Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

Tìm hiểu về tổng xuyên nhiễu hỗn hợp trong hệ xDSL

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.13 MB, 108 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ





Trần Trung Tuyến





TÌM HIỂU VỀ TỔNG XUYÊN NHIỄU HỖN HỢP TRONG
HỆ xDSL











LUẬN VĂN THẠC SĨ














Hà Nội - Năm 2005

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ





Trần Trung Tuyến





TÌM HIỂU VỀ TỔNG XUYÊN NHIỄU HỖN HỢP TRONG
HỆ xDSL






Chuyên ngành: Kỹ thuật vô tuyến điện tử và thông tin liên lạc

Mã số: 2.07.00


LUẬN VĂN THẠC SĨ


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Nguyễn Viết Kính










Hà Nội - Năm 2005



Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
1

MỤC LỤC


Trang

CHƢƠNG I 4
CƠ SỞ VỀ XDSL 4
1.1 Các modem băng thoại và xDSL 6
1.2 Các chế độ truyền dẫn 10
1.2.1 Hƣớng 10
1.2.2 Đồng bộ 12
1.2.3 Kênh 12
1 2.4 Mô hình đơn và đa điểm 13
1.3 Các phƣơng thức điều chế dùng trong xDSL 14
1.3.1 Mã hoá băng gốc 14
1.3.2 Mã hoá băng thông 15

CHUƠNG 2
CÁC LOẠI XDSL 16
Lƣợc sử về xDSL 16
2.1 HDSL 18
2.2 ADSL 21
2.3 VDSL 26
2.4 Giới hạn thiết kế của xDSL 28

CHƢƠNG 3 31


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến


Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
2
TRUYỀN DẪN TRÊN ĐÔI DÂY XOẮN 31
3.1 Mạch vòng nội hạt và đôi dây xoắn 31
3.2. Nhiễu 32






CHƢƠNG 4 44
CÁC PHƢƠNG PHÁP TỔNG HỢP XUYÊN NHIỄU HỖN HỢP 44
4.1 Giới thiệu 45
4.2 Suy hao do xuyên nhiễu : nền tảng và các khái niệm. 47
4.3 Các phƣơng pháp tính tổng xuyên nhiễu đã biết 48
4.3.1 Phƣơng pháp lấy tổng xuyên nhiễu đơn giản 50
4.3.2 Phƣơng pháp tổng vòng 50
4.3.3 Phƣơng pháp mật độ phổ công suất trung bình 51
4.3.4 Phƣơng pháp FSAN 52
4.4 Các phƣơng pháp tổng hợp xuyên nhiễu mới 53
4.4.1 Phƣơng pháp giới hạn Minkowski (phƣơng pháp FSAN tổng quát)53
4.4.2 Phƣơng pháp sử dụng bất đẳng thức holder 55
4.4.3 Các phƣơng pháp tổng hợp xuyên nhiễu mới và thuộc tính P3 57
4.5 Một cách tiếp cận mới làm sáng tỏ phƣơng pháp FSAN 60
4.5.1 Cở sở toán học 62
4.5.2 Phân tích kết quả chính 63
4.5.3 Các kết quả phụ (các hệ quả) 65
4.5.4 Ví dụ 67



Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
3

CHƢƠNG 5 69
GIỚI THIỆU CÔNG CỤ MÔ PHỎNG FSAN XDSL CỦA FTW. 69
5.1 Mô tả chƣơng trình 70
5.2 Giới thiệu một vài ví dụ sử dụng công cụ mô phỏng xDSLsimu3. 80
5.3 Giới thiệu khả năng áp dụng vào mạng thực tế của Bƣu Điện Hà Nội.89

Các từ viết tắt được sử dụng trong luận văn 101
Tài liệu tham khảo 105
















Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
4
CHƢƠNG I
CƠ SỞ VỀ DSL

Đầu thập kỷ 60 công nghệ số lần đầu tiên đƣợc sử dụng vào các đƣờng trung
kế nối các trung tâm để giải quyết vấn đề nhiễu đƣờng dài do sự tích luỹ
nhiễu trên đƣờng truyền dẫn tƣơng tự. Sở dĩ có sự thay đổi này là do các bộ
lặp analog khuếch đại cả nhiễu và tín hiệu, nếu sử dụng các bộ lặp hiện đại
nhất thì cũng có nhiễu phát sinh. Truyền dẫn số loại bỏ đƣợc sự tích luỹ nhiễu
bằng cách tái tạo lại chính xác tín hiệu số ở mỗi bộ lặp. Việc áp dụng công
nghệ số vào truyền dẫn cho phép đảm bảo chất lƣợng truyền dẫn hoàn hảo ở
bất kể khoảng cách nào. Các tổng đài điện thoại trung tâm đƣợc nối với nhau
qua các đƣờng trung kế, mỗi đƣờng mang một số kênh thoại. Cho tới năm
1970, hầu hết trung kế analog đƣợc thay thế bởi trung kế số E1/T1. Kết quả là
các tổng đài Tandem hoặc toll khi này đƣợc nối với nhau bởi các đƣờng trung
kế số. Các nhà thiết kế hệ thống lại nhận ra rằng, sẽ không hiệu quả nếu tổng
đài trung tâm thực hiện chuyển mạch từ trung kế số sang analog để chuyển
mạch qua ma trận chuyển mạch analog truyền thống, sau đó lại chuyển ngƣợc
lại sang số để truyền sang trung kế khác. Và đây là tiền đề cho sự xuất hiện
hàng loạt các tổng đài số trung tâm! Cho tới cuối những năm 70, toàn bộ
mạng trung kế đã đƣợc số hoá. Khi đó ngƣời ta đã dự đoán lƣu lƣợng dữ liệu
số sẽ lớn hơn lƣu lƣợng thoại, và nó đã thực sự xảy ra vào giữa thập kỷ 90
(thế kỷ trƣớc). Toàn bộ công nghiệp điện tử chuyển sang số, các tổng đài nội
hạt đƣợc điều khiển bởi các máy tính số, báo hiệu trung kế cũng đƣợc chuyển
sang số (SS7). Làn sóng số hoá đã lấn tới các tổng đài nội hạt với sự xuất hiện

các tổng đài số nhƣ Nortel DMS100, AT&T 5ESS, Siemens EWSD và AXE
của Ericsson. Các tổng đài số này dừng lại ở đầu cuối analog, ở đây tín hiệu
tƣơng tự đƣợc biến đổi sang số 64kbit/s và ngƣợc lại qua các bộ mã hoá và
giải mã ở khối chuyển mạch đƣờng dây. Vào năm 1985, ISDN đã mở rộng
phạm vi số hoá này đến khu vực khách hàng. Lần đầu tiên, dịch vụ số từ đầu
cuối đến đầu cuối đã xuất hiện ở phạm vi rộng. ISDN cung cấp cho khách
hàng cả chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói. Tiếp đến, ISDN băng rộng
(B-ISDN) với chuyển mạch không đồng bộ ATM cũng đƣợc triển khai khi
thông tin quang bắt đầu phát triển. Tuy nhiên B-ISDN cũng có những hạn chế
riêng của nó. Và chính HDSL, ADSL đã mở ra cho thế giới dịch vụ truyền số
liệu băng rộng chuyển mạch đƣợc một thị trƣờng rộng lớn.
Vào những năm 70 của thế kỷ trƣớc, thế giới viễn thông bao gồm thoại và ký
tự. Trong thế giới đó thoại là phổ biến và ít cần đến DSL. Sau đó là sự xuất
hiện của máy tính cá nhân (PC), các ứng dụng đa phƣơng tiện (âm thanh, hình
ảnh, Video) và cuối cùng là Internet. Vào đầu thập kỷ 80, số lƣợng máy tính
đã vƣợt quá số dân thế giới và vào giữa thập kỷ 90 thì các ứng dụng số trên


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
5
mạng công cộng đã vƣợt quá thoại. Mặc dù truy nhập Internet giờ đây là ứng
dụng lớn nhất của các DSL, nhƣng việc triển khai các DSL bắt đầu từ lâu
trƣớc khi Internet trở nên phổ biến. Việc phát minh ra các bộ vi xử lý có năng
lực lớn, giá rẻ, sử dụng các công nghệ DSP mới đã cho phép áp dụng các
thuật toán mà trƣớc đây chỉ dùng cho các ứng dụng đặc biệt nhƣ vũ trụ, quốc
phòng. Các bộ DSP cho phép mã hoá và giải mã các tín hiệu hình ảnh chuyển
động mầu sử dụng các thuật toán nén (MPEG1, MPEG2, JPEG và H.261) ở

tốc độ DSL. Hội nghị truyền hình chất lƣợng cao đƣợc triển khai ở tốc độ 384
kbit/s, video giải trí ở tốc độ 1,5 Mbit/s.
Sự lỗi thời của đôi dây xoắn điện thoại đã đƣợc phỏng đoán nhiều lần. Ngay
từ những năm 80 nhiều chuyên gia trong ngành truyền thông đã tin rằng phần
lớn đƣờng dây điện thoại bằng đồng sẽ sớm đƣợc thay thế bởi đƣờng cáp
quang nối trực tiếp đến mỗi nhà thuê bao trong vài năm sau đó. Điều này
cũng là dễ hiểu bởi truyền tải bằng cáp quang sẽ nhanh chóng và có giá thành
rẻ. Tuy nhiên thực tế là mô hình cáp quang tới nhà thuê bao vẫn còn quá đắt
mà các nhà cung cấp dịch vụ không muốn nói không với khách hàng. Các
công ty điện thoại tập trung triển khai cáp quang tại những nơi đƣợc xem là
kinh tế nhƣ các khu vực thƣơng mại, đến các bộ tập trung xa (DLC) phục vụ
vài trăm thuê bao. Nhƣ vậy có thể nói "DSL là công nghệ quá độ, nhƣng quá
độ trong 40 năm nữa".
Cáp quang, vô tuyến, cáp đồng trục đã là phƣơng tiện để truyền tải nhiều ứng
dụng. Không có một công nghệ truy nhập chung cho tất cả các vùng cũng nhƣ
tất cả các ứng dụng. Tuy nhiên giờ đây, công nghệ DSL đã cho phép đƣờng
dây điện thoại truyền tải các ứng dụng đa phƣơng tiện mà trƣớc đây cho rằng
chỉ có cáp quang mới thực hiện đƣợc, đƣờng dây điện thoại là một phƣơng
tiện kinh tế nhất để truyền tải nhiều loại hình dịch vụ viễn thông tới hàng triệu
khách hàng. Điểm yếu cơ bản của DSL là không di động và hiệu quả quảng
bá thấp. Với cơ sở hạ tầng sẵn có, ví dụ nhƣ điện thoại, sử dụng công nghệ
thích hợp xét về mặt kinh tế là tốt hơn rất nhiều so với triển khai một cơ sở hạ
tầng mới.
Công nghệ đƣờng dây thuê bao số (xDSL) thực hiện truyền thông tin số qua
đƣờng dây điện thoại. Đƣờng dây điện thoại, kể từ phát minh của Alexander
Graham Bell vào năm 1875 giờ đây có thể truyền tín hiệu ở tốc độ hàng
Mbit/s. Kỹ thuật DSL đã tạo ra một bƣớc ngoặt mới cho việc sử dụng đƣờng
dây điện thoại. Đƣờng dây điện thoại trƣớc đây chỉ dùng để truyền 1 kênh
điện thoại băng tần 3,4 kHz, giờ đây có thể truyền gần 100 kênh thoại số nén
hoặc 1 kênh tín hiệu video với chất lƣợng tƣơng đƣơng truyền hình quảng bá.

Kỹ thuật truyền dẫn số tốc độ cao qua đôi dây điện thoại yêu cầu phải có các
bộ xử lý số tiên tiến để khắc phục sự suy giảm tín hiệu, xuyên nhiễu từ các
đôi dây khác trong cùng 1 cáp, sự phản xạ tín hiệu, nhiễu tần số vô tuyến và
các nhiễu xung.


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
6
Nhƣ ta đã biết, cƣờng độ tín hiệu điện bị suy giảm theo khoảng cách do điện
trở của dây dẫn, khi hoạt động ở tần số càng cao thì sự suy giảm này càng lớn.
Năng lƣợng tín hiệu tiêu hao trên đƣờng dây tăng lên khi tốc độ và khoảng
cách tăng lên. Phạm vi của mạch vòng DSL bị hạn chế do tín hiệu quá yếu để
có thể nhận biết đƣợc một cách chính xác. Các nhà thiết kế hệ thống sẽ phải
sử dụng các kỹ thuật điều chế phức tạp, sử dụng các mức tín hiệu truyền cũng
nhƣ phạm vi tần số hợp lý để kéo dài tối đa khoảng cách truyền dẫn. Đối với
mỗi một phƣơng pháp truyền dẫn cụ thể, tốc độ truyền dẫn tối đa giảm khi độ
dài tăng lên. Do đó có thể đạt đƣợc tốc độ truyền dẫn cao ở những mạch vòng
ngắn và tốc độ thấp tƣơng đối ở các mạch vòng dài hơn.

1.1 Các modem băng thoại và DSL [1], [2]
Các modem băng thoại lần đầu tiên đƣợc đƣa ra vào cuối thập kỷ 50 để truyền
dữ liệu qua mạng điện thoại công cộng (PSTN). Từ "modem" xuất phát từ
Modulator - Demodulator (bộ điều chế và bộ giải điều chế) Truyền dữ liệu
qua mạng PSTN phải đƣợc điều chế bởi vì PSTN không truyền tần số dƣới
200Hz. Số liệu không điều chế yêu cầu truyền tần số tiến tới 0Hz. Trên thực
tế, modem chuyển đặc tính tần số của số liệu giống với tín hiệu thoại để
truyền qua mạng PSTN. Mạng PSTN truyền tín hiệu từ 200Hz tới 3.400Hz.

Do đó, tín hiệu điều chế giống nhƣ một cuộc gọi thông thƣờng với mạng
PSTN. Mô hình tham chiếu modem băng thoại đƣợc cho trong hình 1.1

RS C S T R RD TD CD
TALK / DATA
TALK
RS CS TR RD TD CD
TALK / DATA
TALK
PSTN
CO
Modem Modem
CO


Hình 1 . 1 Mô hình tham chiếu modem băng thoại
Sau đây ta sẽ sơ lƣợc qua lịch sử phát triển của modem băng thoại.
Một trong các modem đầu tiên, AT&T Bell 103 truyền song công không đồng
bộ ở tốc độ 300bit/s sử dụng kỹ thuật khoá di tần FSK. Vài năm sau đó,
modem Bell 202 tăng tốc độ lên 1200bit/s và sử dụng kỹ thuật FSK bán song
công. Vào cuối năm 1973 Công ty Vadic đƣa ra VA3400, modem song công
thực sự đầu tiên sử dụng PSK (khoá di pha). Vài năm sau nữa Bell 212 và
CCITT V22 1200bit/s song công, sử dụng kỹ thuật PSK cũng đƣợc đƣa ra.


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
7

Năm 1981, V22bis có tốc độ 2400bit/s, song công V32 sử dụng mã hoá trellis
và có tiến một bƣớc quan trọng là truyền thông tin theo hai hƣớng sử dụng
cùng một tần số. Các modem trƣớc V32 sử dụng tần số phát khác tần số thu
(FDM). V32 đạt đƣợc tốc độ 9.600 bit/s. Sau đó, V34 xuất hiện, tối ƣu hoá
tần số sử dụng, dạng chùm, mã hoá theo kênh cho phép truyền tới tốc độ 28,8
kbit/s, song công. Năm 1995, modem V34 33,6kbit/s đƣợc dƣa ra thị trƣờng,
modem này sử dụng độ rộng băng tần lên tới 3,6kHz. Về mặt kỹ thuật, lớn
hơn độ rộng băng tần truyền thống là 3,4kHz. Tuy nhiên, V34 có thể hoạt
động ở độ rộng băng tần thấp hơn bằng cách giảm tốc độ truyền. Truyền 33,6
kbit/s trong giải băng tần 3,6kHz, nhƣ vậy modem V34 truyền gần 10bit/s/Hz,
thành công này đã đƣợc coi là tiến gần đền giới hạn lý thuyết của truyền số
liệu trong băng thoại. Vào cuối năm 1996, các modem PCM 56kbit/s xuất
hiện, đƣợc chuẩn hoá bằng tiêu chuẩn ITU V90. Modem PCM là không đối
xứng bởi vì nó hỗ trợ tốc độ thu 56kbit/s (về phía khách hàng) và phát ở
33,6kbit/s. Trên thực tế, modem PCM rất hiếm khi đạt tốc độ trên 50kbit/s do
hạn chế công suất truyền, các chuyển mạch trung gian và các suy giảm truyền
dẫn nhƣ các cuộn cân bằng cáp. Khi có đƣờng truyền số trực tiếp (không
chuyển đổi tƣơng tự) từ nguồn số tới modem PCM nối vào mạng của đƣờng
dây thuê bao. tốc độ truyền modem PCM có thể vƣợt quá 33,6kbit/s bằng
cách truyền trực tiếp tín hiệu số thành tín hiệu phát đi không bị ảnh hƣởng của
nhiễu lƣợng tử hoá.

CO
Thu ph¸t DSL
Thu ph¸t
DSL
CO
Thu ph¸t
DSL
Thu ph¸t DSL

M¹ch
vßng
Trung

M¹ch
vßng
Ph¹m vi thuª bao DSL B Ph¹m vi thuª bao DSL A


Hình 1 .2 Mô hình tham chiếu đầu cuối - đầu cuối DSL
Cấu hình mạng modem PCM khác với PSTN của modem băng thoại thế hệ
trƣớc. ở phía mạng, modem PCM phải có 1 đƣờng số nối trực tiếp tới bộ
chuyển đổi tƣơng tự-số (CODEC) nối vào đƣờng dây điện thoại của ngƣời sử
dụng modem PCM. Modem này hoạt động trên mạng PSTN nhƣ một cuộc gọi
quay số thông thƣờng. Modem PCM giống DSL ở chỗ cần có một đƣờng nối
số từ mạng tới giao diện thuê bao nhƣng khác mô hình DSL (xem hình 1.2) ở
chỗ cuộc gọi đƣợc thực hiện giống nhƣ điện thoại thông thƣờng. Về mặt cấu


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
8
trúc modem PCM đƣợc coi là lai giữa DSL và modem băng thoại truyền
thống. Modem PCM có thể sử dụng độ rộng băng tần tới 4kHz.
Giới hạn cơ bản của Modem băng thoại là ở bộ CODEC đặt tại tổng đài nội
hạt hoặc ở đầu cuối mạch vòng số (DCL). CODEC chuyển đổi tín hiệu tƣơng
tự trên đƣờng dây thoại sang tín hiệu số 64kbit/s bằng điều chế xung mã.
Modem băng thoại sử dụng trong mạng PSTN không vƣợt quá 64kbit/s

Ƣu điểm quan trọng của Modem là có thể triển khai ở khắp mọi nơi. Một
Modem có thể nối tới bất cứ một đƣờng dây điện thoại nào và ngay lập tức có
thể gọi tới hàng triệu đƣờng dây điện thoại khác đã có Modem nối vào. Các
Modem rẻ hơn thiết bị DSL và dễ dàng lắp đặt. Tuy nhiên, nó chỉ làm việc
với các dịch vụ đòi hỏi tốc độ thấp phù hợp với khả năng của modem băng
thoại. Nhƣợc điểm khác của modem là các cuộc gọi bị khoá dẫn tới trạng thái
quá tải của tổng đài nội hạt, nó không có khả năng nối nhiều hƣớng cùng một
lúc và tỷ lệ lỗi cao. Các hạn chế này của modem đã đƣợc DSL khắc phục.
Sự khác biệt cơ bản giữa modem băng thoại và DSL là modem hoạt động trên
toàn bộ đƣờng nối giữa hai đầu cuối của mạng PSTN, trong khi đó DSL chỉ
hoạt động ở mạch vòng nội hạt. Nhƣ đã chỉ ra ở hình 1.1, đƣờng truyền dẫn
modem băng thoại có thể bao gồm mạch vòng nội hạt cho ngƣời sử dụng A,
chuyển mạch nội hạt, chuyển mạch trung kế, chuyển mạch nội hạt khác để nối
tới ngƣời sử dụng khác, và cuối cùng là mạch vòng nội hạt cho ngƣời sử dụng
B. Ngƣợc lại, đƣờng truyền dẫn DSL chỉ bao gồm một mạch vòng nội hạt từ
địa điểm ngƣời sử dụng tới tổng đài nội hạt gần đó. Điểm phân biệt cơ bản
khác giữa modem và DSL là DSL giữ thông tin ở dạng số từ cổng đầu cuối
này đến cổng đầu cuối kia. Ngƣợc lại modem truyền tín hiệu số của ngƣời sử
dụng qua PSTN ở dạng tƣơng tự. Với DSL, tín hiệu sẽ đƣợc tái tạo lại mỗi
chặng qua mạng công cộng, do đó sự suy giảm tín hiệu tƣơng tự không bị tích
luỹ ở mỗi chặng.
Đối với khách hàng sử dụng mạch vòng số DLC hoặc hệ thống đầu cuối xa,
DSL mở rộng từ khu vực khách hàng tới khu vực DLC (xem hình 1.3). DLC
và DLC thế hệ mới (NGDLC) đƣợc dùng để phục vụ các khách hàng ở quá
xa. Thiết bị DLC có thể đặt ở ngoài đƣờng hoặc dƣới lòng đất, nơi xa hoặc
trong các toà nhà. Hệ thống DLC có thể nối từ 20 đến 2000 khách hàng vào 1
trung kế, nối tới chuyển mạch trung tâm CO.




Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
9
CO
DLC
Thu ph¸t
DSL
Thu ph¸t DSL
M¹ch
vßng
Trung

Ph¹m vi thuª bao DSL B
PhÇn cßn l¹i cña
m¹ng ®Çu cuèi -
®Çu cuèi
Trung



Hình 1.3 Mô hình tham chiếu DSL có mạch vòng số DLC
Một DSL bao gồm 1 đƣờng dây đồng trực tiếp nối từ thuê bao tới thiết bị
mạng gần nhất. Một ngoại lệ của nguyên tắc này là bộ lặp trung gian đƣợc sử
dụng để mở rộng phạm vi của DSL bằng cách lắp thiết bị thu phát lại ở giữa
mạch vòng nội hạt (hình 1.4). Bộ lặp DSL nhận nguồn 1 chiều từ CO qua đôi
dây cáp đồng cùng với dây truyền dữ liệu.

CO

Repeater Thu ph¸t DSL
M¹ch
vßng
Ph¹m vi thuª bao DSL B
PhÇn cßn l¹i cña
m¹ng ®Çu cuèi -
®Çu cuèi
Trung

M¹ch
vßng
Thu ph¸t
DSL

Hình 1.4 Mô hình tham chiếu DSL có sử dụng bộ lặp


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
10
1955 1970 1981 1986 1992 1993 1996 1997 1999
300
bit/s
Bell
103
1200
bit/s
Bell

202
2400
bit/s
V.22
64
kbit/s
ISDN
1.5/2
Mbit/s
HDSL
28.8
kbit/s
V.34
56
kbit/s
PCM
Max 7
Mbit/s
VDSL
Max 54
Mbit/s
VDSL

Hình 1.5 Tóm tắt lƣợc sử phát triển các modem băng thoại và DSL
1.2 Các chế độ truyền dẫn
Có rất nhiều chế độ truyền dẫn, việc phân chia ra các chế độ truyền dẫn này
dựa trên một vài quan điểm khác nhau. Việc sử dụng chế độ truyền dẫn nào
lại phụ thuộc vào ứng dụng và đặc tính kênh truyền. Sau đây ta sẽ khảo sát
qua các chế độ truyền dẫn hiện nay.
1.2.1 Hướng

Truyền dẫn đơn công là truyền theo 1 hƣớng từ nguồn tới đích, ví dụ của
truyền dẫn đơn công là phát thanh quảng bá, mạch chuông báo động. Hầu nhƣ
tất cả ứng dụng DSL đều đòi hỏi truyền hai hƣớng. Do vậy, truyền dẫn đơn
công thƣờng không sử dụng cho DSL. Tuy nhiên có thể mô tả T1 nhƣ một ví
dụ của truyền dẫn đơn công khi quan niệm T1 bao gồm hai đƣờng đơn công
ngƣợc chiều nhau.
Truyền dẫn bán song công truyền theo chu kỳ từ trạm A đến trạm B và ngƣợc
lại. Vì vậy, tại mỗi thời điểm thông tin đƣợc chuyển theo 1 hƣớng (đơn công).
Truyền dẫn hai hƣớng đƣợc thực hiện bằng các bộ thu phát ở hai đầu dây
nhận biết ―đến lƣợt‖ và chuyển vai trò phát hoặc thu. ở các ứng dụng ban đầu
của truyền dẫn bán song công, 1 bản tin đƣợc gửi trƣớc khi đƣờng dây ―đến
lƣợt‖. Một số hệ thống DSL áp dụng bán song công cải tiến gọi là nén ghép
kênh theo thời gian (TCM). TCM giảm thời gian luân chuyển còn vài ms. Các
Đơn công


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
11
ví dụ truyền dẫn bán song công là điện báo, phát thanh hai hƣớng sử dụng
cùng tần số.
Truyền dẫn song công gửi thông tin liên tục theo hai hƣớng đồng thời. Ví dụ
thoại truyền thống, modem băng thoại, ISDN cơ bản (ANSI T1. 601) và DSL.
Hầu hết các dịch vụ DSL đòi hỏi truyền dẫn song công (có thể là đối xứng
hoặc không đối xứng). Có 4 phƣơng thức song công khác nhau: song công 4
dây, triệt tiếng vọng, song công phân chia theo thời gian, song công phân chia
theo tần số.
Song công 4 dây sử dụng hai đôi dây xoắn, mỗi đôi cho một hƣớng truyền.

Song công 4 dây còn đƣợc gọi là ―đơn công đôi‖ bởi vì ta có thể quan niệm
đây là hai kênh truyền dẫn đơn công. Nhƣợc điểm rõ ràng của phƣơng pháp
này là cần tới 2 đôi dây thay vì một đôi nhƣ các phƣơng pháp khác. Song
công 4 dây thƣờng đƣợc sử dụng trong một số modem HDSL hiện đại tốc độ
2,048 Mb/s với cự ly xấp xỉ khoảng 4km. Hai hƣớng truyền dẫn này thƣờng
sử dụng hai đôi dây nằm trong các bó cáp khác nhau để tránh xuyên nhiễu.
Song công triệt tiếng vọng cho phép đạt đƣợc tốc độ truyền dữ liệu của song
công 4 dây trên một đôi dây xoắn. Triệt tiếng vọng là dạng phổ biến nhất của
ghép kênh trong DSL hiện đại, đƣợc chuẩn hoá để sử dụng trong ISDN,
HDSL, ADSL. ―Tiếng vọng‖ có thể hiểu là sự xâm nhập của tín hiệu phát vào
bộ thu đầu gần. Các bộ triệt tiếng vọng phải có khả năng loại bỏ tiếng vọng
khoảng 50dB hoặc cao hơn đối với ISDN, khoảng trên 60dB đối với HDSL
và trên 70dB đối với ADSL. Các mức độ triệt tiếng vọng đòi hỏi phải khác
nhau là vì các dịch vụ DSL sử dụng các băng tần khác nhau, các dịch vụ sử
dụng băng tần cao hơn thì tín hiệu cũng bị suy giảm nhiều hơn do vậy để đảm
bảo tiếng vọng không vƣợt quá tín hiệu mong muốn thu đƣợc thì các dịch vụ
DSL sử dụng băng tần cao hơn sẽ phải có bộ triệt tiếng vọng tốt hơn. Phƣơng
pháp triệt tiếng vọng cho phép hai hƣớng sử dụng cùng một tần số. Ƣu điểm
của cách này là ta có thể sử dụng đƣợc băng tần thấp nhất khi đó hạn chế
đƣợc suy hao tín hiệu và nhiễu tần số vô tuyến.
Truyền song công không đối xứng đƣợc sử dụng cho thuê bao số không đối
xứng. Thông tin truyền đồng thời theo hai hƣớng nhƣng tốc độ truyền từ
ngƣời sử dụng đến mạng thấp hơn tốc độ truyền từ mạng về phía ngƣời sử
Bán song công Bán song công Bán song công
Song công
Song công không đối xứng


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến


Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
12
dụng. Điều này cho phép thu dữ liệu tốc độ cao trên đoạn đƣờng xa hơn, do
giảm thiểu xuyên nhiễu đầu gần (NEXT) giữa các DSL.
1.2.2 Đồng bộ
Truyền dẫn đồng bộ gửi các bit liên tục. Bộ thu DSL sẽ tách tín hiệu định thời
từ dòng bit nhận đƣợc. Truyền dẫn đồng bộ và không đồng bộ có thể áp dụng
cho truyền dẫn đơn công, bán song công và song công. Thông thƣờng các
DSL sử dụng truyền dẫn đồng bộ.
Truyền dẫn không đồng bộ truyền các đơn vị (là các ký tự hoặc các khối)
cùng với cờ báo sự bắt đầu của mỗi đơn vị. Nhƣ vậy theo định nghĩa này thì
ATM đƣợc coi là truyền đồng bộ ở mức bit nhƣng không đồng bộ ở mức tế
bào, do sự bắt đầu của mỗi tế bào ATM có thể là bất kỳ bit nào.

1.2.3 Kênh
Các DSL phải chuyển tải nhiều hơn một kênh thông tin, trong đó mỗi kênh
phải cho một ứng dụng và dịch vụ khác nhau. ISDN có 2 kênh cho thoại/dữ
liệu, 1 kênh D cho báo hiệu và kênh khai thác đƣợc ghép vào (EOC) để vận
hành và bảo dƣỡng. HDSL có 1 kênh lớn và 1 kênh EOC. ADSL có các kênh
dữ liệu, 1 kênh EOC và 1 dải tách biệt cho dịch vụ thoại tƣơng tự.
Ghép kênh phân chia theo thời gian (TDM) là phƣơng pháp thƣờng đƣợc sử
dụng nhất để chuyển tải nhiều kênh thông tin. Thông tin đƣợc đƣa vào các
khung có chiều dài cố định và có số bit cố định dành cho mỗi kênh. Để giảm
trễ, số bit ở mỗi kênh đƣợc chia thành một vài khối nhỏ hơn và sau đó đƣa
vào các khung. Các khung này lại có thể tổ chức thành các siêu khung tạo
thành kênh có tốc độ thấp (EOC là một ví dụ). Ngoài việc truyền ghép kênh
thông tin theo một hƣớng, TDM còn sử dụng nhƣ phƣơng pháp song công,
thông tin lần lƣợt đƣợc phát và thu. Trong DSL phƣơng pháp này còn đƣợc
gọi là truyền dẫn phân đoạn ―ping-pong‖ hay ghép kênh nén theo thời gian và

gần nhƣ loại bỏ đƣợc hiện tƣợng tự xuyên nhiễu đầu gần NEXT vì bộ thu sẽ
không nhận khi bộ phát đang phát.
Ghép kênh phân chia theo tần số (FDM) đặt mỗi kênh một dải tần số riêng
biệt. Vì vậy tất cả các kênh đều đƣợc gửi cùng một lúc. ADSL sử dụng FDM
Đồng bộ
Không dồng bộ





Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
13
bằng cách sử dụng tần số thấp cho thoại và tần số cao cho dữ liệu Thiết kế
FDM cần cân nhắc giữa độ phức tạp thiết kế các bộ lọc và lƣợng phổ tần số
cho các dải bảo vệ. Trên thực tế, FDM không đƣợc sử dụng nhiều do sự thay
đổi trong suy giảm đƣờng truyền có thể dẫn đến việc không đảm bảo băng
thông cho hai hƣớng. FDM là một phƣơng thức hạn chế ảnh hƣởng tự xuyên
nhiễu đầu gần do băng tần hƣớng lên và hƣớng xuống không chồng lấn nhau
Ghép kênh theo không gian chỉ đơn giản đặt mỗi kênh trên tập hợp tách biệt
các dây. Sự đơn giản này chỉ thích hợp cho việc truyền các tín hiệu trên
những khoảng cách vài cm, nhƣng giá thành của những dây này và các bộ thu
phát bổ sung cho những dây này ngày càng đắt. Để giảm tối đa giá thành tổng
thể, DSL chủ trƣơng đặt tất cả thông tin trên 1 đôi dây. Tuy nhiên, với một vài
ứng dụng ta có thể sử dụng nhiều hơn một đôi dây để đạt đƣợc tốc độ cao hơn
và khoảng cách lớn hơn ví dụ HDSL sử dụng 2 đôi dây (cho tốc độ 1,5Mb/s),
3 đôi dây (cho tốc độ 2Mb/s).


1 2.4 Mô hình đơn và đa điểm
Các DSL là hệ thống truyền dẫn điểm nối điểm. Một bộ thu phát đƣợc nối vào
mỗi đầu cuối của đôi dây. Một đầu có thể đặt tại công ty điện thoại ví dụ tại
chuyển mạch trung tâm và đầu kia đặt tại phía khách hàng. So sánh với hệ
thống đa điểm, truyền dẫn điểm nối điểm đơn giản, có độ tin cậy và bảo mật
cao. Mô hình điểm nối điểm dành một dải thông nhất định cho mỗi thuê bao.
Với hệ thống chuyển mạch thích hợp đặt ở trung tâm thì dung lƣợng cho mỗi
thuê bao đƣợc duy trì không đổi khi số lƣợng nút trong mạng tăng lên.



Hệ thống điểm nối đa điểm bao gồm trạm thu phát trung tâm (chủ) liên lạc
với các cổng nối đa hƣớng. Các cổng này không trực tiếp liên lạc với nhau.
Hệ thống truyền hình cáp đồng trục là một ví dụ điển hình cho mô hình truyền
dẫn này. Trong mô hình đa điểm nối đa điểm các cổng có thể liên lạc trực tiếp
với nhau. Các hệ thống đa điểm thích hợp cho các khoảng cách ngắn còn hệ
thống điểm nối điểm thích hợp cho các khoảng cách lớn hơn.



Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
14



1.3 Các phương thức điều chế dùng trong DSL

1.3.1 Mã hoá băng gốc
Mã hoá băng gốc khác với mã hoá băng thông ở chỗ các mã hoá băng gốc cho
phép truyền năng lƣợng tại DC, trong khi mã hoá băng thông truyền tại dải
tần số khác DC (khác 0). Các mã hoá đƣờng dây băng gốc có trong các thế hệ
DSL đầu tiên nhƣ: T1, ISDN, HDSL.
2B1Q
Mã này đƣợc sử dụng nhiều trong ISDN, HDSL. Tên của mã, 2B1Q xuất phát
từ việc gợi nhớ cách mã hoá ―2 bit/ một phần tƣ chu kỳ‖. Số các bit trong
nhóm là b=2 và mỗi nhóm bit tƣơng ứng với một trong 4 giá trị mẫu dữ liệu
nhƣ trong bảng ánh xạ sau đây.
m
Tổ hợp bit
Mức tín hiệu (V)
3
10
2,7
2
11
0,9
1
01
-0,9
0
00
-2,7
PAM
Điều chế biên độ xung, PAM là một sự khái quát hoá của 2B1Q, nó có
2 , 1, ,
b
Mb  

. PAM mức 8 hay 3B1O có thể đƣợc sử dụng trong các hệ
thống HDSL, HDSL-2, tốc độ ký hiệu của HDSL-2 3B1O là 517,3kHz và do
vậy tốc độ dữ liệu của modem này là 1,552 Mb/s.
AMI
Mã chuyển dấu kế tiếp, AMI đƣợc sử dụng trong các đƣờng dây T1,E1. Hàm
điều chế cơ bản phụ thuộc vào các ký hiệu dữ liệu quá khứ, trong đó bit ‗1‘
gây ra đảo cực +1 hoặc -1, ‗0‘ không làm thay đổi, hay ta có ánh xạ sau:
1 1,0 0  
. [16]


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
15
1.3.2 Mã hoá băng thông
Mã hoá băng thông đƣợc sử dụng nhiều trong DSL, loại mã hoá này không có
năng lƣợng tại hoặc gần mức DC.
QAM
Điều chế biên độ cầu phƣơng QAM, là phƣơng pháp điều chế hai chiều, N=2.
Sử dụng hai hàm cơ bản:
     
1
2
cos 2
c
t t f t
T
  



     
2
2
sin 2
c
t t f t
T
  

.
Đối với truyền dẫn liên tục, QAM đƣợc thực hiện nhƣ sau:
         
1, 2,
2
cos 2 sin 2
k c k c
k
x t x t kT f t x t kT f t
T
   
   


Các xung QAM chịu sự suy yếu nghiêm trọng khi áp dụng trên các đƣờng dây
DSL, do vậy, QAM thƣờng đƣợc sử dụng trong truyền dẫn modem băng thoại
khi mà ở đó các đặc tính đƣờng dây có ít sự biến động trên các băng tần nhỏ
từ 3 đến 4 kHz.
CAP

Điều chế biên độ/pha không sóng mang, CAP là một sự cải tiến của QAM.
Cũng với hai hàm cơ bản nhƣ trong điều chế QAM, nhƣng sóng mang đƣợc
loại bỏ trƣớc khi truyền, truyền dẫn liên tục CAP đƣợc thể hiện nhƣ sau:
   
 
 
 
 
 
1, 2,
2
cos 2 sin 2
k c k c
k
x t x t kT f t kT x t kT f t kT
T
   
     

.
DMT
Đa tần rời rạc, DMT là hệ thống đa sóng mang sử dụng nhiều sóng mang
băng hẹp và truyền dẫn song song đồng thời. Phƣơng pháp này có thể sử dụng
FDM để truyền trên các băng con. Mã hoá đa kênh đòi hỏi phải có tính trực
giao giữa các băng con và phép biến đổi Fourier nhanh là một ứng dụng tuyệt
vời để tạo và giải điều chế các sóng mang trực giao này. Phƣơng pháp này
chia giải thông thành các phần nhỏ hơn. Theo chuẩn T1.413 của ANSI, DMT
chia băng thông thành 256 kênh nhỏ, mỗi kênh có độ rộng 4 kHz. Các kênh
này đƣợc điều chế độc lập từ 0 đến tối đa 15b/s/Hz, điều này cho phép lên tới
tối đa 60 kb/s trên mỗi băng con. ở tần số thấp, khi suy hao đƣờng dây thấp và

tỷ lệ SNR cao, thông thƣờng mật độ sử dụng sẽ cao hơn so với khu vực tần số
cao. DWMT(Discrele Wavelet Multitone) là một lƣợc đồ mã hoá dựa trên ý
tƣởng của DMT, nó cũng chia kênh truyền thành các kênh nhỏ để sử dụng
những phần phổ tần số không bị ảnh hƣởng bởi nhiễu. Trong khi DMT sử
dụng thuật toán biến đổi Fourier nhanh để mã hoá đa kênh thì DMWT lại sử


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
16
dụng thuật toán biến đổi Wavelet. Đây là một cải tiến của DMT nhằm tối ƣu
hoá việc sử dụng phổ tần số.






CHUƠNG 2
CÁC LOẠI xDSL
Lược sử về DSL
Ta có thể quan niệm rằng các đƣờng trung kế T1, E1 và các đƣờng dịch vụ dữ
liệu số DDS cũng là các DSL. Mặc dù hệ thống E1, T1 ban đầu chỉ sử dụng
làm trung kế giữa các trung tâm chuyển mạch (CO), sau này đã đƣợc mở rộng
ra khu vực khách hàng. Đến ngày nay, các trung kế CO đã đƣợc truyền dẫn
trên cáp quang hoặc viba nhƣng vẫn còn khá lớn các hệ thống T1, E1 chạy
trên cáp thuê bao đến khu vực khách hàng. Một đƣờng truyền T1, E1 có 4
dây, 2 dây truyền thông tin đến khách hàng và 2 dây còn lại truyền thông tin

từ phía khách hàng về. Truyền dẫn T1, E1 trên đƣờng dây thuê bao đã thể
hiện một số nhƣợc điểm: giá thành cao, tốn thời gian lắp đặt và để giảm
xuyên nhiễu đầu gần thì hai hƣớng thu và phát phải nằm ở hai bó cáp khác
nhau nhƣ vậy phải cần hai bó cáp riêng biệt. Đƣờng dây T1 đƣợc thiết kế với
mức suy hao tối đa là 15dB ở tần số 772 kHz cho CO (CO tới bộ lặp đầu
tiên), suy hao tối đa 36dB từ bộ lặp tới bộ lặp và suy hao 22,5dB từ bộ lặp
cuối cùng đến khách hàng. T1 sử dụng mã đƣờng dây AMI, so với các tiêu
chuẩn ngày nay là không hiệu quả, AMI gửi 1bit/1baud, bên cạnh đó T1 còn
sử dụng mức tín hiệu truyền dẫn cao do đó gây một mức xuyên nhiễu khá lớn
sang các hệ thống khác trong phạm vi dải tần 100kHz đến 2MHz.
ISDN
BRI
Mạng số đa dịch vụ ISDN đầu tiên hình thành vào năm 1976, tham vọng ban
đầu của ISDN là đƣa ra một mạng thống nhất cho truyền dữ liệu và thoại. Để


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
17
phát triển hệ thống truyền dẫn, chuyển mạch, báo hiệu và khai thác ISDN đòi
hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn về tiền của và công sức. ISDN tập trung vào các
dịch vụ thoại và chuyển mạch gói tốc độ thấp, tuy nhiên đây lại chính là
nhƣợc điểm của nó. Mạng ISDN không thích hợp với mạng chuyển mạch gói
tốc độ cao và thời gian chiếm giữ lâu mà nó lại là đặc tính của truy nhập
Internet.
BRI truyền tổng cộng 160 kbit/s thông tin số đối xứng trên mạch vòng có độ
dài xấp xỉ 5500 m (18 kft) (hoặc suy hao 42 dB ở tần số 40 kHz). BRI đƣợc
phân thành 2 kênh B 64 kbit/s, một kênh D 16 kbit/s và 16 kbit/s cho khung

và điều khiển đƣờng dây. Kênh B có thể là chuyển mạch kênh hoặc chuyển
mạch gói. Kênh D mang báo hiệu và gói dữ liệu ngƣời sử dụng. Một phần
kênh dành cho hoạt động khai thác bảo dƣỡng (EOC) và các bit chỉ thị đƣợc
chứa trong 8 kbit/s ở phần mào đầu. EOC truyền các gói dữ liệu về trạng thái
đƣờng dây, các bộ thu phát.
Truyền dẫn ISDN cơ bản điều chế dữ liệu bằng cách sử dụng xung 4 mức để
biểu thị 2 bit nhị phân (2B1Q). Dữ liệu đƣợc truyền 2 hƣớng đối xứng sử
dụng mạch sai động để triệt tiếng vọng. Kỹ thuật truyền dẫn trong băng cơ sở
2B1Q đơn giản gửi 160 kbit/s sử dụng dải tần 80 kHZ tức 2bit/1Hz. Các hệ
thống BRI có thể làm việc trên mạch vòng có đoạn cầu rẽ và có tổng suy hao
nhỏ hơn 42 dB ở tần số 40 kHz (yêu cầu mạch vòng không sử dụng cuộn cảm
cân bằng).
Đường dây bổ sung
Thiết bị thu phát BRI có thể đƣợc sử dụng cho các ứng dụng phi ISDN nhƣ hệ
thống đƣờng dây số bổ sung (DAML). Hệ thống DAML cho phép một mạch
vòng truyền 2 mạch thoại. Xem hình 2.1. Các bộ mã hoá ở mỗi đầu hệ thống
chuyển 64 kbit/s BRI kênh B truyền thống thành giao diện thoại tƣơng tự. Hệ
thống DAML sử dụng công nghệ BRI có độ dài mạch vòng tối đa 5,5 Km,
nếu dựa trên HDSL có thể truyền nhiều hơn 2 đƣờng thoại trên một đôi dây.
CO
ChuyÓn m¹ch
néi h¹t
Thu
ph¸t
DSL
Voice
CODEC
Voice
CODEC
Thu

ph¸t
DSL
Voice
CODEC
Voice
CODEC
1 2 3
4 5 6
7 8 9
*
8 #
1 2 3
4 5 6
7 8 9
*
8 #
POST
POST
M¹ch
vßng

Hình 2.1 Hệ thống đƣờng dây số bổ sung (DAML)
IDSL


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
18

Một ứng dụng phi ISDN khác của bộ thu phát BRI là IDSL (ISDN DSL), các
kênh đối xứng BRI (128 kbit/s hoặc144 kbit/s) đƣợc kết hợp lại thành một
kênh truyền dẫn gói dữ liệu giữa bộ định tuyến và máy tính của khách hàng.
Phần lớn các dạng IDSL sẽ làm việc với ISDN NT tiêu chuẩn ở đầu cuối
khách hàng. Khi này bộ chuyển mạch ISDN nội hạt sẽ đƣợc thay thế bởi bộ
định tuyến gói. Cấu hình này đƣợc sử dụng cho truy nhập Internet.
Các dịch vụ trên là điểm xuất phát cho sự bùng nổ của gia đình xDSL sau
này. Sau đây ta sẽ xem xét qua gia đình xDSL đã phát triển trong thời gian
qua.

xDSL
HDSL ADSL VDSL
ChuÈn Më réng
HDSL
HDSL2
MVL
SDSL
MDSL
IDSL
ChuÈn
ADSL
RADSL
G.lite
Më réng
1-Meg modem
CDSL
EZ-DSL


2.1 HDSL

Khái niệm ban đầu về HDSL (đƣờng dây thuê bao số tốc độ cao) xuất hiện
vào năm 1986 ở phòng thí nghiệm AT&T Bell và Bellcore. Các thiết kế thiết
bị thu phát HDSL về thực chất là thiết kế cho ISDN cơ bản ở mức cao hơn.
Hệ thống HDSL mẫu xuất hiện năm 1989. Thiết bị HDSL đầu tiên đƣợc Bell
Canada đƣa vào hoạt động vào năm 1992 do Công ty Tellabs Operation Inc
sản xuất. Nhu cầu cho HDSL ngày càng rõ rệt khi hệ thống truyền dẫn El và
T1 không chỉ còn đƣợc sử dụng nhƣ mục đích nguyên thuỷ là để nối liên đài
cùng với sự dự đoán về việc phát triển nhanh chóng của các đƣờng dây riêng
nối từ trung tâm chuyển mạch đến khách hàng. Hệ thống truyền dẫn Tl/El sử
dụng các đôi dây điện thoại có giá thành rất cao. Phƣơng pháp truyền dẫn sử
dụng El/T1 có năng lƣợng tín hiệu phát cao ở tần số từ 100 KHz tới hơn
2MHz, điều này đòi hỏi cần phải kết hợp các đƣờng dây Tl/El thành một
nhóm tách biệt với nhiều dịch vụ khác. Ngoài giá thành đắt khi lắp đặt và bảo
dƣỡng, các đƣờng dây Tl/El còn cần vài tuần để cung cấp dịch vụ tới khách


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
19
hàng. Ngƣời ta cần một hệ thống truyền dẫn tiện lợi có thể cung cấp nhanh
chóng và dễ dàng 1,5 hoặc 2 Mbit/s trên phần lớn các đƣờng dây thuê bao, vì
thế HDSL ra đời. Lợi ích của HDSL là rất lớn do không cần có các bộ lặp
trung gian. Mỗi bộ lặp phải đƣợc tính toán sao cho đảm bảo mỗi đoạn dây
nằm trong giới hạn suy giảm cho phép. Tín hiệu lặp có thể gây ra xuyên nhiễu
quá mức tới hệ thống truyền dẫn khác. HDSL đƣợc ƣa dùng hơn Tl truyền
thống còn bởi vì HDSL cung cấp các khả năng chuẩn đoán (ví dụ nhƣ đo
SNR) và HDSL gây xuyên nhiễu ít hơn các hệ thống truyền dẫn khác do tín
hiệu truyền đƣợc hạn chế trong băng tần hẹp hơn Tl truyền thống.

Truyền dẫn song công 2B1Q cùng với triệt tiếng vọng đƣợc sử dụng cho hầu
hết các hệ thống HDSL trên thế giới. Ngoại trừ một số nơi ở châu âu sử dụng
hệ thống đa tần rời rạc và AM/ PM không sóng mang (CAP). Đối với truyền
dẫn 1,544 Mbit/s, truyền dẫn song công kép sử dụng mỗi đôi dây để truyền
một nửa tải hai hƣớng (768 kbit/s) cùng với 16 kbit/s tiêu đề dùng để tạo
khung và kênh thông tin khai thác (EOC). Hai đôi dây tạo nên hệ thống truyền
dẫn 1,544 Mbit/s. Bởi vì cả hai đôi dây cùng truyền thông tin tiêu đề giống
nhau nên thiết bị thu sẽ chọn một trong hai dây để thu tiêu đề. Thông thƣờng
thiết bị thu sẽ chọn dây có tỉ số tín hiệu trên nhiễu (SNR) tốt hơn. Có một vài
giải pháp đƣợc lựa chọn cho hệ thống HDSL nguyên thuỷ: song công đơn,
đơn công kép và song công kép.
Truyền dẫn đơn công kép sử dụng hai đôi dây, với một đôi dây truyền toàn bộ
tải theo một hƣớng và đôi dây thứ hai truyền toàn bộ tải theo hƣớng ngƣợc
lại. Xem hình 2.2. Phƣơng pháp này rất đơn giản để tách tín hiệu ở hai hƣớng
khác nhau của truyền dẫn. Truyền dẫn đơn công kép có nhƣợc điểm là truyền
tín hiệu có băng tần lớn, do đó có suy hao lớn và xuyên nhiễu ở tần số cao.
Nên xuyên nhiễu các tín hiệu truyền trên hai dôi dây không hoàn toàn tách
biệt. Do đó các thiết bị thu phát đơn công kép có thể đơn giản hơn nhƣng hoạt
động kém hơn song công kép.

Toµn bé l-u l-îng xuèng
Toµn bé l-u l-îng lªn

Hình 2.2 Truyền dẫn đơn công kép sử dụng hai đôi dây
Truyền dẫn song công kép cải tiến độ dài mạch vòng và độ tƣơng thích phổ
bằng cách gửi một nửa thông tin trên mỗi đôi dây. Xem hình 2.3. HDSL giảm
băng tần của tín hiệu truyền bằng cách sử dụng truyền dẫn ECH để truyền hai
hƣớng cùng một băng tần. Năng lƣợng tín hiệu truyền của HDSL song công
kép giảm dần đối với tần số lớn hơn 196 kHz. Kết quả là tín hiệu xuyên nhiễu
và suy hao giảm. Một ƣu điểm khác của truyền dẫn song công kép là sử dụng



Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
20
một đôi dây có thể dễ dàng cung cấp hệ thống truyền dẫn nửa tốc độ. Thông
tin bảo dƣỡng giống nhau (bit chỉ thị và EOC) đƣợc chuyển tải trên mỗi đôi
dây của hệ thống HDSL song công đối ngẫu. Việc tải dƣ này của các tiêu đề
cho phép sử dụng cùng các phần tử thu phát cho các hệ thống một, hai và ba
đôi dây HDSL. Hơn nữa, thông tin tiêu đề dƣ bảo đảm hoạt động tin cậy của
các chức năng bảo dƣỡng thậm chí nếu truyền dẫn bị hỏng hoặc bị giảm chất
lƣợng trên một trong các mạch vòng.

Mét nöa ®Çu l-u l-îng xuèng
Mét nöa sau l-u l-îng lªn
Mét nöa ®Çu l-u l-îng lªn
Mét nöa sau l-u l-îng xuèng

Hình 2.3 Truyền dẫn song công kép cải tiến
Song công đơn chỉ cần sử dụng một đôi dây và một cặp thiết bị thu phát. Xem
hình 2.4. Hai hƣớng truyền dẫn có thể đƣợc tách biệt bằng ghép kênh theo tần
số (FDM) hoặc bằng truyền dẫn hỗn hợp triệt tiếng vọng. Tuy nhiên, truyền
toàn bộ tải trên hầu hết các mạch vòng đều dựa trên công nghệ đầu những
năm 90. Hơn nữa, vì dải thông lớn cần phải quan tâm đến tƣơng thích phổ với
các hệ thống truyền dẫn khác. Hệ thống SDSL phát triển vào đầu những năm
90 có độ dài mạch vòng ít hơn 1800m (6 kft) trên đôi dây 26 AWG, cho phép
truyền đối xứng trên một đôi dây; khoảng ngắn này đã hạn chế rất lớn khả
năng sử dụng của nó. Trong thực tế, khả năng truyền dữ liệu của SDSL nằm

trong khoảng 160 kb/s đến 2,048 Mb/s với khoảng cách tối đa là 3000m (10
kft) và ngắn hơn khi lựa chọn tốc độ cao hơn

Toµn bé l-u l-îng xuèng
Toµn bé l-u l-îng lªn

Hình 2.4 Hệ thống SDSL
Chỉ với kỹ thuật tiên tiến xuất hiện vào cuối năm 90 thì truyền dẫn song công
đơn mới trở thành hiện thực. HDSL2 là tiêu chuẩn cho công nghệ HDSL thế
hệ thứ hai, có tốc độ bit và độ dài mạch vòng giống nhƣ HDSL thế hệ thứ
nhất chỉ khác là sử dụng một đôi dây thay vì hai đôi dây. HDSL2 có kỹ thuật
mã hoá cao và sử dụng phƣơng pháp điều chế phức tạp hơn, các tần số sử
dụng cho thu phát cũng đƣợc lựa chọn tốt hơn để chống xuyên nhiễu. Các
phiên bản mới của HDSL mƣợn nhiều ý tƣởng từ ADSL.



Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
21
2.2 ADSL
Định nghĩa ADSL và mô hình tham chiếu
Đƣờng dây thuê bao số không đối xứng ADSL là kỹ thuật truyền dẫn mạch
vòng nội hạt truyền tải đồng thời các dịch vụ sau trên cùng một đôi dây:
 Dịch vụ điện thoại truyền thống.
 Luồng dữ liệu xuống (về phía thuê bao) lên tới gần 9 Mbit/s.
 Luồng dữ liệu lên (về phía mạng) lên tới 1 Mbit/s.
Sở dĩ có thuật ngữ không đối xứng là vì tốc độ dữ liệu truyền về phía khách

hàng (hƣớng xuống) lớn hơn nhiều lần từ phía khách hàng đi (hƣớng lên). Tín
hiệu thoại tƣơng tự đƣợc truyền ở tần số trong băng cơ sở kết hợp với truyền
dữ liệu thông qua bộ lộc thông thấp (LPF) mà thông thƣờng đƣợc gọi là bộ
tách. Ngoài bộ tách, ADSL bao gồm một đơn vị truyền dẫn ADSL ở phía thiết
bị trung tâm (ATU-C), một mạch vòng, và một đơn vị truyền dẫn ADSL ở xa
(ATU-R). Hình 2.5 là mô hình tham chiếu ADSL.
ATU-C ATU-R
LPF
splitter
ChuyÓn m¹ch tho¹i
PSTN
LPF
splitter
Phone
Khu vùc kh¸ch hµng
1 2 3
4 5 6
7 8 9
*
8 #
V U-C
U-R T
POTS-RPOTS-C
M¹ch vßng
Tèi ®a 9Mb/s
Tèi ®a 1Mb/s
Tho¹i
M¹ng b¨ng
réng


Server
M¹ng
C¸c giao
diÖn kh¸ch
hµng
ATU-RATU-C
Luång d÷ liÖu kh¸ch hµng
ADSL Line
M¹ch vßng

Hình 2.5 Mô hình tham chiếu ADSL
ADSL nguyên bản:


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
22
Định nghĩa khái niệm ban đầu của ADSL xuất hiện từ năm 1989, do J.W
Lechleider và những ngƣời khác thuộc Bellcore khởi xƣớng. Sự phát triển
ADSL bắt đầu ở trƣờng đại học Stanford và phòng thí nghiệm AT&T Bell
Lab năm 1990. Mẫu ADSL đầu tiên xuất hiện vào năm 1992 ở phòng thí
nghiệm Bellcore, sản phẩm ADSL đầu tiên đƣợc thử nghiệm vào năm 1995
Ban đầu ADSL đƣợc nghiên cứu ở tốc độ 1,5 Mbit/s thu và 16kbit/s phát cho
ứng dụng MPEG-1 quay số video (VDT) và gọi đây là ADSL1. Sau đó
ADSL2 với 3 Mbit/s thu và 16 Kbit/s phát. ADSL2 đƣợc đƣa ra cho phép 2
dòng MPEG-1 đồng thời cùng hoạt động. Vào năm 1993, ADSL3 ra đời với 6
Mbit/s thu và ít nhất 64 Kbit/s phát hỗ trợ video MPEG2. Tiêu chuẩn ADSL
ANSI T1. 413 phiên bản 1 phát triển vƣợt ra khỏi khái niệm ADSL3. Thuật

ngữ ADSL1, ADSL2, và ADSL3 ít đƣợc sử dụng sau khi tiêu chuẩn ANSI
Tl.413 thông qua.
Công nghệ ADSL có hai ƣu điểm cơ bản là
 Xuyên nhiễu đầu gần (NEXT) đƣợc giảm thiểu, do ADSL có tốc độ bit
và dải tần hoạt động hƣớng lên nhỏ hơn nhiều so với hƣớng xuống.
 Truyền tải đồng thời thoại và số liệu bằng cách truyền số liệu trong dải
băng tần cao hơn băng thoại tƣơng tự.
C«ng suÊt tÝn hiÖu thu
®-îc
C«ng suÊt xuyªn nhiÔu thu
®-îc
Giíi h¹n truyÒn hai h-íng
triÖt tiÕng väng
TÇn sè
C«ng suÊt

Hình 2.6 Mối liên hệ tần số và công suất xuyên nhiễu
Nhƣ hình 2.6 đã chỉ ra, công suất tín hiệu thu đƣợc giảm tỷ lệ với tần số và
xuyên nhiễu thu đƣợc tăng theo tần số, do đó. truyền dẫn song công là không
thể thực hiện đƣợc tại các tần số nơi xuyên nhiễu lớn hơn tín hiệu thu đƣợc.


Luận văn tốt nghiệp cao học Trần
Trung Tuyến

Lớp K9D1 - Đại Học Công Nghệ
23
ADSL thực hiện truyền dẫn song công với dải tần số dƣới tần số cắt song
công. Các tần số cao hơn không phù hợp cho truyền dẫn song công đƣợc sử
dụng để truyền dẫn đơn công. Điều này cho phép các tốc độ truyền dẫn hƣớng

xuống lớn hơn rất nhiều các tốc độ truyền dẫn song công .
POTS Band Band tÇn xuèngBand tÇn lªn
TÇn sè
C«ng suÊt

Hình 2.7 Hệ thống ADSL sử dụng FDM
Nhiều hệ thống ADSL sử dụng kĩ thuật truyền dẫn ghép kênh phân chia theo
tần số (FDM), nó sắp xếp truyền dẫn hƣớng lên trong một dải tần tách biệt với
dải tần hƣớng xuống để tránh tự xuyên nhiễu. Giữa hai dải tần cần có một dải
bảo vệ để dễ dàng thiết kế các bộ lọc ngăn cản nhiễu của thoại tƣơng tự ảnh
hƣởng đến truyền dẫn số, xem hình 2.7.

×