Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của TAND theo quy định của Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2004

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (907.18 KB, 86 trang )



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT






LÊ HỒNG PHƢỚC





THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƢƠNG MẠI CỦA TAND THEO
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004


Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30





LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC






Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Trần Anh Tuấn





HÀ NỘI - 2012




LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


NGƯỜI CAM ĐOAN





Lê Hồng Phước








Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến TS. Trần Anh
Tuấn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài luận
văn thạc sĩ này.
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo Trường
Đại học Luật Hà Nội, gia đình, bạn bè đã quan tâm giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, trao đổi kiến thức thực
tế phục vụ cho việc thực hiện đề tài.


Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2012
Chủ nhiệm đề tài
HV. Lê Hồng Phước










MỤC LỤC

Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6. Những đóng góp của luận văn 5
7. Cơ cấu của luận văn 5
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI
QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG
MẠI CỦA TÒA ÁN 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định về thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án 7
1.1.1. Khái niệm thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án 7
1.1.2. Đặc điểm thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án 11
1.1.3. Ý nghĩa việc quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
KD, TM của Tòa án 14


1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án 16

1.2.1. Về cơ sở lý luận 16
1.2.2. Về cơ sở thực tiễn 20
1.3. Lược sử hình thành và phát triển chế định thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp KD, TM của Tòa án 22
1.3.1. Giai đoạn từ 1945 đến năm 1994 22
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1994 đến 2004 25
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay 27
Chƣơng 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS NĂM 2004
VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƢƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN 28
2.1. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án theo
loại việc 28
2.1.1. Tranh chấp phát sinh trong các hoạt động KD, TM giữa các cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau 29
2.1.2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa
các cá nhân, tổ chức với nhau 31
2.1.3. Tranh chấp phát sinh trong nội bộ công ty 33
2.1.4. Tranh chấp khác về KD, TM mà pháp luật có quy định 35
2.2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM theo cấp Toà án 35
2.2.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án cấp huyện 36
2.2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án cấp tỉnh 37
2.3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án theo lãnh thổ 41
2.3.1. Các quy định mang tính nguyên tắc trong việc xác định thẩm
quyền giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án theo lãnh thổ 41


2.3.2. Các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM của
Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn 45

Chƣơng 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA

BLTTDS NĂM 2004 VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI CỦA TÒA
ÁN VÀ KIẾN NGHỊ 48
3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp KD, TM của Tòa án 48
3.1.1. Bất cập trong cách thức liệt kê các tranh chấp KD, TM thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án 49
3.1.2. Bất cập trong hướng dẫn của Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP về
thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp KD, TM 51
3.1.3. Bất cập quy định tại khoản 3 Điều 29 của BLTTDS 54
3.1.4. Chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
KD, TM quy định tại khoản 4 Điều 29 của BLTTDS 56
3.1.5. Bất cập quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM theo
cấp Tòa án 56
3.1.6. Bất cập trong việc áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 34 của BLTTDS 57
3.1.7. Bất cập quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM
của Tòa án trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn Tòa án
trong hợp đồng 58
3.1.8. Bất cập quy định thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp các bên
thỏa thuận lựa chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư trú để giải quyết
tranh chấp bất động sản 61


3.1.9. BLTTDS còn chưa có quy định về thẩm quyền giải quyết tranh
chấp KD, TM của Tòa án nơi bị đơn có văn phòng đại diện 61
3.2. Nguyên nhân của các bất cập về thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp KD, TM của Tòa án 62
3.2.1. Nguyên nhân khách quan 62
3.2.2. Nguyên nhân chủ quan 62
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện các quy

định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án 64
3.3.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định các tranh chấp KD, TM thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án 65
3.3.2. Kiến nghị hoàn thiện hướng dẫn của Nghị quyết 01/2005/NQ-
HĐTP của HĐTPTANDTC 65
3.3.3. Kiến nghị bãi bỏ quy định khoản 4 Điều 29 của BLTTDS 66
3.3.4. Kiến nghị hoàn thiện quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp
KD, TM theo cấp Tòa án 66
3.3.5. Kiến nghị hoàn thiện quy định tại khoản 2 Điều 34 BLTTDS 67
3.3.6. Kiến nghị hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tranh
chấp KD, TM của Tòa án trong trường hợp các bên thỏa thuận
chọn Tòa án trong hợp đồng 67
3.3.7. Kiến nghị hoàn thiện quy định thẩm quyền của Tòa án trong
trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư
trú để giải quyết tranh chấp bất động sản 68
3.3.8. Kiến nghị bổ sung quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD,
TM của Tòa án nơi bị đơn có văn phòng đại diện 69
3.3.9. Kiến nghị bổ sung số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm
phán cho Tòa án các cấp 70


KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự
HĐTPTANDTC Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

KD, TM Kinh doanh, thương mại
PLTTGQCVAKT Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
TAND Tòa án nhân dân
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
UBTVQH Ủy ban thường vụ Quốc hội

1
MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, cùng với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng
vào nền kinh tế thế giới và khu vực, việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp
luật, trong đó có hệ thống pháp luật tư pháp của nước ta được đặt ra hết sức
cấp thiết. BLTTDS được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 tại
kỳ họp thứ 5, Khóa XI là sự kế thừa và phát triển các quy định của Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế (1994) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
(1996). Sự ra đời của BLTTDS năm 2004, có thể nói là mốc quan trọng đánh
dấu bước phát triển vượt bậc trong việc củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp
luật tố tụng nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng của nước ta.
Tiếp đó, ngày 29 tháng 3 năm 2011, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 9
đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS. Nhìn chung,
BLTTDS năm 2004 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã
quy định đầy đủ và có tính hệ thống hơn so với các Pháp lệnh trước đó các
vấn đề về tố tụng dân sự như: các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự; địa vị
pháp lý của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham
gia tố tụng; trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia
đình, KD, TM, lao động; thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ
việc dân sự nói chung, trong đó có các tranh chấp về KD, TM nói riêng.

Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về KD, TM của Tòa án là quyền
xem xét giải quyết các tranh chấp về KD, TM và quyền hạn ra các bản án,
quyết định khi xem xét giải quyết các vụ tranh chấp đó theo thủ tục tố tụng
dân sự của Tòa án. Có thể nói, BLTTDS năm 2004 và Luật Sửa đổi, bổ sung
một số điều của BLTTDS đã có nhiều quy định mới về thẩm quyền của Tòa
án trong việc giải quyết các tranh chấp về KD, TM, bảo vệ kịp thời quyền và

2
lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, bảo đảm pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, do sự phát triển của tình hình kinh tế - xã hội đất nước, và
mặc dù đã có sự sửa đổi, bổ sung nhưng nhiều quy định trong BLTTDS về
thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về KD, TM vẫn
tồn tại những bất cập, thiếu sót như: quy định về thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp KD, TM của Tòa án chỉ mang tính chất liệt kê, chưa dự liệu, bao
quát hết tất cả các tranh chấp về KD, TM mới có thể nảy sinh trong thực tiễn;
không quy định rõ ràng căn cứ các tranh chấp KD, TM thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án cấp huyện mà Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết; cũng
như những bất cập trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh
thổ… Tất cả những bất cập và thiếu sót đó cần phải được nghiên cứu một
cách toàn diện và sửa đổi, bổ sung kịp thời trước yêu cầu của tình hình mới.
Những bất cập, thiếu sót của BLTTDS về thẩm quyền của Tòa án trong
việc giải quyết các tranh chấp KD, TM đã tác động rất lớn đến thực tiễn công
tác xét xử của các cấp Tòa án trong thời gian qua. Việc không quy định rõ
ràng thẩm quyền giải quyết dẫn đến hệ quả tất yếu là các Thẩm phán trong quá
trình giải quyết vụ án không xác định được vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết
của cấp mình hay không hay thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng
khác. Trước thực trạng đó, các Thẩm phán đã chọn giải pháp tình thế là áp dụng
theo từng cách hiểu khác nhau, không đi đến một kết luận chung, thống nhất giữa
các cấp Tòa án, từ đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân,
tổ chức. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược

cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định nhiệm vụ: “Xác định rõ chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy cơ quan tư pháp, trọng tâm
là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND” [2]. Với những lý do
đó, học viên đã chọn đề tài: “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM
của TAND theo quy định của BLTTDS năm 2004” nghiên cứu làm luận văn
thạc sĩ luật học.

3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành đã có rất nhiều bài
viết, tạp chí khoa học pháp lý có đề cập đến vấn đề thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp KD, TM của Tòa án. Trong đó phải kể đến các bài viết như:
“Thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty của Tòa án” của tác giả Nguyễn
Thị Vân Anh đăng trên Tạp chí TAND số 4 năm 2007; “Một số kiến nghị
nhằm thực thi có hiệu quả các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
KD, TM theo quy định của BLTTDS” của Vũ Thị Hồng Vân đăng trên Tạp
chí Kiểm sát số 15 năm 2007; “Thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa dân sự hay
Tòa kinh tế?” của Từ Văn Thiết đăng trên Tạp chí TAND số 4 năm 2009;
“Một số vấn đề cần đặt ra khi sửa đổi, bổ sung BLTTDS” của TS. Nguyễn
Văn Cường đăng trên Tạp chí TAND số 11 năm 2010; “Áp dụng các quy định
của BLTTDS trong việc giải quyết các vụ án về KD, TM” của Ngô Cường
đăng trên Tạp chí TAND số 14 năm 2010 Tuy nhiên, mỗi bài viết chỉ đề cập
dưới phương diện lý luận, nhìn nhận ở các góc độ khác nhau, giải quyết
những vấn đề riêng biệt. Cho đến nay chưa có công trình khoa học pháp lý
nào nghiên cứu một cách tập trung và đầy đủ về vấn đề thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp KD, TM của Tòa án trong tố tụng dân sự ở Việt Nam.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài nhằm góp phần làm rõ một số vấn
đề lý luận về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án trong

tố tụng dân sự, phân tích nội dung các quy định của BLTTDS về vấn đề này,
những bất cập, vướng mắc được rút ra từ thực tiễn trong việc thực hiện các
quy định, nguyên nhân và tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm khắc phục,
nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc quy định thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp KD, TM của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam.

4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở mục tiêu đã xác định, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên
cứu sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp KD, TM của Tòa án trong tố tụng dân sự;
- Phân tích các quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp KD, TM của Tòa án, từ đó đối chiếu với lý luận để đánh giá thực
trạng pháp luật về vấn đề nghiên cứu;
- Tìm hiểu thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án; xác định những bất cập,
vướng mắc trong quá trình thực hiện và rút ra nguyên nhân của tồn tại, vướng mắc;
- Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn luận giải và đề xuất
các kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện các quy
định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án trong tố tụng dân sự; các
quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của
Tòa án; thực tiễn thi hành các quy định này của pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam hiện hành.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ giới hạn của luận văn thạc sĩ luật học việc
nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung trong các vấn đề sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về thẩm quyền giải quyết

các tranh chấp KD, TM của Tòa án;
- Nghiên cứu các quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp KD, TM của Tòa án theo ba nội dung: thẩm quyền theo loại việc,
thẩm quyền theo cấp Tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ;

5
- Tìm hiểu thực tiễn thực hiện các quy định này của BLTTDS tại các Toà án
từ năm 2005 đến nay, những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài
ra, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân
tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, diễn giải, suy diễn lôgíc…
6. Những đóng góp của luận văn
Với việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề liên quan đến
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án. Luận văn có
những điểm mới và đóng góp sau đây:
+ Luận giải và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án như khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa
của việc quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa
án; cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp KD, TM của Tòa án; lược sử hình thành và phát triển chế định
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án;
+ Đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án và rút ra những vướng mắc,
bất cập cũng như nguyên nhân của các bất cập trên;
+ Đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện và bảo đảm
thực hiện các quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM
của Tòa án.
7. Cơ cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu thành 3 phần: Mở đầu, phần nội dung và kết luận.
Phần nội dung của luận văn được chia làm 3 chương, bao gồm:

6
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp KD, TM của Tòa án
Chương 2. Nội dung các quy định của BLTTDS năm 2004 về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án
Chương 3. Thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2004
về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án và kiến nghị

7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT
CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN

1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án
1.1.1. Khái niệm thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của
Tòa án
Thẩm quyền của Tòa án là một khái niệm pháp lý bao hàm nhiều khía
cạnh, mang tính lịch sử cụ thể, quy định phạm vi xem xét và ra quyết định của
Tòa án. Nội dung của nó do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và các điều
kiện khác quyết định. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án
là một nội dung cụ thể thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án. Việc xác định
thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM sẽ giúp
cho các Tòa án chủ động trong xét xử, tránh hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm.
Mặt khác, nó đảm bảo việc xét xử được chính xác, khách quan, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do đó, việc nghiên cứu và đưa
ra một khái niệm khoa học, đúng đắn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp

KD, TM của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền hạn cụ
thể của Tòa án khi thụ lý, xét xử các tranh chấp về KD, TM.
Trước hết, dưới góc độ ngôn ngữ, Từ điển Tiếng Việt giải thích “thẩm
quyền” là “quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp
luật” [39, tr.992]. Theo đó, “thẩm quyền” được hiểu theo nghĩa chung nhất là
quyền của một tổ chức, cá nhân tự mình nhìn nhận, đánh giá sự việc và đưa ra
phán quyết để giải quyết một vấn đề nào đó phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong khi đó, về phương diện pháp lý, theo Từ điển luật học thì “thẩm
quyền” là “tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ

8
quan, tổ chức thuộc bộ máy Nhà nước do luật pháp quy định” [23, tr.459]. Từ
đó cho thấy, khái niệm thẩm quyền bao hàm hai nội dung chính là quyền hành
động và quyền quyết định. Quyền hành động là quyền được làm những công
việc nhất định, còn quyền quyết định là quyền hạn giải quyết công việc đó
trong phạm vi pháp luật cho phép.
Bên cạnh đó, ở một số nước trên thế giới, thuật ngữ này cũng được sử
dụng với nghĩa tương tự. Chẳng hạn, theo Từ điển luật học của Cộng hòa
Pháp, “thẩm quyền”được hiểu là khả năng mà pháp luật trao cho cơ quan
công quyền hoặc cơ quan tài phán thực hiện công việc nhất định hoặc thẩm
cứu và xét xử một vụ kiện. Còn trong Từ điển luật học của Hoa Kỳ, “thẩm
quyền” được hiểu là khả năng cơ bản và tối thiểu để cơ quan công quyền xem
xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật.
Như vậy, có thể nhận định rằng, dù chúng ta tiếp cận dưới góc độ nào
thì “thẩm quyền” luôn bao hàm 2 nội dung cơ bản đó là: quyền xem xét giải
quyết các vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và quyền hạn trong việc
ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó.
Dựa trên những nội dung cơ bản về thẩm quyền, một số nhà nghiên cứu
luật học cũng đã tiếp cận khái niệm “thẩm quyền của Tòa án” như sau:
“Thẩm quyền của Tòa án là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố

có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm
quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức thể hiện ở quyền hạn xem xét
và phạm vi xem xét của Tòa án (thẩm quyền xét xử và phạm vi xét xử), còn
thẩm quyền về nội dung thể hiện ở thẩm quyền giải quyết, quyết định của
Tòa án đối với những vấn đề đã được xem xét” [11, tr.2]. Theo khái niệm
đó, TS. Nguyễn Đức Mai đã chỉ ra rằng, “thẩm quyền của Tòa án” bao
hàm hai yếu tố cơ bản đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội
dung có mối liên hệ mật thiết với nhau. Hay nói một cách khác, quyền hạn,

9
phạm vi xem xét của Tòa án và quyền quyết định của Tòa án luôn nằm
trong một chỉnh thể thống nhất với nhau.
Đồng thời, theo Th.S Nguyễn Văn Tiến đã nêu ra quan điểm trong bài
viết của mình về “thẩm quyền của Tòa án” đó là: “Phạm vi, giới hạn của
hoạt động Tòa án và quyền năng pháp lý của Tòa án có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau tạo thành thẩm quyền của Tòa án. Thẩm quyền của Tòa án bao
gồm: thẩm quyền xét xử, phạm vi - giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định
của Tòa án” [28, tr.14].
Từ những phân tích trên về thẩm quyền và thẩm quyền của Tòa án,
chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất: “Thẩm quyền của Tòa án là quyền
năng được pháp luật quy định cho Toà án trong việc xem xét, giải quyết một
vụ việc cụ thể trong các lĩnh vực như hành chính, hình sự hay dân sự, nhằm
đưa ra những bản án, quyết định hợp pháp góp phần bảo đảm, hài hòa và ổn
định trật tự xã hội”.
Thẩm quyền của Tòa án bao gồm nhiều nội dung, được xem xét dưới
nhiều góc độ như thẩm quyền về hình sự, thẩm quyền về hành chính và trong
đó có thẩm quyền về dân sự. Mỗi loại thẩm quyền tạo ra những giới hạn khác
nhau cho phạm vi hoạt động của Tòa án. Trên thế giới về cơ bản các nhà lý
thuyết về tố tụng của các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và các
nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ đều đề cập thẩm quyền của Tòa án

trong tố tụng dân sự dưới hai góc độ là thẩm quyền theo loại việc và thẩm
quyền theo phạm vi lãnh thổ. Ở Việt Nam, xuất phát từ những đặc thù về tổ
chức hệ thống Tòa án cho nên thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng dân sự
cũng có những điểm khác biệt. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án được tiếp
cận dưới ba góc độ là thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền của Tòa án các
cấp và thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ.

10
Theo Điều 1 BLTTDS năm 2004 thì các Tòa án Việt Nam không chỉ
giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự những vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp
luật dân sự mà cả những vụ việc khác phát sinh từ quan hệ pháp luật có cùng
tính chất như những vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia
đình, quan hệ pháp luật KD, TM và quan hệ pháp luật lao động. Vì vậy, vụ việc
dân sự thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án bao gồm các vụ việc phát sinh từ
quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, KD, TM và lao động. Trên cơ sở
đó, thẩm quyền dân sự của Tòa án được định nghĩa như sau:
Thẩm quyền dân sự của Tòa án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc
dân sự và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó
theo thủ tục tố tụng dân sự của Tòa án.
Như vậy, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án là
một bộ phận cấu thành nên thẩm quyền dân sự của Tòa án. Do đó, nếu đặt khái
niệm thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án trong mối
tương quan với khái niệm thẩm quyền dân sự của Tòa án thì khái niệm “thẩm
quyền dân sự của Tòa án” là khái niệm gốc, còn khái niệm “thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án” là khái niệm phái sinh từ khái
niệm đó. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án là một
loại thẩm quyền dân sự chuyên biệt thuộc thẩm quyền dân sự chung của Tòa án.
Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án cũng mang hai nội
dung chính là quyền hành động và quyền quyết định của Tòa án trong giải quyết
các tranh chấp KD, TM. Từ đó, có thể rút ra kết luận như sau:

Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án là quyền
của Tòa án trong việc xem xét giải quyết các tranh chấp KD, TM và quyền
hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các tranh chấp KD, TM đó theo
thủ tục tố tụng dân sự.

11
1.1.2. Đặc điểm thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của
Tòa án
Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM là một loại thẩm quyền
dân sự cụ thể của Tòa án. Vì vậy, trước hết nó mang những đặc điểm chung
của thẩm quyền dân sự của Tòa án đó là:
- Phạm vi xem xét và ra quyết định của Tòa án khi giải quyết các tranh
chấp KD, TM được giới hạn bởi yêu cầu của đương sự. Khi giải quyết tranh
chấp KD, TM Tòa án không được quyền xem xét và ra quyết định vượt quá
yêu cầu của đương sự.
- Khác với thẩm quyền hình sự hay thẩm quyền hành chính của Tòa án
được giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự hoặc tố tụng hành chính thì thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án được thực hiện theo thủ
tục tố tụng dân sự, mà cụ thể là thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Vì vậy, ngoài
việc tuân thủ các nguyên tắc chung về tố tụng thì Tòa án khi xem xét, giải
quyết các tranh chấp KD, TM phải tôn trọng và đảm bảo quyền tự thỏa thuận,
quyền tự định đoạt của đương sự theo đúng quy định của pháp luật.
Bên cạnh mang những đặc điểm chung về thẩm quyền dân sự của Tòa
án thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án còn thể hiện
những đặc điểm riêng cơ bản đó là:
- Thứ nhất: Chủ thể của tranh chấp KD, TM phát sinh chủ yếu giữa các
thương nhân với nhau. Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật thương mại
2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá
nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký
kinh doanh” [17, tr.12]. Trên cơ sở đó, thương nhân mang những đặc điểm

riêng biệt là chủ thể phải thực hiện hành vi thương mại một cách độc lập
mang danh nghĩa của chính mình và vì lợi ích của bản thân mình. Đồng thời,
thương nhân phải có năng lực hành vi thương mại và có đăng ký kinh doanh.

12
Năng lực hành vi thương mại của thương nhân là khả năng của thương nhân
bằng những hành vi của chính bản thân mình để xác lập và thực hiện các
quyền và nghĩa vụ pháp lý. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng căn cứ đầu
tiên để Tòa án phân biệt giữa tranh chấp KD, TM với tranh chấp dân sự, tranh
chấp hôn nhân - gia đình và tranh chấp lao động là những tranh chấp phát sinh
chủ yếu giữa các thương nhân với nhau và thuộc thẩm quyền giải quyết của
Toà án cấp huyện hoặc Tòa Kinh tế thuộc Toà án cấp tỉnh.
- Thứ hai: Nếu như các tranh chấp về dân sự là những mâu thuẫn, bất
đồng, phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, tranh chấp hôn nhân - gia đình
phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân - gia đình và tranh chấp lao động
phát sinh từ quan hệ pháp luật lao động thì tranh chấp KD, TM là những mâu
thuẫn, bất đồng, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ hoạt
động thương mại. Pháp luật Việt Nam đã quy định hoạt động thương mại là
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
khác. Theo đó, các hoạt động thương mại này phải được thực hiện trên thị
trường và nhằm mục đích sinh lợi. Đây là đặc điểm mà dựa vào đó để chúng ta
có thể phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động thương mại với hành vi dân sự. Và
nếu một hành vi được thực hiện nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân thì
đó là hành vi dân sự; ngược lại, cũng là hành vi đó nhưng được thực hiện nhằm
mục đích sinh lợi thì đó là hoạt động thương mại.
- Thứ ba: Theo quy định của pháp luật Việt Nam, một tranh chấp KD,
TM phát sinh thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện ra Tòa án hoặc yêu
cầu Trọng tài thương mại giải quyết theo các thủ tục tố tụng khác nhau. Vì
vậy, cần phải có cơ sở để phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp

KD, TM của Tòa án và Trọng tài thương mại. Cơ sở để phân định thẩm quyền
đó chính là thỏa thuận Trọng tài giữa các bên tranh chấp.

13
Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Tranh chấp được giải
quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận Trọng tài. Trong trường hợp
các bên tranh chấp đã có thỏa thuận Trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa
án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận Trọng tài vô hiệu
hoặc thỏa thuận Trọng tài không thể thực hiện được”[21, tr.3]. Do đó, một
tranh chấp được coi là tranh chấp phát sinh từ hoạt động KD, TM thuộc thẩm
quyền giải quyết của Trọng tài khi đáp ứng hai điều kiện: một là, tranh chấp
phát sinh từ hoạt động KD, TM và hai là, các bên hoặc ít nhất một bên phải
tham gia hoạt động KD, TM nghĩa là ít nhất một bên phải có đăng ký kinh
doanh và có mục đích lợi nhuận. Việc quy định như trên nhằm mục đích tôn
trọng sự thỏa thuận giữa các bên, tránh được sự chồng chéo về thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp KD, TM giữa Trọng tài và Tòa án. Vì vậy, trong
trường hợp các bên đã có thỏa thuận Trọng tài để giải quyết tranh chấp thì về
nguyên tắc, Trọng tài sẽ tiến hành giải quyết vụ tranh chấp cho các bên theo
thủ tục tố tụng Trọng tài.
- Thứ tư: Tranh chấp KD, TM là những xung đột, mâu thuẫn về quyền
và nghĩa vụ của các bên phát sinh trong hoạt động KD, TM. Trong khi đó,
việc về KD, TM cũng phát sinh trong hoạt động KD, TM nhưng là việc các cá
nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công
nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa
vụ KD, TM của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác hoặc yêu cầu
Tòa án công nhận cho mình quyền về KD, TM. Do vậy, việc về KD, TM có
đặc điểm khác biệt so với tranh chấp KD, TM đó là các bên trong quan hệ
không có tranh chấp và một bên đưa ra yêu cầu công nhận hoặc không công
nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ về KD, TM cho
mình. Trên cơ sở đó, việc về KD, TM được tiến hành theo thủ tục đơn giản

hơn và đó là thủ tục giải quyết việc dân sự.

14
Như vậy, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án với
vai trò là một bộ phận cấu thành nên thẩm quyền dân sự của Tòa án nên ngoài
mang những đặc điểm chung về thẩm quyền dân sự của Tòa án nó còn thể
hiện những đặc điểm riêng biệt. Do đó, việc nhận dạng các đặc điểm này có ý
nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với các cấp Tòa án khi xác
định vụ tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không.
1.1.3. Ý nghĩa việc quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
KD, TM của Tòa án
Như đã phân tích, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, bên
cạnh hệ thống Tòa án thì các tranh chấp KD, TM còn có thể được giải quyết
tại Trọng tài thương mại. Nguyên tắc thẩm quyền giải quyết theo vụ việc cho
thấy, các vụ việc tranh chấp KD, TM nào thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án và phân biệt tranh chấp KD, TM với tranh chấp dân sự, tranh chấp hôn
nhân - gia đình và tranh chấp lao động. Chính vì vậy, việc quy định rõ tranh
chấp KD, TM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án có ý nghĩa quan trọng
trong thực tiễn giải quyết loại tranh chấp này đó là:
- Quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa
án một cách hợp lý, khoa học sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ giữa các Tòa chuyên trách trong cùng một Tòa án
và giữa các Thẩm phán với nhau. Từ đó, góp phần tạo điều kiện cần thiết cho
Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các tranh chấp, đảm bảo tính hiệu
quả trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án.
- Quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa
án một cách hợp lý, khoa học góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các đương
sự tham gia tố tụng. Trong quá trình thực hiện các hoạt động KD, TM việc
tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức phát sinh trong quá trình này là điều khó
tránh khỏi. Trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại và các bên


15
không thể tự bảo vệ quyền lợi của mình thì có quyền khởi kiện đến Tòa án và
yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, việc quy định rõ thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp KD, TM của Tòa án sẽ giúp cho các đương sự xác định đúng Tòa
án để gửi đơn, tránh tình trạng đương sự không xác định được Tòa án có thẩm
quyền để giải quyết hoặc gửi đơn đến nhiều Tòa án gây mất thời gian và
những chi phí không đáng có.
- Bên cạnh đó, việc quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp KD, TM của Tòa án còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo
tính chuyên sâu và thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội
ngũ cán bộ Tòa án. Điều cần thiết để Tòa án có thể thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ của mình là cần phải có một đội ngũ nhân lực tức là đội ngũ
Thẩm phán không chỉ giỏi về trình độ chuyên môn và cũng cần phải có
kinh nghiệm trong nghiệp vụ công tác. Do đó, khi phân định thẩm quyền
của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM giúp cho mỗi
Thẩm phán xác định rõ được vị trí, vai trò của bản thân và có thể vận dụng
tốt kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ xét xử cần thiết để giải quyết vụ án
một cách nhanh chóng, kịp thời, từ đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự.
- Ngoài ra, việc quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD,
TM của Tòa án cũng tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác định pháp luật nội
dung để áp dụng. Các quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực dân sự, hôn
nhân - gia đình, KD, TM và lao động đều có cùng tính chất là điều chỉnh các
quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân được hình thành trên cơ sở bình đẳng,
thỏa thuận và tự định đoạt của đương sự. Xét về tính chất, các quan hệ pháp
luật này hoàn toàn khác biệt so với các quan hệ pháp luật hình sự hay quan hệ
pháp luật hành chính mang nặng yếu tố quyền lực, phục tùng. Thông thường
Toà án phải dựa vào pháp luật nội dung để xác định quan hệ pháp luật tranh


16
chấp tương ứng thuộc lĩnh vực nào và từ đó xác định thẩm quyền của Toà án.
Tuy nhiên, việc xác định rõ ràng các tranh chấp KD, TM thuộc thẩm quyền
giải quyết của Toà án và ghi nhận cụ thể trong pháp luật tố tụng dân sự sẽ
thuận lợi hơn cho Toà án khi lựa chọn pháp luật nội dung được áp dụng để
giải quyết vụ việc.
1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa án
1.2.1. Về cơ sở lý luận
- Một là: việc xây dựng các quy định về thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp KD, TM của Tòa án phải phù hợp với chủ trương của Đảng về
chiến lược cải cách tư pháp
Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh
đạo Nhà nước và xã hội, là hạt nhân của hệ thống chính trị. Điều 4 Hiến pháp
Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Đảng Cộng sản
Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung
thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh
đạo Nhà nước và xã hội” [12, tr.3]. Với vai trò đó, nội dung chủ trương,
đường lối của Đảng đã thể chế hóa nguyện vọng của toàn thể nhân dân, góp
phần hoàn thiện Bộ máy Nhà nước cũng như hệ thống pháp luật.
Trong thời gian qua, hệ thống các cơ quan tư pháp nước ta đã góp phần
quan trọng vào việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hệ thống các cơ quan tư pháp
cũng đã bộc lộ một số hạn chế như tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và

×