đã nói ở trên, có thể thấy, câu đối tuy xuất phát từ đối
ngẫu nh
ưng sớm đã hình thành một thể văn độc lập, từ thời Ngũ đại đã ngày
càng phát triển rực rỡ, phong cách đa dạng, hình thức biến hóa, nhã, tục cùng
tồn tại, thâm nhập vào dân gian, có một tác dụng xã hội rất lớn. Hơn nữa nó còn
có quan hệ mật thiết, không thể phân tách với nghệ thuật thư pháp, vừa có giá trị
thưởng thức, vừa có giá trị thực dụng, đều không thể
coi nhẹ. Trong lịch sử văn
học, câu đối có chỗ đứng ngang hàng với bất kì một thể loại văn học nào khác.
24
Chương 2:
NGHIÊN CỨU THỂ LOẠI CÂU ĐỐI THÔNG QUA
PHÂN TÍCH HỆ THỐNG CÂU ĐỐI Ở CÁC DI TÍCH ĐƯỢC KHẢO SÁT
2.1. Đặc điểm của câu đối
Xin được trích nguyên văn định nghĩa về câu đối trong sách Từ điển văn
học bộ mới như sau:
“Những câu văn đi đôi với nhau, dùng chữ nghiêm ngặt theo phép đối sao
cho ý nghĩa, chữ dùng, luật bằng trắc phải cân xứng. Ng
ười Trung Quốc dùng
mấy chữ Doanh thiếp (楹帖), doanh liên(楹联) để chỉ câu đối. Doanh có nghĩa
là cột, thiếp có nghĩa là tờ giấy có chữ viết, liễn (đọc chệch thành liên) là các câu
thơ, câu văn đi sóng đôi với nhau. Ta cũng có tục lệ treo câu đối cân xứng ở hai
bên cột nhà, cột đền đài, miếu mạo. Trong các thể văn của ta từ thơ hay phú, văn
tế hay vă
n bia của văn học thành văn hoặc tục ngữ, ca dao của văn học dân gian
đều có những câu đối chứa đựng ở bên trong. Câu đối có hai câu, mỗi câu là một
vế: vế ra và vế đối. Từ một đến bốn chữ trong một vế thì gọi là tiểu đối. Ví dụ
“Tôi tôi vôi/ Bác bác trứng”, “Đầu gối đầu gối/ Tay mang tay mang”… Từ năm
đến bảy chữ trong một vế gọi là câu đố
i thơ. Hai câu thực và hai câu luận trong
thơ thất ngôn bát cú tuân theo phép đối một cách nghiêm ngặt. Ví dụ: “Nhớ
nước đau lòng con quốc quốc/ thương nhà mỏi miệng cái da da” (Bà Huyện
Thanh Quan-Qua đèo ngang). Từ tám, chín chữ trở lên trong một vế thì gọi là
câu đối phú. Trong câu đối phú, nếu mỗi vế có hai đoạn, một đoạn ngắn, một
đoạn dài thì gọi là cách cú. Ví dụ: “Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai m
ắt
lại/ Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi” (Nguyễn Khuyến). Nếu
mỗi vế có từ ba đoạn trở lên, thường có một đoạn dài ngắn xen giữa hai đoạn dài
hơn, giống như khớp gối ở chân con hạc thì gọi là gối hạc. Ví dụ “Tính ông hay,
hay tửu hay tăm hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa, tuổi ngoài sáu mươi còn
mạnh kh
ỏe/ Nhà ông có, có bầu có bạn có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, bày ra
một tiệc thấy linh đình” (khuyết danh). Về luật bằng trắc, chữ của một vế có vần
bằng thì chữ của vế kia phải vần trắc và ngược lại. Những câu đối mà đoạn trên
hoặc đoạn dưới bảy chữ thì bảy chữ ấy theo bằng trắc như câu thơ thất ngôn.
Nh
ững câu đối phú chia thành nhiều đoạn thì những chữ cuối của các đoạn trên
mà có vần bằng, chữ cuối đoạn dưới sẽ mang vần trắc và ngược lại. Những chữ
25
cuối cùng của các đoạn phải giữ cho đúng luật bằng trắc. Chữ dùng trong câu
phải đạt hai yêu cầu: chỉnh và cân. Danh từ phải đối với danh từ, hình dung từ
phải đối với hình dung từ, động từ phải đối với động từ…, mầu sắc đối với mầu
sắc, số đếm đối với số đếm, chữ Nôm đối với chữ Nôm, chữ
Hán đối với chữ
Hán, thành ngữ đối với thành ngữ… Trong câu đối mà chữ dùng và ý nghĩa trái
ngược nhau thì gọi là câu đối chọi. Ví dụ “Trời sinh ông Tú Cát/ Đất nứt con bọ
hung”. Câu đối được sử dụng trong dịp mừng xuân mới, mừng thọ, ghi công đức
các danh nhân nơi di tích lịch sử, ngợi ca các danh lam thắng cảnh, ghi lại truyền
thống một làng nghề, một dòng họ, thử tài học vấn, khả
o trí thông minh nơi
trường lớp xưa hoặc phúng viếng nững người đã khuất. Trong văn học dân gian,
cách ngắt nhịp của tục ngữ tạo nên nhiều câu cân xứng mang hình thức của
những câu tiểu đối: “Cơm niêu/ nước lọ” (hai chữ), “đói cho sạch/ rách cho
thơm” (ba chữ), “người đẹp về lụa/ lúa tốt về phân” (bốn chữ)”
Để tìm hiểu về câu đối tr
ước hết chúng ta cần tìm hiểu về phép đối: Theo
Giáo sư Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu. Một trong những
đặc tính của văn chương Tàu và Ta là phép đối (chữ Nho là đối ngẫu (對偶); đối:
sóng đôi; ngẫu: chẵn, đôi); không những là văn vần (như thơ, phú) theo phép ấy,
mà các biền văn (câu đối, tứ lục, kinh nghĩa) và đến cả văn xuôi nhi
ều khi cũng
đặt thành hai câu đối nhau, hoặc hai đoạn trong một câu đối nhau.
Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với
nhau. Vậy trong phép đối, vừa phải đối ý, vừa phải đối chữ:
Đối ý: là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.
Đối chữ: thì phải xét về hai phương diện: thanh của chữ và loại chữ.
- Về thanh thì bằng đối với bằng, trắc đối với trắc. Tùy thể v
ăn, có khi cả
các chữ trong câu đều phải đối thanh (như thể thơ), có khi chủ một vài chữ theo
lệ đã định phải đối nhau (như thể phú)
- Về loại thì hai chữ phải cùng một loại mới đối nhau được. Ngày xưa các
cụ chia các chữ ra làm Thực tự (實字) hay chữ nặng như trời, đất, cây, cỏ… và
hư tự (虛字) hay chữ nhẹ như
: thế, mà, vậy, ru… Khi đối thì thực tự phải đối
với thực tự, hư tự đối với hư tự.
Nay nếu theo văn phạm Âu Tây mà chia các chữ trong tiếng ta ra thành tự
loại rõ ràng thì ta có thể nói rằng hai chữ đối nhau phải cùng thuộc về một tự
loại, như cùng là hai chữ danh từ (noms), hoặc loại từ (spécificatifs), hoặc động
từ (verbes), hoặc trạng từ (adverbes)…
26
Nếu có đặt chữ Nho thì chữ Nho phải đối với chữ Nho.
Khi đối, nếu chọn được hai chữ cùng một tự loại mà đặt sóng nhau thì là
chỉnh đối hay đối cân. Nếu hai chữ ấy không cùng một tự loại mà lại có ý nghĩa
trái nhau như đen với trắng, béo với gầy… thì gọi là đối chọi. Trong khuôn khổ
luận văn này, chúng ta chủ yế
u bàn đến hình thức câu đối chữ Hán vì các câu
đối được khảo, chủ yếu là các câu đối chữ Hán. Dưới đây là bốn đặc điểm cơ
bản của câu đối.
2.1.1. Hình thức đối xứng
Đối xứng là phương pháp tu từ chủ yếu của văn học cổ điển Trung Quốc
cũng như văn học Trung đại Việt Nam, là hình thức đặc trưng của câu đối và
c
ũng là sức sống, sức hấp dẫn nội tại của câu đối. Vậy thế nào là “đối trượng”?
Đối trượng nói cách khác chính là đối xứng trong câu đối ngẫu. Từ “đối trượng”
bắt nguồn từ hai hàng thị vệ trong cung thời cổ đại (nghĩa trượng đội), hàng ngũ
này được sắp xếp đối xứng với nhau, cho nên gọi là “đối trượng”. Đối trượng
được vận dụng vào nghệ
thuật văn tự Hán ngữ như một phương thức tu từ, ý nói
sử dụng hai câu song song, sắp xếp thành đôi thành cặp thể hiện quan hệ tương
quan hoặc tương phản. Trong văn học cổ Trung Quốc, câu đối ngẫu rất hay
thường gặp, bất kể là Thi kinh hay Thượng thư, Dịch kinh, Lão Tử, Hoài Nam
Tử đều xuất hiện những câu đối ngẫu rấ
t rõ ràng. Thể Phú của văn học hậu
Lưỡng Hán, thể Biền văn của thời kì Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, thơ cách luật từ
thời Đường trở về sau, cách thức đối ngẫu dần dần được mọi người nắm vững và
trở thành một biện pháp tu từ không thể thay thế được trong văn học cổ điển.
Đối trượng là đặc trưng lớ
n nhất của văn học Hán ngữ. Chữ khối vuông
Trung Quốc, hệ thống ngôn ngữ đơn âm, một chữ tương đương với một từ đã
cung cấp điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của nghệ thuật đối ngẫu. Đặc điểm
này khiến cho biền văn, thi ca, câu đối, một thể loại nghệ thuật cô đọng trải qua
hàng nghìn năm vẫn không m
ất đi và có sức sống vô cùng mạnh mẽ.
Đối trượng trong câu đối nghĩa là trong vế khai và vế đối đặt những khái
niệm cùng loại hoặc khái niệm đối nhau đặt vào những vị trí đối ứng thích hợp
sau đó trải ra thành đối xứng trong câu đối. Trong câu đối, đối trượng có vị trí
quan trọng nhất, nó là tinh túy của nghệ thuật câu đối.
Sự xuất hiện của hình thức đối trượng có nguồ
n gốc từ hiện tượng đối lập
hoặc dựa vào nhau để tồn tại của thế giới khách quan, đây là hình thức tồn tại
căn bản của mọi sự vật hiện tượng đối lập hoặc dựa vào nhau để tồn tại đã khởi
27
phát cho hình thức đối xứng trong nghệ thuật văn học, đồng thời đã kết hợp
được lí luận “一陰一陽為之道也” (Nhất âm nhất dương vị chi đạo dã - Một âm
một dương gọi là đạo) trong học thuyết âm dương cổ đại Trung Quốc. Lưu Hiệp
(劉勰) Trong thiên Văn tâm điêu long-Lệ từ (文心雕龍•麗辭) có viết: “造化賦
形,支體必雙,神理為用,事不孤立” (tạo hóa phú hình, chi thể tất song,
th
ần thể vi dụng, sự bất cô lập – Tạo hóa ban cho hình hài, chi thể tất có đôi, cái
lẽ vi diệu trong việc thực hành là việc không cô lập) để nhấn mạnh trạng thái đối
ngẫu của sự vật khách quan. Ông lại nói tiếp: “麗辭之體,凡有四對,言對為
易,事對為難,反對為優,正對為劣” (Lệ từ chi thể, phàm hữu tứ đối, ngôn
đối vi dị, sự đối vi nan, phản đối vi ưu, chính đối vi liệt – Thể của lệ từ có tứ
đối,
đối lời là dễ, đối việc là khó, phản đối là hơn, chính đối là kém ). “ngôn đối” tức
là đối nhau đơn thuần về lời, “sự đối”: đối việc, đưa ra những điều người khác
có thể nghiệm được, “phản đối”: đối ngược là về lí lẽ thì khác nhưng cái thú vị
lại gặp nhau, “chính đối”: đối thẳng thì việc khác nhau nhưng nghĩa là một. Phản
đối ph
ản ánh đầy đủ hơn sự tồn tại khách quan mâu thuẫn và phức tạp, thể hiện
tư duy biện chứng của tác giả, chỉ rõ bản chất của sự vật khách quan.
Muốn học viết câu đối, bắt buộc phải nắm vững yêu cầu cơ bản của
phương thức đối trượng. Người xưa nói: “不以規矩,不能成方圓” (Bất dĩ quy
củ, bất năng thành phươ
ng viên – Không lấy quy củ, không thể thành khuôn
vuông tròn). Tiền nhân nói về đối trượng có những quy tắc rõ ràng. Cuốn Phiếu
tương đối loại (縹湘對類) có đề xuất nguyên tắc cơ bản: “實對實,虛對虛”
(thực đối thực, hư đối hư), nhấn mạnh “有無虛與實,死活重兼輕” (hữu vô hư
dữ thực, tử hoạt trọng kiêm khinh – Có không hư và thực, chết sống nặng lại
nhẹ), đặ
t sơ sở vững chắc cho nghệ thuật câu đối sau này. Người xưa sáng tác
câu đối đã phân chữ Hán thành ba loại lớn: thực tự, hư tự và trợ tự. Thực tự lại
phân thêm loại bán thực tự, hư tự phân ra làm hai loại nhỏ nữa là “hoạt” và “tử”
đồng thời lại kèm thêm bán hư tự. Phân loại như sau:
Thực tự: hoa(花)、thảo(草)、lâm(林)、
sơn(山)、thiên(天)、địa(地)…
Bán thực tự: lực(力)、 hùng(雄)、văn(文 )、vũ(武) 、 quang(光)、
lôi(雷)…
Hư tự (tử): cao( 高 ) 、 tân( 新 ) 、 cường( 強 ) 、 đại( 大 ) 、 tinh( 精 ) 、
tiểu(小)…
Hư tự (hoạt): lưu(流 )、 ca(歌)、thăng(升
)、đấu(鬥)、 chiếu(照 )、
khai(開)…