Tải bản đầy đủ (.doc) (6 trang)

Phân tích ưu điểm và hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (141.46 KB, 6 trang )

Ngày nay, khi con người ngày càng phát triển thì cũng là lúc mà chúng ta càng tác động nhiều
đến môi trường, trong đó phần lớn là những tác động xấu. Chính vì thế môi trường hiện nay đang trở
thành một vấn đề nóng bỏng ở nhiều quốc gia. Nguy cơ về môi trường cực kì nghiêm trọng ở các quốc
gia đang phát truển – nơi mà nhu cầu hàng ngày của con người và nhu cầu phát triển của xã hội xung
đột mạnh mẽ với sự cần thiết phải bảo về tài nguyên thiên nhiên cũng như môi trường sống. Trong đó,
Việt Nam của chúng ta chính là một trong những nước đứng đầu trong hàng ngũ các quốc gia đang
phát triển phải đối diện với các nguy cơ về môi trường.
Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và
Nhà nước ta. Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp vào các hoạt
động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô
nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường. Trong những biện pháp mà nhà nước ta sử dụng trong lĩnh vực
này và cũng như trong tuyệt đại đa số các lĩnh vực khác trong đời sống, pháp luật đóng vai trò đặc biệt
quan trọng. Sự xuất hiện và vai trò ngày càng tăng của các quy định pháp luật về môi trường kể từ khi
đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường là biểu hiện rõ nét về sự cấp bách của vấn đề môi trường.
Đi vào chi tiết hơn chúng ta có thể thấy rằng, một trong những vấn đề mà Việt Nam đang phải
đối mặt đó là vấn đề quản lý chất thải nguy hại. Quản lý không tốt vấn đề này, rất có thể Việt Nam sẽ
trở thành bãi rác thải của thế giới. Chính vì vậy, trong bài tập nhóm tháng thứ nhất này, chúng em đã
quyết định chọn đề tài: “Phân tích ưu điểm và hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy
hại”.
I. Các quy định về quản lý chất thải nguy hại .
1. Khái niệm chất thải nguy hại .
Theo Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố
độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại
khác”.
Trong khi đó, theo Quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999: “Chất thải nguy hại là chất
thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ,
làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất
khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người”.
Như vậy trong Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì định nghĩa về chất thải nguy hại ngắn gọn,
rõ ràng và có tính khái quát hơn định nghĩa trong Quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999. Tuy
nhiên, dù có sự khác nhau về từ ngữ nhưng cả hai định nghĩa này đều có nội dung tương tự nhau, đó là


đều nhấn mạnh vào đặc tính gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy
hại.
2. Các quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.
Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã quy định về quy trình để triển khai và thực hiện một
cách lần lượt từ việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến việc xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại. Đồng
thời cũng quy định trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến chất thải nguy hại, từ các cơ quan quản
lý nhà nước đến các tổ chức, cá nhân. Cụ thể là:
+ Việc quản lý chất thải nguy hại phải được lập hồ sơ và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước
về bảo vệ môi trường (Điều 70 Luật bảo vệ môi trường 2005).
+ Việc phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại phải được tiến hành theo hai
cách: Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải huy hại phải tổ chức phân loại, thu gom
hoặc hợp đồng chuyển giao cho bên tiếp nhận quản lý chất thải thu gom chất thải nguy hại (Điều 71
Luật bảo vệ môi trường 2005).
+ Việc vận chuyển chất thải nguy hại phải bằng thiết bị, phương tiện chuyên dụng phù hợp, đi
theo tuyến đường và thời gian do cơ quan có thẩm quyền về phân luồng giao thông quy định. Tổ chức,
cá nhân vận chuyển chất thải nguy hại phải chịu trách nhiệm về tình trạng rò rỉ, rơi vãi xảy ra sự cố
môi trường trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ (Điều 72 Luật bảo vệ môi trường 2005).
+ Việc xử lý chất thải nguy hại phải tiến hành bằng phương pháp, công nghệ, thiết bị phù hợp
với đặc tính hóa học, lý học và sinh học của từng loại chất thải nguy hại để đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi
trường. (Điều 73 Luật bảo vệ môi trường 2005).
+ Việc thải bỏ, chôn lấp chất thải nguy hại còn lại sau khi xử lý phải được thực hiện theo quy
định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ môi trường.
(Điều 74, 75 Luật bảo vệ môi trường 2005).
Do chất thải nguy hại thường có nguồn gốc phát sinh từ các hoạt đồng sản xuất kinh doanh
thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên pháp luật môi trường cũng quy định trách nhiệm của nhiều loại cơ
quan trong việc quản lý loại chất thải này. Cụ thể là:
- Bộ tài nguyên và môi trường thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về chất thải nguy hại
trong phạm vi toàn quốc; chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các hoạt động quản lý chất thải nguy hại
(Điều 21 Quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999).
- Bộ xây dựng có trách nhiệm Hướng dẫn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc

quy hoạch xây dựng các khu xử lý chất thải nguy hại hợp vệ sinh, các bãi chôn lấp chất thải nguy hại
phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. (Điều 22 Quy chế quản lý chất thải
nguy hại 99).
- Bộ công nghiệp có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và triển khai các biện pháp hữu hiệu buộc
các chủ nguồn thải phải tuân thủ các quy định của Quy chế (Điều 23 Quy chế quản lý chất thải nguy
hại năm 1999).
- Bộ y tế có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và có các biện pháp hữu hiệu buộc các bệnh viện,
trạm y tế, cơ sở dịch vụ y tế tuân thủ các quy định của Quy chế. (Điều 24 Quy chế quản lý chất thải
nguy hại năm 1999).
- Bộ quốc phòng, Bộ công an có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và triển khai thực hiện các biện
pháp hữu hiệu buộc các chủ nguồn thải thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tuân thủ các quy định về
quản lý chất thải nguy hại. (Điều 25 Quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999).
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Chỉ đạo Sở Xây dựng lập quy hoạch,
kế hoạch xây dựng các khu lưu giữ, các cơ sở xử lý, tiêu hủy và các bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh
thuộc địa bàn quản lý của địa phương (Điều 27 Quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999).
Thêm vào đó hiện nay ở nước ta còn có một số văn bản khác quy định về vấn đề này như: Quyết
định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26-12-2006 quy định về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại;
Thông tư 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn về điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp
phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại; Quy chuẩn Việt Nam 07/2009/BTNMT quy định về
quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại.
II. Ưu điểm và hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại.
1. Ưu điểm của các quy định về quản lý chất thải nguy hại .
Như chúng ta đã phân tích ở trên, khi định nghĩa về chất thải nguy hại thì phần quan trọng nhất
mà Nhà nước ta nhấn mạnh vào chính là đặc tính gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng
của chất thải nguy hại. Chính vì vậy mục đích của pháp luật quản lý chất thải nguy hại chủ yếu là bảo
vệ môi trường và sức khỏe của cộng đồng. Thông qua vấn đề đặt ra các khung pháp lý quy định về
trách nhiệm của cơ quan Nhà nước về môi trường; quyền, nghĩa vụ của các tổ chức cá nhân liên quan
đến chất thải nguy hại. Pháp luật quản lý chất thải nguy hại đã phân định rõ quyền hạn cho các cơ quan
Nhà nước giúp cho hoạt động quản lý của Nhà nước đối với vấn đề này đạt hiệu quả cao. Đồng thời
pháp luật còn định hướng cho hành vi, xử sự của các chủ thể khi tham gia các hoạt động liên quan đến

chất thải nguy hại. Qua đó ngăn ngừa, hạn chế việc gia tăng số lượng chất thải nguy hại vào môi
trường, giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với sức khỏe con người cũng như môi trường
sống.
Các quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã góp phần đáng kể hạn chế các vi
phạm về môi trường thông qua các biện pháp cụ thể. Các biện chúng ta có thể kể ra là:
- Biện pháp pháp lý: với tư cách là hệ thống các quy phạm pháp luật điểu chỉnh hành vi xử sự
của con người, pháp luật quản lý chất thải nguy hại đã tác động trực tiếp đến hành vi xử sự của các chủ
thể. Đây là biện pháp đem lại hiệu quả cao nhất, thông qua đó hoạt động quản lý chất thải nguy hại
được thể chế hóa bằng pháp luật.
- Biện pháp kinh tế: Đó là việc sử dụng lợi ích vật chất để kích thích hoặc bắt buộc các chủ thể
thực hiện những hoạt động có lợi cho hoạt động quản lý chất thải. Biện pháp này thực hiện thông qua
hình thức thu phí chất thải đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm hạn chế lượng chất thải có thể
phát sinh ngay tại nguồn. Áp dụng thuế cao đối với những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi
trường hoặc sức khỏe con người ở mức độ cao. Đó còn là những biện pháp hỗ trợ vốn, miễn giảm thuế
cho doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị công nghệ thân thiện môi trường... Biện pháp kinh tế rất cần
thiết và có hiệu quả phòng ngừa cao vì nó tác động trực tiếp tới nguồn thu nhập, lợi nhuận của doanh
nghiệp.
Ngoài ra hiện nay Nhà nước ta còn có các biện pháp kí quỹ đặt cọc được quy định trong Điều
114 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã nâng cao trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong hoạt
động khai thác tài nguyên thiên nhiên.
- Biện pháp khoa học công nghệ: Vận dụng các thiết bị khoa học công nghệ tiên tiến vào việc
quản lý chất thải. Biện pháp này giúp hạn chế được lượng chất thải, đồng thời xử lý được khối lượng
lớn và triệt để chất thải.
- Biện pháp chính trị: Đảng đưa ra vấn đề môi trường và quản lý chất thải trong cương lĩnh của
mình, từ đó thể chế hóa thành pháp luật. Biện pháp này có tác dụng định hướng và có tính bao quát
cao.
Các quy định của pháp luật ngày càng rõ ràng và cụ thể đã làm cho người dân hiểu pháp luật,
nâng cao ý thức của họ. Người dân sẽ tự giác thực hiện những hành vi có ích cho môi trường.
2. Hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại .
Trên thực tế những quy định pháp luật về quản lí chất thải nguy hại trong những năm gần đây đã

được Nhà nước ta chú ý nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập. Chính những hạn chế trong pháp luật về
quản lí chất thải nguy hại đang làm ảnh hưởng xấu đến công tác quản lí chất thải nguy hại.
Hạn chế đầu tiên phải kể đến là hệ thống văn bản pháp luật về quản lí chất thải nguy hại của
chúng ta vẫn còn chưa đầy đủ chưa hoàn thiện, thiếu những văn bản chi tiết hướng dẫn việc thực hiện
và nhất là thiếu các chế tài xử phạt; chưa có các quy định về chất thải nguy hại từ sinh hoạt và nông
nghiệp, các văn bản hiện hành phần lớn đề cập tới việc quản lí chất thải rắn, chất thải y tế… các chất
thải khác như chất thải sinh hoạt, chất thải lỏng, chất thải trong công nghiệp, chất thải phóng xạ…
chưa được quan tâm thích đáng; quy định về lưu giữ chất thải chờ thiết bị công nghệ không mang tính
khả thi, chưa có quy định của pháp luật về phân loại các chất thải nguy hại trong sinh hoạt… Mặc dù
quy chế quản lí chất thải nguy hại và sau đó là quy chế quản lí chất thải y tế đã được ban hành khá lâu
nhưng điều bất cập là chưa có đầy đủ các thông tư hướng dẫn cụ thể. Việc thực hiện quy chế cho các
đối tượng là các cơ quan quản lí nhà nước về chất thải ở địa phương các nguồn chất thải chủ thu gom
vận chuyển, chủ xử lí tiêu hủy chất thải. Việc ban hành các văn bản quy định về các tiêu chuẩn bãi
chôn lấp hợp vệ sinh tiêu chuẩn xe chuyển tải, tiêu chuẩn thiết bị vận hành xử lí cũng còn chậm trễ và
chưa đồng bộ. Thêm vào đó các văn bản kém ổn định làm mất hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà
nước và ảnh hưởng đến hoạt động của người bị quản lý. Có những văn bản mới ban hành xong, lại sửa
đổi, bổ sung. Ví dụ như thông tư số 15/2009/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
ban hành ngày 17/03/2009 thì ngày 04/06/2009 Bộ đã phải ban hành thông tư 29/2009/TT-BNN sửa
đổi bổ sung thông tư trên.
Hạn chế thứ hai là các chế tài xử phạt được quy định trong các văn bản pháp luật của nước ta về
quản lý chất thải nguy hại còn nhẹ đối với các hành vi vi phạm: thiếu các quy định liên quan đến mua
bán chất thải, kinh doanh chất thải và chúng ta chưa thể thể chế hóa được các chế tài xử lí cụ thể việc
vi phạm các quy định về quản lí chất thải. Người bán chất thải nguy hại chỉ bị xử lí kỉ luật, không bị xử
lí về phương diện môi trường. Người mua cũng không bị xử lí về phương diện môi trường mà chỉ bị
xử lý kỷ luật.
Thứ ba là việc xây dựng các quy định về quản lí chất thải mới chỉ căn cứ chủ yếu vào kết quả
của một dự án chưa mang tính tổng thể. Vì vậy nội dung của quy chế chỉ tập trung tới các hóa chất ở
ba dạng: chất thải chứa kim loại, chất thải chứa chất hữu cơ vô cơ, chất thải chứa hợp chất nhưng bản
chất chất thải có tính đa dạng hơn nhiều so với các hóa chất thuần túy và vì thế quy chế đã được ban
hành nhưng thiếu tính khả thi vì nó chưa bao trùm hết các dạng chất thải nguy hại.

Thứ tư là việc xây dựng các tiêu chuẩn hiện nay dựa tên giả định trước rằng đã đầy đủ cơ quan
giám sát các hoạt động người gây ô nhiễm và có quyền ra lệnh phạt những người vi phạm. Tuy nhiên
hiện nay hệ thống thanh tra môi trường ở các địa phương còn yếu, chưa có đủ chuyên môn và kinh
nghiệm cần thiết. Từ góc đọ khác có thể thấy những người tham gia xây dựng các tiêu chuẩn thường
có tham vọng và đưa ra các tiêu chí tương đối nghiêm ngặt thường quá cao so với trình độ phát triển
chung toàn quốc và do đó khó có đủ cơ sở để thực thi hiệu quả.
Thứ năm, đối với những quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người sản sinh chất thải nguy
hại nhìn chung là đã đáp ứng được thực tiễn đặt ra nhưng vẫn còn những hạn chế đó là việc quy định
rất chung chung. Quy định phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu chất thải ngay từ nguồn nhưng lại
không quy định những biện pháp cụ thể. Đối với việc giảm thiểu chất thải ngay từ nguồn là rất phù
hợp, là một biện pháp giải quyết tiến bộ nên quy định những biện pháp rõ ràng cụ thể vì nếu các chủ
thể tiến hành xử lí chất thải từ nguồn mà áp dụng không đúng các biện pháp thì có thể gây ra những
hậu quả nặng nề cho môi trường nên cần quy định rõ các biện pháp cụ thể. Chất thải rất đa dạng phong
phú, mỗi loại lại có những biện pháp xử lí riêng nên công việc này khá phức tạp đòi hỏi pháp luật cần
điều chỉnh và can thiệp cụ thể hơn nữa. Phải tổ chức lưu giữ tạm thời trong thiết bị chuyên dụng, đóng
gói chất thải nguy hại theo chủng loại theo các bao bì thích hợp đáp ứng các yêu cầu an toàn kĩ thuật.
Nhưng bên cạnh đó còn một vấn đề nảy sinh một vấn đề là việc lưu giữ tạm thời với các đối tượng sản
sinh là rất tốn kém. Vì việc lưu giữ chất thải là một vấn đề khá phức tạp phải có những dụng cụ, theo
một quy trình kĩ thuật xử lí công phu đòi hỏi phải có chi phí kinh tế lớn mà với cơ sở sản sinh thì rất
khó để những đối tượng này chi ra một khoản tiền lớn như vậy. Trên thực tế thì các cơ sở này cũng
khó có thể đáp ứng được đúng các tiêu chuẩn kĩ thuật. Khu vực lưu giữ chất thải của nơi sản sinh có
một vai trò quan trọng, cần có thêm quy định về vấn đề này.
Thứ sáu, đối với những quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người vận chuyển chất thải.
Pháp luật quy định chỉ được vận chuyển khi có giấy phép vận chuyển chất thải nguy hại do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp. Quy định này nhằm giúp các cơ quan quản lí tốt nhất quá trình vận
chuyển chất thaỉ nguy hại. Song trên thực tế vấn đề xin cấp giấy phép còn gặp nhiều khó khăn, phải
qua nhiều khâu xem xét, thẩm định...Vậy nếu lượng chất thải ứ đọng quá lớn mà giấy phép vận chuyển
đi tiêu hủy chưa xin được thì cần phải có biện pháp cụ thể xử lí. Do tính chất của việc vận chuyển chất
thải nguy hại có tính chất đặc thù nên pháp luật phải quy định cụ thể hơn nữa về người vận chuyển
chất thải nguy hại vì người này gắn liền với quá trình vận chuyển và là người chủ yếu đảm bảo an toàn

cho quá trình vận chuyển.
Thiếu quy định về việc quyết định các biện pháp xử lý khi có sự cố xảy ra trong quá trình vận chuyển
chất thải nguy hại. Pháp luật chỉ quy định là tự chịu trách nhiệm còn chịu trách nhiệm cụ thể như thế
nào thì chưa quy định rõ. Việc quy định về phương tiện vận chuyển còn lỏng lẻo. Pháp luật chỉ quy
định bằng phương tiện chuyên dụng phù hợp để xác định một phương tiện đủ tiêu chuẩn để vận
chuyển chất thải nguy hại thì chưa có những tiêu chuẩn cụ thể.
Thứ bảy, đối với người xử lý chất thải nguy hại. Chỉ được thực hiện những hoạt động xử lý khi
có giấy phép và mã số hoạt động do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp. Đây là một quy
định hợp lý nhưng trên thực tế khâu cấp giấy phép lại gây ra những khó khăn cho hoạt động xử lý.
Hoạt động xử lý vô hình chung làm ảnh hưởng đến tốc độ của quá trình này.
Pháp luật quy định phương pháp xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp công nghệ, thiết bị
phù hợp với đặc thù hóa học, lý học và sinh học của từng loại chất thải nguy hại đểm đảm bảo đạt
được tiêu chuẩn môi trường. Trường hợp trong nước không có công nghệ thiết bị xử lý thì phải lưu giữ
theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cho đến
khi chất thải được xử lý. Nhưng trên thực tế công nghệ khoa học kỹ thuật trong nước vể kiểm định và
xử lý chất thải còn lạc hậu, vấn đề kinh phí để đổi mới và bổ sung các thiết bị khoa học tiên tiến còn
đang gặp khó khăn do thiếu nguồn đầu tư, bởi vậy nếu không có công nghệ thiết bị phù hợp với đặc
tính của chất thải nguy hại mà phải lưu giữ để chờ mua được thiết bị thì phải chờ đến khi nào?

×