Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (805.29 KB, 94 trang )




ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT




ĐẶNG ĐẠI TÌNH



NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM HIỆU LỰC
CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM


Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60 38 30


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Lê Thu Hà




HÀ NỘI - 2013





LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác, các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận
văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy, tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN


ĐẶNG ĐẠI TÌNH



MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Bảng viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3. Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu đề tài 4
4. Tính mới và những đóng góp của luận văn 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
7. Kết cấu của luận văn 5
NỘI DUNG 7
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO
ĐẢM HIỆU LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN 7
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của
bản án, quyết định của Tòa án 7
1.1.1. Khái niệm Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
của Tòa án 7
1.1.2. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
của Tòa án 11
1.2. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án với các nguyên tắc khác trong thi
hành án dân sự 14
1.2.1. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi
hành án dân sự 14


1.2.2. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án
dân sự 15
1.2.3. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án với nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong thi hành án dân sự 18
1.2.4. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết

định của Tòa án với nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên trong thi hành án dân sự 20
1.3. Vai trò của Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc thực thi
nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án 22
1.4. Vị trí của đương sự trong quá trình thực thi nguyên tắc bảo đảm
hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án 24
Kết luận chương 1 25
Chương 2: NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM HIỆU
LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN 27
2.1. Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được cơ
quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng 27
2.2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án,
quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành 33
2.3. Cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết
định phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó 37
2.4. Vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong thực hiện nguyên tắc
bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án 51
Kết luận chương 2 55


Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
HIỆU LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
VÀ KIẾN NGHỊ 57
3.1. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án 57
3.1.1. Khái quát chung về việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực
của bản án, quyết định của Tòa án 57
3.1.2. Những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện nguyên tắc bảo

đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án 58
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên
tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án 69
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật 70
3.2.2. Các giải pháp về thực hiện pháp luật 75
3.2.3. Giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 78
3.2.4. Giải pháp về tăng cường ý thức pháp luật và sự tuân thủ pháp
luật trong nhân dân 79
Kết luận chương 3 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84



BẢNG VIẾT TẮT

HCM
Hồ Chí Minh
TAND
Toà án nhân dân
TANDTC
Toà án nhân dân tối cao
THA
Thi hành án
TP
Thành phố
UBND
Ủy ban nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN
Xã hội chủ nghĩa




1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử và thi hành án là hai mặt của một quá trình thống nhất, thể hiện
quyền lực Nhà nước. Việc xét xử chỉ có ý nghĩa khi bản án, quyết định của
Tòa án được thi hành đúng trên thực tế. Vì vậy, đảm bảo hiệu lực bản án,
quyết định của Tòa án được pháp luật quy định là một nguyên tắc cơ bản của
Luật Tố tụng Dân sự. Thực hiện đúng nguyên tắc này không những đảm bảo
cho bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thực sự trên thực tế mà còn bảo
đảm cho nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện, bảo vệ được
quyền, lợi ích chính đáng của Nhà nước, tập thể và nhân dân, tác động trực
tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Bảo đảm hiệu lực bản án,
quyết định của Tòa án là làm cho những phán quyết của Tòa án được thi hành
trên thực tế lúc đó quyền lực Nhà nước mới thực sự được đảm bảo thực hiện
nghiêm túc, triệt để. Thời gian qua, cùng với những thành tựu đạt được trong
công cuộc cải cách tư pháp thì việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định
của Tòa án ở nước ta cũng đã có nhiều tiến bộ. Hầu hết các bản án, quyết định
của Tòa án đã được các tổ chức, cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm túc.
Tuy nhiên, bên cạnh đó do nhiều nguyên nhân khác nhau mà vẫn còn nhiều
bản án, quyết định dân sự của Tòa án mặc dù đã có hiệu lực pháp luật nhưng
vẫn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để gây thiệt hại cho
đương sự và bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội và niềm tin của nhân dân đối với pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn thi hành các bản án, quyết định dân sự thời gian qua cho thấy
có nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng khi thi
hành án lại gặp những khó khăn, vướng mắc, vẫn còn tình trạng các bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được nghiêm


2
chỉnh thi hành, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ
pháp luật. Tồn tại lớn nhất là tình trạng án "tồn đọng" kéo dài, với số lượng
lớn ngày càng tăng, song chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết. Đây là
vấn đề rất bức xúc đặt ra trong công tác thi hành các bản án, quyết định dân
sự hiện nay. Thực trạng này, một phần xuất phát từ ý thức tuân thủ pháp luật
của một số bộ phận nhân dân nói chung và một số cơ quan, tổ chức và cá
nhân, đặc biệt là các đối tượng thuộc diện phải thi hành án còn chưa cao; chưa
có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như
cơ quan hữu quan trong quá trình thi hành án; cơ sở pháp lý về tổ chức và
hoạt động thi hành án dân sự chưa được hoàn thiện, hệ thống các văn bản
pháp lý về thi hành án dân sự còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, chậm được bổ
sung, sửa đổi kịp thời; cơ chế quản lý và việc tổ chức thực hiện pháp luật thi
hành án hiện nay có mặt còn chưa hợp lý gây cản trở và làm giảm hiệu quả
công tác thi hành án nói chung và thi hành bản án, quyết định dân sự nói
riêng. Vì vậy, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, đặc biệt
trong điều kiện chúng ta đang xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân là điều hết sức quan trọng. Hiến pháp 1992
khẳng định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực
pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn
vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành" [28].
Vậy, làm sao để mọi quyết định, bản án của Tòa án đều được thực hiện
một cách nghiêm túc, kịp thời, đúng pháp luật. Thực hiện đúng nguyên tắc

“Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án” ? Đó là lý do tôi chọn
đề tài “Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án
theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” làm Luận văn thạc sĩ Luật học,
chuyên ngành Luật Dân sự.


3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án là một lĩnh vực bức
xúc nhạy cảm thu hút nhiều chuyên gia, học giả, các nhà khoa học nghiên
cứu. Những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu một số vấn
đề có liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự như: Đề
tài "Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án
VIE/98/001" do Bộ Tư pháp chủ trì đã đề cập đến thực trạng của công tác thi
hành án dân sự của nước ta, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thi hành án dân sự; Luận án tiến sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật thi
hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy đã làm
rõ cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, đề xuất các
quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong điều
kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; Luận văn thạc sĩ Luật học "Đổi mới tổ chức và
hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Quang Thái
trên cơ sở phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của thi hành án dân sự,
tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hoạt động thi hành
án dân sự ở nước ta; Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp phối
hợp với Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh đã có đề tài nghiên cứu khoa
học cấp bộ: "Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại", mã
số 95-98-114/ĐT; Cục Quản lý Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì thực
hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ "Mô hình quản lý thống nhất công tác

thi hành án", mã số: 96-98-027/ĐT; Bộ Tư pháp chủ trì đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Nhà nước "Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt
động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới"… Ngoài ra giáo trình
“Luật tố tụng dân sự” của trường Đại học luật Hà Nội, công trình nghiên cứu


4
“Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam” của
Tiến sĩ Lê Thu Hà; Giáo trình “Luật Thi hành án dân sự Việt Nam” của Trường
Đại học Luật Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật và nhiều
bài viết liên quan đến thi hành án dân sự được đăng trên Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Luật học, Bản tin Thi hành
án dân sự… ở những góc độ, khía cạnh khác nhau các tác giả đã đề cập đến
những vấn đề liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo hiệu lực của
bản án, quyết định của Tòa án theo quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
3. Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu đề tài
3.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của việc nghiên cứu đề tài là tìm ra các luận cứ
khoa học và thực tiễn từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện tốt nguyên
tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án. Để đạt được mục
tiêu lớn đó cần phải thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản
án, quyết định của Tòa án như khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc và mối quan
hệ của nguyên tắc này với các nguyên tắc của Luật Thi hành án dân sự.
- Làm rõ những nội dung các quy định của pháp luật về nguyên tắc bảo
đảm hiệu lực bản án, quyết định của Toà án và thực tiễn thực hiện.
- Tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nguyên tắc bảo đảm
hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.
4. Tính mới và những đóng góp của luận văn

- Xây dựng khái niệm, làm rõ ý nghĩa của nguyên tắc đảm bảo hiệu lực
của bản án, quyết định của Tòa án.
- Đánh giá đúng được thực trạng các quy định của pháp luật về nguyên
tắc đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án và thực tiễn thực
hiện chúng trên thực tế.


5
- Đưa ra được những giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao
hiệu quả nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo
đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, các quy định của pháp luật
về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án và thực
tiễn thực hiện nguyên tắc này trong việc tổ chức thi hành án dân sự.
Việc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định đặt ra đối với cả thi hành
án hình sự, dân sự và hành chính nên đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng.
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài làm luận văn thạc sĩ Luật học, việc
nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản của nguyên tắc trong bảo
đảm thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án như khái niệm, ý nghĩa
của nguyên tắc, mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án với các nguyên tắc khác trong Luật Thi hành án dân sự
và các nội dung cơ bản của nguyên tắc; nội dung các quy định của pháp luật
hiện hành về nguyên tắc và thực tiễn thi hành trong thời gian qua, từ đó đề
xuất những kiến nghị để thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản
án, quyết định của Tòa án.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa
Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về Nhà nước và pháp luật.

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học như phân tích, so sánh, tổng hợp v.v
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:


6
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của
bản án, quyết định của Tòa án.
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật về nguyên tắc bảo đảm
hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án và kiến nghị.











7
NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC
BẢO ĐẢM HIỆU LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN



1.1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản
án, quyết định của Tòa án
1.1.1. Khái niệm Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án
Theo Từ điển Tiếng Việt thì nguyên tắc được hiểu theo nghĩa chung là
“điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [39].
Do vậy bất kỳ hoạt động có mục đích nào muốn đạt được kết quả đòi hỏi
những người tham gia hoạt động phải xác định được các nguyên tắc hoạt
động và tuân thủ triệt để theo những nguyên tắc đó. Nguyên tắc là phạm trù
vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Nguyên tắc bảo đảm hiệu
lực bản án, quyết định của Tòa án là những tư tưởng, quan điểm cơ bản đóng
vai trò chỉ đạo định hướng cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm
túc, đầy đủ, kịp thời các bản án quyết định của Tòa án. Nguyên tắc bảo đảm
hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức
thực hiện quyền lực của Nhà nước nên đã được quy định trong nhiều văn bản
pháp luật Nhà nước. Hiến pháp năm 1980, Điều 137 quy định “Các bản án và
quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ
quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng, những người
và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Sau đó được cụ thể hóa
tại Điều 13 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 “Những bản án và quyết
định đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, các tổ chức
xã hội và mọi công dân tôn trọng. Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ


8
quan Công an, các trại giam, các Chấp hành viên và các cơ quan hữu quan
khác phải nghiêm chỉnh chấp hành những bản án, những quyết định của Toà
án nhân dân, và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ

đó”; Điều 10 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế “Bản án, quyết
định về vụ án kinh tế của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ
quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi người tôn trọng; cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản
án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành”; Điều 9 Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động “Bản án, quyết định về vụ án lao
động của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân và mọi công dân tôn trọng; người lao động, tập thể lao động, người sử
dụng lao động và các cơ quan, tổ chức, đơn vị có nghĩa vụ chấp hành bản án,
quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Hiện nay nguyên tắc
này được quy định tại Điều 136 Hiến pháp năm 1992 “Các bản án và quyết
định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan
Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh
chấp hành” và tại Điều 19 Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định những đề cơ bản
của nguyên tắc, tạo cơ sở pháp lý cho việc thi hành các bản án, quyết định của
Tòa án “Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi
hành và phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức tôn trọng. Cá nhân, cơ
quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà án phải
nghiêm chỉnh chấp hành. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Toà
án nhân dân và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án,
quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó”.


9
Việc thi hành nghiêm chỉnh và triệt để các bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật của Tòa án là một tất yếu khách quan trong hoạt động tư pháp
của bất kì Nhà nước nào. Bản án, quyết định của Tòa án là sự phán xét nhân

danh Nhà nước, mang tính quyền lực Nhà nước và phải được đảm bảo thực
hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực
của bản án, quyết định biểu hiện tính pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thực hiện
nguyên tắc này không những làm cho bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực được thi hành trên thực tế mà còn bảo đảm cho nguyên tắc pháp chế xã
hội chủ nghĩa được thực hiện. Điều 4 Luật Thi hành án dân sự quy định “Bản
án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức
và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong
phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án”
Nội dung của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định yêu cầu:
- Khi giải quyết vụ việc dân sự Toà án phải quyết định áp dụng các biện
pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo đảm cho việc thi hành án, phải
tuyên bản án, quyết định đầy đủ, rõ ràng, chính xác tạo thuận lợi cho việc thi hành án.
- Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được đưa ra thi hành.
Trong trường hợp người có nghĩa vụ chấp hành hành bản án, quyết định mà
không tự nguyện thi hành thì phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết
buộc họ thực hiện.
- Tòa án, cơ quan, tổ chức, được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết
định phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình
và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.
- Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân phải tôn trọng bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân không được can thiệp
trái pháp luật vào quá trình thi hành các bản án, quyết định của Tòa án; không


10
được cản trở, gây khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên
trong việc tổ chức thi hành án dân sự.
- Đối với những người có hành vi trái pháp luật như cố tình không chấp

hành án, cản trở, can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân sự v.v.
thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lí theo quy định của pháp luật.
Hình thức xử lí có thể là kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự.
Nguyên tắc “Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án”
yêu cầu: Nội dung của các bản án, quyết định phải được thi hành một cách
nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời. Khi phát hiện thấy những sai sót hoặc chưa rõ
ràng trong bản án, quyết định của Tòa án, những chủ thể tham gia hoạt động
thi hành án chỉ có quyền khiếu nại, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét,
quyết định. Mặt khác, khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được
đưa ra thi hành thì cơ quan Tòa án, Thi hành án hoặc bất cứ một cơ quan nào
khác cũng đều phải tôn trọng và chấp hành nghiêm túc các nội dung Tòa án
tuyên, không có quyền sửa đổi, bổ sung nội dung của vụ án, quyết định đó.
Tòa án nơi đã đưa ra bản án, quyết định được đưa ra thi hành chỉ có quyền
giải thích những điều mà cơ quan thi hành án và Chấp hành viên yêu cầu,
không được sửa đổi, bổ sung những nội dung đã tuyên, nếu có sai sót thì phải
được xét xử lại theo trình tự khác do pháp luật quy định. Khi bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành thì tất cả các
đương sự, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội hữu quan phải nghiêm
chỉnh chấp hành không cho phép bất kì một sự cản trở, chống đối, can thiệp
trái pháp luật nào đối với việc thi hành các bản án, quyết định đó nếu không
sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Việc đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án
được đưa ra thi hành là đảm bảo sự tôn trọng pháp luật, hiệu lực của Nhà


11
nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, giữ gìn an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Từ những phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm: Nguyên tắc bảo đảm

hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án là nguyên tắc cơ bản trong tổ
chức thực hiện quyền lực của Nhà nước, yêu cầu các bản án, quyết định của
Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức
tôn trọng và chấp hành nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời. Cá nhân, cơ quan, tổ
chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà án phải nghiêm
chỉnh chấp hành. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Toà án nhân
dân và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định
của Toà án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật
về việc thực hiện nhiệm vụ đó.
1.1.2. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án
Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án nhằm làm cho các
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế
và có ý nghĩa hết sức quan trọng:
Thứ nhất, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và
công dân.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước tôn trọng và
bảo đảm thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cơ quan, tổ chức và
công dân. Yêu cầu của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
của Tòa án là khi giải quyết vụ việc dân sự Toà án phải quyết định áp dụng
các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo đảm cho việc thi
hành án, phải tuyên bản án, quyết định đầy đủ, rõ ràng, chính xác tạo thuận
lợi cho việc thi hành án; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải
được đưa ra thi hành, nếu người có nghĩa vụ chấp hành hành bản án, quyết


12
định mà không tự nguyện thi hành thì sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế
nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ đối với người được thi hành án; các
cơ quan, tổ chức, được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định phải thực

hiện nghiêm túc, đầy đủ, đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình và phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó. Việc thực hiện
tốt những nội dung trên đây sẽ bảo đảm cho quyền, lợi ích chính đáng của
Nhà nước và công dân được thi hành trên thực tế. Vì vậy việc thực hiện tốt
nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án có ý nghĩa
hết sức quan trọng trong việc bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân.
Thứ hai, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị
xã hội, yêu cầu cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa là: Triệt để tôn trọng
hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp; pháp luật được nhận thức và thực
hiện thống nhất trên phạm vi cả nước; các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân đều tôn trọng và
thực hiện pháp luật một cách tự giác, đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất; mọi
hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh, kịp thời theo quy định
của pháp luật; các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được bảo vệ.
Việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án
sẽ đưa những phán quyết của Tòa án - thể hiện ý chí của Nhà nước được trở
thành hiện thực, tính nghiêm minh của pháp luật được bảo đảm, công lý xã
hội được thực thi, kỷ cương xã hội được giữ vững, quyền và lợi ích hợp pháp
của Nhà nước, tổ chức và công dân được bảo vệ và như vậy pháp chế xã hội
chủ nghĩa được thực hiện.
Thứ ba, góp phần giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an


13
toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và hội
nhập quốc tế
Khi nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án không

được thực hiện tốt thì không những thể hiện pháp luật không nghiêm, mà còn
có tác động tiêu cực đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, quyền lực
Nhà nước không được thực thi, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ
chức và cá nhân có liên quan không được bảo vệ, có trường hợp bản án, quyết
định của Tòa án không được thực thi nghiêm túc đương sự sẽ khiếu nại, tố cáo
gay gắt, bức xúc kéo dài, dẫn đến những điểm nóng mà các thế lực thù địch dễ
lợi dụng, xuyên tạc, chống phá cách mạng gây mất ổn định tình hình. Trái lại
nếu thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án sẽ
đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân được bảo vệ,
tạo được sự đồng thuận của nhân dân, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội,
tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt thực
hiện nghiêm túc những bản án, quyết định dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ tạo
được niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với pháp chế xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của đất nước.
Thứ tư, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các cơ quan, tổ chức và
mọi công dân.
Khi ý thức pháp luật của các cơ quan, tổ chức và mọi công dân, nhất là
những tổ chức và cá nhân có liên quan trực tiếp đến việc thi hành bản án,
quyết định của Tòa án cao thì họ sẽ nghiêm túc tuân thủ pháp luật và tự giác
thực hiện. Đồng thời, thông qua việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệu
lực bản án, quyết định của Tòa án sẽ tạo niềm tin của nhân dân vào tính
nghiêm minh của pháp luật và sức mạnh của Nhà nước trong việc bảo đảm
cho pháp luật được thực thi nghiêm túc, nhất là đối với những vụ án đương sự


14
cố ý chây ỳ, không tự giác thi hành án cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp
cưỡng chế thi hành án thành công hoặc những trường hợp vi phạm pháp luật
hình sự trong quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án bị xử lý theo

quy định của pháp luật đã đó có tác dụng lớn trong việc giáo dục, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật của mọi cơ quan, tổ chức và công dân.
1.2. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án với các nguyên tắc khác trong thi hành án dân sự
1.2.1. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự
Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được Nhà nước bảo hộ. Việc
xét xử và thi hành án cũng là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ
thể. Vì vậy, việc thi hành án dân sự không những phải bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của các đương sự mà phải bảo đảm cả quyền, lợi ích hợp pháp của
những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự, không
được xâm phạm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Nguyên tắc
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và người liên quan trước
đây được quy định tại Điều 7 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 “Người
có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến việc thi hành án được tham gia vào việc
thi hành án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Điều 8 Pháp lệnh
thi hành án dân sự năm 1993 “Người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến
việc thi hành án được tham gia vào việc thi hành án để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của mình” và Điều 9 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004
“Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án được tham gia vào
việc thi hành án và có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp
luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Hiện nay, nguyên tắc này
được quy định tại điều 5 Luật thi hành án dân sự “Trong quá trình thi hành


15
án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”.
Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và

người có quyền, nghĩa vụ liên quan yêu cầu:
- Trong thi hành án dân sự phải tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
- Việc tổ chức thi hành án dân sự phải đúng pháp luật và đúng nội dung
bản án, quyết định được thi hành để bảo đảm quyền, lợi ích của người được
thi hành án, người phải thi hành án và không xâm phạm đến quyền, lợi ích
hợp pháp của những người liên quan đến việc thi hành án dân sự.
- Bảo đảm cho người được thi hành án, người phải thi hành án và
những người liên quan đến việc thi hành án dân sự được tham gia vào quá
trình thi hành án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ và bảo đảm quyền
khiếu nại của họ đối với các hành vi trái pháp luật trong thi hành án.
Ngoài ra, trong những trường hợp bán tài sản kê biên của người phải thi
hành án thuộc sở hữu chung với người thứ ba thì họ phải được ưu tiên mua
trước. Nếu người sở hữu tài sản chung với người phải thi hành án không mua
thì việc bán tài sản đó cho người khác cũng phải theo đúng quy định của pháp
luật thi hành án để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Việc thực hiện đúng nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự sẽ bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện tốt.
1.2.2. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án dân sự
Quyền yêu cầu thi hành án là một trong các quyền thi hành án cơ bản
của đương sự và là một trong những nội dung quan trọng của quyền bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Sau khi bản án, quyết định được thi
hành, các đương sự chỉ được bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình


16
nếu thực hiện được quyền này trên thực tế, nhất là đối với người được thi
hành án. Vì vậy, bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự trong
thi hành án dân sự được quy định là nguyên tắc của luật thi hành án dân sự.

Nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự trước đây
được quy định tại Điều 5 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Hiện nay,
nguyên tắc này được quy định tại Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 7
Luật Thi hành án dân sự.
Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương
sự xác định:
- Người được thi hành án, người phải thi hành án được căn cứ vào bản
án, quyết định dân sự có quyền yêu cầu thi hành án gửi cơ quan thi hành án
hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án yêu cầu thi hành án.
- Để bảo đảm yêu cầu thi hành án của các đương sự Toà án, cơ quan
và tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải cấp cho các đương sự
bản án, quyết định trong thời hạn pháp luật quy định. Khi cấp cho đương sự
bản án, quyết định các cơ quan, tổ chức này phải giải thích cho các đương sự
quyền yêu cầu thi hành án dân sự của họ và thời hiệu yêu cầu thi hành án
dân sự. Trong trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án có
đơn hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu thi hành án thì cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phải tiếp nhận xem xét. Nếu việc yêu
cầu thi hành án của đương sự đúng pháp luật thì cơ quan thi hành án dân sự
phải thụ lí, ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án dân sự theo quy
định của pháp luật.
Bản án, quyết định thuộc diện được đưa ra thi hành có nhiều nội dung
khác nhau về quyền, nghĩa vụ của các bên đương sự (cá nhân, pháp nhân) đối
với nhau, đối với người khác hoặc đối với Nhà nước, và cách thức xử lý đối
với các tài sản, vật chứng có liên quan đến từng vụ việc cụ thể như tịch thu,


17
tiêu hủy, trả lại cho đương sự hoặc chủ sở hữu hợp pháp…Trong số những
nội dung của bản án, quyết định thuộc diện trên, Luật Thi hành án dân sự
phân biệt những loại việc thuộc trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự

phải chủ động ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành và những loại
việc cơ quan thi hành án dân sự chỉ được đưa ra thi hành khi có đơn yêu cầu
thi hành án của đương sự.
Theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự thì những loại việc
do cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án đó là: Hình
phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản cho
đương sự; tịch thu sung quỹ Nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;
thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ Nhà nước;
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Ngoài các khoản trên đây, thì trong một bản án, quyết định của Tòa án
các khoản người được thi hành án hoặc người phải thi hành án muốn được tự
nguyện thi hành nghĩa vụ thông qua cơ quan thi hành án thì phải có đơn yêu
cầu thi hành án. Điều 7. Luật Thi hành án dân sự quy định “Người được thi
hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án”. Các khoản đó rất đa
dạng, từ việc thanh toán tiền, trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại tính mạng,
sức khoẻ, tiền cấp dưỡng, đến buộc người sử dụng lao động nhận người lao
động trở lại làm việc, buộc thực hiện hành vi nhất định…quy định này xuất
phát từ nhận thức rằng, giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án là hai giai
đoạn, mỗi giai đoạn có những nhiệm vụ riêng. Việc Tòa án, cơ quan có thẩm
quyền công nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành
án được thể hiện bằng phán quyết thông qua hình thức bàn án, quyết định.
Tuy nhiên, có trong tay bản án, quyết định, người thắng kiện hoặc người được
hưởng quyền và lợi ích hợp pháp theo bản án, quyết định hoàn toàn có quyền


18
quyết định việc có làm đơn yêu cầu thi hành án hay không, yêu cầu thi hành
vào thời điểm nào, yêu cầu thi hành những gì, đã có những thoả thuận gì với
bên phải thi hành án, đã thi hành với nhau được những gì… Do đó, pháp luật

dành quyền quyết định cho người được thi hành án thể hiện ý chí của mình
bằng việc yêu cầu thi hành án. Việc thực hiện đúng nguyên tắc bảo đảm yêu
cầu thi hành án dân sự sẽ đảm bảo cho hiệu lực bản án, quyết định của Tòa
án được thực thi trên thực tế.
1.2.3. Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án với nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong thi hành án dân sự
Kết quả thi hành án dân sự phụ thuộc rất lớn vào việc cơ quan thi hành
án dân sự, các cá nhân, cơ quan và tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân
sự có thực hiện đúng, đầy đủ các quyền hạn và nhiệm vụ của họ hay không.
Vì vậy, việc đề cao trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự, các cá nhân,
cơ quan và tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự là cần thiết. Từ đó,
vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự được quy
định là nguyên tắc cơ bản của luật thi hành án dân sự. Điều 10 Luật Thi hành
án dân sự quy định “Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật
này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.
Nội dung của nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi
hành án dân sự yêu cầu:
Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên, các đương sự và các cá
nhân, cơ quan, tổ chức khác liên quan đến việc thi hành án dân sự phải đề cao
trách nhiệm trong việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình theo quy định
của pháp luật về thi hành án dân sự, không được thực hiện các hành vi trái với
quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
- Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật Thi hành án


19
dân sự thì phải chịu trách nhiệm về hành vi đó. Trong trường hợp cơ quan, tổ
chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật Thi hành án dân sự gây thiệt hại
thì phải bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

- Nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự
lần đầu tiên được quy định tại Điều 10 Luật Thi hành án dân sự. Về nguyên
tắc, mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật Thi hành án
dân sự mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Theo đó, toàn bộ các quyết định,
hành vi của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên trong quá trình
tổ chức thi hành án đều có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Điều 140 Luật Thi hành án dân sự quy định: Trong quá trình tổ chức thi hành
án, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối
với mọi quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người đó. Người khiếu nại được khôi phục
quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và được bồi thường nếu có thiệt hại
(Điểm đ Điều 143 của Luật Thi hành án dân sự). Trong quyết định giải quyết
khiếu nại của người có thẩm quyền phải xác định rõ việc bồi thường thiệt hại,
khắc phục hậu quả (Điều 151, Điều 153 của Luật Thi hành án dân sự).
Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án
dân sự, Chấp hành viên và công chức khác của cơ quan Thi hành án dân sự còn
có thể phát sinh trong trường hợp người đó bị tố cáo. Theo điểm c, khoản 2,
Điều 156 của Luật Thi hành án dân sự, thì người bị tố cáo phải bồi thường thiệt
hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định
của pháp luật. Đồng thời, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà không giải
quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật cũng có
trách nhiệm bồi thường nếu gây thiệt hại (Điều 158 của Luật Thi hành án dân
sự). Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự

×