Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

CHẾ LAN VIÊN THÁP CHÀM BỐN MẶT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (148.56 KB, 25 trang )

CHẾ LAN VIÊN :THÁP CHÀM BỐN MẶT
Đỗ Lai Thúy
Trong một mình bảy tám biệt ly
CAO BÁ NHẠ
Mỗi câu thơ che một trận tuyến tâm tình
CHẾ LAN VIÊN
Năm 1992, sau khi cuốn Con mắt thơ ra đời, đi đâu tôi
cũng bị người ta chất vấn: Sao không có Chế? Phải, đã có Thế
Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương,
Bích Khê, Hàn Mạc Tử, sao lại không có Chế Lan Viên? Thế
mới biết, trong số đông người đọc, Chế chiếm giữ vị trí như thế
nào!
Có lần, đánh bài lờ mãi không được, tôi đành phải thưa lại
theo kiểu học đường: một là, mỗi tác giả tôi giới thiệu đều là
một mắt thơ, tương ứng với một phạm trù thi pháp học, như
Thế Lữ là quan niệm nghệ thuật về con người, Xuân Diệu là
quan niệm nghệ thuật về thời gian, Huy Cận là quan niệm nghệ
thuật về không gian , mà Chế Lan Viên thì tôi chưa tìm được
một phạm trù tương ứng, nên ông không có chân trong nhóm
thất tinh ấy; hai là, theo tôi, Điêu tàn của Chế Lan Viên, nếu
xét về mặt tư duy nghệ thuật, so với Tinh huyết của Bích Khê,
Đau thương của Hàn Mạc Tử, những người cùng Trường thơ
Loạn với ông, thì không bằng. Và, điều đáng ngạc nhiên hơn,
là không bằng cả Ánh sáng và Phù sa của chính Chế; ba là, vân
vân và vân vân.
Tôi nói đáng ngạc nhiên, bởi lẽ, vượt mốc Bốn nhăm, tất
cả các nhà Thơ Mới đều tự đánh vỡ phong cách cũ của mình và
thay vội bộ đồ mới hợp thời hơn. Xuân Diệu làm thơ mộc, đi
đâu ông cũng niệm câu Kinh "Chân, chân, chân; Thực, thực,
thực" hoặc giương cao khẩu hiệu: "Thơ với cuộc sống, thơ với
thực tế". Huy Cận có lúc cố níu kéo phong cách Lửa thiêng,


nhưng một Bến Trung Hà trơ cạn không sánh nổi với một
Trường giang mênh mông Duy có Chế Lan Viên là lệ ngoại.
Ánh sáng và Phù sa như một con quạ trắng, bởi lẽ nó không chỉ
là sự tiếp tục của Điêu tàn, mà còn vươn tới một đỉnh cao.
Năm 1937, Điêu tàn xuất hiện như một niềm kinh dị,
"giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó
sừng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật".
Và bạn đọc thủa ấy, hẳn cũng có cảm giác như Hoài Thanh,
"người đồng bằng thỉnh thoảng trèo lên đó - có người trèo đuối
sức - mà trầm ngâm xem gạch rụng, nghe tiếng rên rỉ của ma
Hời cũng hay, nhưng triền miên trong đó thì không nên. Riêng
tôi, mỗi lần nấn ná trên ấy quá lâu, đầu tôi choáng váng: không
còn biết mình là người hay ma. Và tôi sung sướng biết bao lúc
khỏi giấc mơ dữ dội, tôi trở xuống, thấy chim vẫn kêu, người
vẫn hát, cuộc đời vẫn bình dị, trời xa vẫn trong xanh".
Qua lời bộc bạch của tác giả Thi nhân Việt Nam, người, có
lẽ do cơ địa, để mỹ cảm của mình dừng lại ở Lãng mạn chưa
vươn tới được Tượng trưng và Siêu thực, tôi thấy người ta kinh
ngạc trước Điêu tàn chủ yếu ở phương diện đề tài. Quả thực,
Chế Lan Viên bấy giờ đã đi vào một đề tài nhạy cảm và ít
nhiều kỳ quái. Đó là số phận của cả một tộc người. Xưa oai
hùng mà nay tàn tạ:
Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rên than
(Trên đường về)
Lời Điêu tàn, mặc dù tác giả tự nhận mình là Người Mơ,
Người Say, Người Điên, là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, và làm
thơ là gào vỡ sọ, thét đứt hầu, khóc trào máu mắt, cười tràn cả

tủy là tủy, vẫn rất trong sáng, dễ hiểu:
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
(Xuân)
Mặc dù có một số khám phá mới mẻ về ngôn ngữ, nhưng
ở Điêu tàn Chế Lan Viên vẫn chưa tìm được một ngôn ngữ
thích hợp để phô diễn những tư tưởng tân kỳ, điều mà ông đã
làm được ở Ánh sáng và Phù sa. Sự cách tân ngôn ngữ thơ này
của Chế Lan Viên bị số đông chê là cầu kỳ, khó hiểu. Khó hiểu
vì xưa người ta phần lớn thấy A # B. Cầu kỳ vì ngôn ngữ Chế
nhiều lớp lang, đòi hỏi phải giải mã, trái thói quen đọc ăn liền.
Ánh sáng và Phù sa đầy rẫy những mâu thuẫn logic, những
nghịch - lý - thuận - lý như:
- Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn
- Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười
- Lòng ta chửa bao giờ đi hết được
Đi hết lòng tiếng khóc hóa lời ca
Như vậy, Ánh sáng và Phù sa vừa là sự phát triển cao hơn
của Điêu tàn và là sự đối lập với nó. Điêu tàn có sự sáng rõ về
ngôn ngữ, nhưng mờ đục về chủ đề. Bởi ở đây thơ là một
khách thể lạ, mang tính hư cấu. Ánh sáng và Phù sa, ngược lại,
mờ đục về ngôn ngữ, nhưng sáng rõ về chủ đề. Đối tượng thơ
lúc này là quen thuộc: hiện thực đất nước và tâm trạng tác giả.
Một thực thể thực được tạo bởi một ngôn ngữ ảo. Tôi bỗng nhớ
Rimbaud và Mallarmé, người thứ nhất khó đọc vì ý tưởng,
người thứ hai vì kiểu kiến trúc ngôn ngữ.
Ánh sáng và Phù sa ra đời (1963), theo tôi, là ở chỗ bấy

giờ giữa nhà thơ và lý tưởng cách mạng của ông còn có một
khoảng cách. Một khoảng cách có thể không lợi gì cho đời
sống hiện thế, nhưng lại có ích cho thơ. Chế Lan Viên, tiếng
nói của Điêu tàn thuở nào, còn chưa kịp lột xác để trở thành
Chế Lan Viên - Chim báo bão. Nhà thơ thường trực ý thức điều
đó. Ông muốn mau mau xóa đi cái khoảng cách giữa cái đang
có và cái cần có để được đồng nhất mình với lý tưởng, hòa tan
cái tôi bé mọn, "đáng ghét" của mình với cái ta vĩ đại của cách
mạng.
Bởi thế, thi nhân luôn sống trong trạng thái dằn vặt. Tự
"chỉnh huấn mình". Tự buộc tội mình.
Một thứ mặc cảm tội lỗi:
Tôi đến Nha Trang ngắm trời biển đẹp
Có hay đâu hang Pắc Pó gió lùa
Giường lãnh tụ là hai hàng đá ghép
Mảnh áo chàm Bác mặc quá đơn sơ.
Và, những lời thế thốt, hứa hẹn:
Đừng đuổi thơ tôi vì một chút
Chiều tà nào ngả bóng
Hãy kiên lòng sẽ thấy nắng mai lên
Trong Ánh sáng và Phù sa, người ta thường gặp rất nhiều
những từ ốm, đau, chữa bệnh, vết thương, da xanh, máu đỏ
vừa có ý nghĩa thực, vừa có nghĩa tượng trưng. Đấy là ốm đau
của sự lột xác. Những cơn sốt vỡ da. Chế Lan Viên làm thơ
vừa để tỏ bày, vừa để xóa khoảng cách. Đấy là trường hợp, như
Đốt nói, con người không trùng khít với bản thân mình, hay
trong con người còn có con người. Ánh sáng và Phù sa sở dĩ đa
giọng điệu là vì thế. Nhà thơ đối thoại với chính mình, đối
thoại với người khác, mổ xẻ để chữa trị bản thân. Tuy vậy,
nhiều lúc sự tự trách mình của nhà thơ đi quá đà. Người ta thấy

ông hạ thấp mình, thậm chí hạ nhục mình, nhận cả những tội
lỗi mà mình không hề mắc. Hình như một sự tự thú phi lí như
vậy mang lại cho ông một cảm giác được thanh lọc, tẩy rửa.
Biết đâu, đó cũng là một cái thú, thú đau thương. Một sự lên
đồng tập thể hay một khoái lạc khổ hành?
Anh sông Hồng, sông Mã
Gầm reo trong lửa đạn
Biến thân mình màu mỡ
Thành cánh đồng nuôi dân.
Tôi như con sông Thương
Chảy lòng mình thương nhớ
Đánh đắm cả thuyền mình
Trong cuộc đời tại chỗ
Như Tô Lịch mỏi mòn
Thời gian muốn lấp bùn
Nơi thuyền xưa vua đậu
Gìơ rũ lá môn con
(Ngoảnh lại mười lăm năm)
Ở Ánh sáng và Phù sa tuy tác giả muốn khẳng định câu
hỏi ta vì ai?, tức khẳng định con người chiến sĩ, con người
chức năng, con người cán bộ, nhưng câu hỏi ta là ai? vẫn bám
dai dẳng, không thể một sớm một chiều gột sạch được. Dưới
những con chữ nổi gân vẫn lẩn khuất cái day dứt bản thể luận:
- Trong thung lũng đau thương vẫn tìm ra vũ khí
Phá cô đơn "ta" hòa hợp với "người"
- Tôi trong đau vẫn làm viên muối bể
Để mặn lòng những kẻ muốn vô tư.
Thực ra, với các nhà thơ tiền chiến, việc trở thành một nhà
thơ cách mạng là cả một vấn đề sống còn, to be or not to be.
Đặc biệt với những người đi xa như Chế Lan Viên. Huy Cận

vốn là một viên chức, tuy sớm vào Văn hóa Cứu quốc mà cũng
phải đến cuối những năm 50 mới có Trời mỗi ngày lại sáng,
còn Xuân Diệu, một nhà thơ luôn muốn chiến thắng thời gian
bằng cách theo kịp thời gian, thì ngay khi Cách mạng vừa
thành công đã kịp có Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông, và
sau đó là Riêng chung. Phải chăng sự lột xác của Xuân Diệu dễ
hơn Huy Cận, còn Huy Cận thì dễ hơn Chế Lan Viên? Tôi
không muốn suy đoán như vậy. Nhưng rõ ràng trong khi Xuân
Diệu và Huy Cận đưa nàng thơ về nhà máy và hầm mỏ, tức đối
tượng thơ là hiện thực bên ngoài, thì thơ Chế Lan Viên, như sự
tiếp tục và nâng cao của Thơ Mới, là cái tôi tự phân tích mổ xẻ.
Thực ra, ngay từ Điêu tàn, Chế Lan Viên đã phân thân. Chàng
trai Phan Ngọc Hoan người Việt gửi thân trong cái tên Chàm
Chế Lan Viên để khóc than cho sự lụi tàn của một dân tộc. Và
phải chăng Điêu tàn sớm nổi một phần cũng vì nhiều người
lầm tưởng tác giả của nó là dòng dõi Chế Bồng Nga? Nhưng
hai con người ấy trong ông không có sự xung đột, giằng xé vì
nó thống nhất với nhau: khóc cho người cũng là khóc cho
mình. Còn ở Ánh sáng và Phù sa thì, ngược lại, hai con người
trong ông đối lập nhau, loại trừ nhau. Bởi vậy Ánh sáng và Phù
sa đầy những nhiêu khê, băn khoăn, giằng xé, và giằng xé một
cách thành thực. Thi phẩm cảm động người đọc bởi sự thành
thực đó. Có thể nói, nếu thơ là ngôn ngữ bản thể như
M.Heidegger nói, thì Ánh sáng và Phù sa với những dằn vặt
một cách trí thức về phận người như vậy đã chạm với bản thể
thơ.
Sau thành công vang dội của Ánh sáng và Phù sa, Chế
Lan Viên đã có một vị trí vững chắc trên đàn thơ cách mạng,
vấn đề phận người phổ quát và thơ tưởng chừng đã được Ánh
sáng và Phù sa giải quyết xong: Ánh sáng rọi soi tôi và phù sa

bồi đắp tôi. Ánh sáng tinh thần và phù sa vật chất của lý tưởng
tôi. Nhưng đó chính là bé cái nhầm. Thân phận con người
không thể giải quyết một lần đã xong, một lần cho mãi mãi.
Chính Chế Lan Viên cũng đã có lúc nói "sau đỉnh đau thương
còn đau thương nữa". Nghĩa là cuộc đấu tranh khôn cùng. Bởi
vậy, Chế Lan Viên hậu Ánh sáng và Phù sa không còn khoảng
cách giữa tôi và cách mạng, vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến
lũy, giữa bản ngã và tha nhân, xóa đau thương ta hòa hợp với
người. Thơ ông ít đặt câu hỏi. Nhà thơ còn mải đi trả lời. Tính
chất thuyết giảng trong thơ Chế Lan Viên bắt nguồn từ đấy.
Sau đỉnh cao Ánh sáng và Phù sa, thơ Chế Lan Viên chia
thành hai ngả tưởng chừng riêng biệt: Hoa ngày thường và
Chim báo bão. Theo ngả Chim báo bão, nhà thơ cố gắng trả lời
câu hỏi ta vì ai? Thơ xưa chỉ hay than mà ít hỏi, Đảng dạy ta
thơ phải trả lời. Đó là những Ngọn lửa Môrixơn, Trận tuyến
này cao hơn cả các màu da, Bình luận, hè 67 Ở mảng thơ
này, Chế Lan Viên đã khỏe khoắn trở lại, bởi ông đã xóa bỏ
được khoảng cách giữa nhà thơ và lý tưởng. Ông trở thành
người phát ngôn cho lý tưởng cách mạng. Thơ Chế Lan Viên
một nghĩa và mang khẩu khí độc thoại. Lời nói của một người
đã sở hữu chân lý trong tay.
Lúc này, thơ Chế Lan Viên mặc dù phong phú đa dạng
nhưng đều xoay quanh một trục cảm hứng: Từ sự đối lập xưa
và nay (ở Ánh sáng và Phù sa) đã chuyển sang sự đồng nhất
xưa và nay. Xưa được biến thành nay, truyền thống biến thành
hiện tại. Những câu ca dao, câu quan họ, tuồng chèo, Truyện
Kiều, chú Tễu, Hề gậy, Thánh Gióng, Nguyễn Du đều được
tổng động viên vào cuộc sống đương đại. Và cuộc sống đương
đại lại được nhìn bằng những Con mắt Bạch Đằng, con mắt
Đống Đa. Tuy nhiên, là một người sống bằng sự đối lập, nên

xóa bỏ đối lập này (xưa/nay), Chế Lan Viên lập tức đưa ra một
đối lập khác: địch ta. Với đối lập mới này, thơ ông trở nên gần
với chính luận, gần với văn xuôi. Có những bài thơ phảng phất
Quân trung từ mệnh tập (Những bài thơ đánh giặc, Thời sự hè
72, bình luận ). Có những bài thơ gần với thể loại phú, hịch,
chiếu, biểu (Ở đâu ở đâu, ở đất anh hùng, Cái hầm chông giản
dị ). Ông sử dụng sự đối xứng, sự nhịp nhàng. Ông sử dụng
nhiều hư từ mang tính chất luận lý để biện hộ, chứng minh, bắt
bẻ, để suy ý. Dường như, ông trở về với lối sáng tác trung đại.
Thơ là phải có ý tứ. Làm thơ diễn một ý có trước kiểu như làm
tiểu thuyết luận đề. Bởi vậy, nhiều người có dịp được gần nhà
thơ đã bật mí: Chế Lan Viên thường làm thơ theo một đề
cương được soạn trước. Có điều, Chế Lan Viên là một nhà thơ
có tài, nên ông biết khéo gói cái ý đó trong nhiều lớp áo ngôn
từ đầy những hình ảnh, âm thanh và màu sắc đến nỗi, đọc thơ
ông, đôi lúc người ta quên mất chính cái khéo léo đó. Có thể
nói, ở mảng thơ này, theo cách của mình, Chế Lan Viên đã có
những thành công. Người ta bị ông thuyết phục bởi sức mạnh
của logic và vẻ hào nhoáng của ngôn từ. Những câu thơ của
ông được trích dẫn dài dài trong các bài diễn văn chính trị,
tham luận khoa học và đặc biệt trong lời ăn tiếng nói hàng
ngày. Nếu Chế Lan Viên "nghĩ trong điều Đảng nghĩ" thì thế
hệ học trò chúng tôi bấy giờ, có thể nói, nghĩ trong điều Chế
Lan Viên nghĩ. Những cấu kiện đúc sẵn của thơ ông đã cung
cấp cho xã hội những khuôn mẫu tư tưởng.
Ngả Hoa ngày thường là mảng thơ nói về đời tư của tác
giả. Nếu Chim báo bão là giọng cao thì Hoa ngày thường là
giọng trầm, nếu Chim báo bão là vần trắc thì Hoa ngày thường
là vần bằng. Nhưng riêng tư (mình với người khác) trong Hoa
ngày thường không giống như riêng tư (mình với mình) trong

Ánh sáng và Phù sa, nghĩa là nó không có những băn khoăn
bản thể luận, những giằng xé phận người. Bởi vậy, có thể nói,
đề tài của Hoa ngày thường vẫn là đề tài cách mạng, đề tài thời
cuộc của Chim báo bão được nhà thơ quy chiếu vào đời sống
riêng tư:
Em đây hoa những ngày thường
Yêu quá thành hoa chiến đấu
Rời chốn phòng riêng nho nhỏ
Theo anh lên tận chiến hào
Dập tắt muôn trùng đạn lửa
Lấp bằng những hố bom sâu
Chói lói tình yêu em nở
(Hoa ngày thường)
Cái rét đầu mùa anh rét xa em
Đêm dài lanh, chăn chia làm hai nửa
Một đắp cho em ở vùng sóng bể
Một đắp cho mình ở phía không em
(Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể)
Mảng thơ đời thường đáng chú ý là chùm Hoa trên đá.
Đây chủ yếu gồm những bài thơ ngắn, thơ tứ tuyệt. Ở hình thức
dồn ép ngôn ngữ này, Chế Lan Viên bộc lộ những suy nghĩ,
tâm trạng trước cuộc đời, đặc biệt là những suy nghĩ về nghệ
thuật:
Chả bể nào khuây được bể đâu
Trừ ra bể sâu hơn bể nữa
Bể gây những cuồng phong bão tố
Cũng để quên mình lỡ đã thẳm sâu
(Bể)
Đánh hòn đá ù lỳ
Cho loé ngời ngôn ngữ

Lửa tù đày trong đá
Mà đá ngủ vô tri
(Đá)
Uốn cả hồn anh thành tứ tuyệt
Kẹt trong hẻm đá, voi quỳ chân
Đã đưa ngà được lên trăng sáng
Vòi chửa buông xong để uống vần
(Tứ tuyệt)
Có thể nói, Hoa trên đá là mảnh tâm sự riêng của Chế Lan
Viên. "Khi riêng tây ta thấy mình xấu hổ", nhà thơ đã viết như
thế và bị kẹt ở đấy. Ông phải gói cái riêng vào cái triết học, cái
triết lý, thậm chí cả cái lý sự nữa Bởi vậy, ngay cả mảng thơ
ít cần đầu óc nhất này, thơ Chế Lan Viên vẫn cứ đầu óc. Hoa
ngày thường và Chim báo bão, vì vậy, tuy hai mà một.
Sau khi Chế Lan Viên ở Viên Tĩnh Viên viên tịch, người
ta bất ngờ trước mảng thơ bỏ ngăn kéo của ông. Một phần
những bài thơ này sau được in vào những tập Di cảo. Thực ra,
theo tôi, đây chủ yếu là những phác thảo, chưa hoàn thiện về
hình thức. Nhưng người ta ngạc nhiên bởi ý tưởng của nó.
Ngoài những bài suy nghĩ về thơ, về nghệ thuật, về cuộc đời,
Chế Lan Viên, con người, sau Ánh sáng và Phù sa, vốn trùng
khít với cơ chế ấy, đã làm nhiều bài thơ tỏ bày sự bất mãn với
nó. Ông buồn vì đã trót chi ra bao nhiêu thời gian cho những
phù vân. Ông hiểu mọi cơ chế trôi qua chỉ nghệ thuật mới đứng
lại. Hơn nữa, ông còn dám xét lại những vấn đề lớn của đất
nước, như chiến tranh và xây dựng.
Thường thì sau những lầm lẫn người ta sám hối. Nguyễn
Minh Châu có Ai điếu. Các tiểu thuyết Thao thức, Những đứa
trẻ phố Acbát là những sám hối của các nhà văn Nga xô viết
trong thời kỳ hậu bao cấp. Di cảo của Chế Lan Viên không

phải là thơ sám hối. Bởi thứ thơ tiểu ngạch này (Trừ đi, Bánh
vẽ, Ai? Tôi? Sử ) được viết ra cùng một thời điểm thơ đại
ngạch của ông. Khác chăng chỉ ở chỗ, một đằng được tung vào
sự hoan hô của đám đông, còn đằng kia thì bỏ âm thầm vào
ngăn kéo và khóa lại. Sự khó hiểu chính là ở đấy. Nếu Chế Lan
Viên "vờ vịt" thì đi một nhẽ. Đằng này cả ba loại thơ của ông:
thơ công (thần) dân, thơ riêng tư, thơ bỏ ngăn kéo đều chân
thành như nhau. Bởi vậy, người ta phải gạt bỏ cái lý do Chế
Lan Viên là người tùy thời, người chịu chấp nhận, như Xuân
Diệu thường tuyên bố, nộp một khoản thuế nào đó cho thời
cuộc. Một người cơ hội thường thì không thể hết mình trong
những véctơ ngược chiều nhau như vậy. Cỗ xe thơ ba ngựa hẳn
không thể tiến lên phía trước, nếu con cua thì bò theo hướng
này, con cá măng thì bơi về hướng kia, còn con tôm thì kéo
giật lùi.
Có thể, khi thời đại Phục hưng đi qua, mẫu người hài hòa,
toàn khối không còn nữa, con người bất hài hòa, bị phân chia
xuất hiện. Thời hiện đại là thời xã hội phân hóa cao độ, nên chủ
thể bị phân ly, con người trở nên không còn trùng khít với
chính mình nữa. Như các vị thần cổ đại, con người cũng có
nhiều bộ mặt:
Anh là tháp Bayon bốn mặt
Giấu đi ba còn lại đấy là anh
Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc
Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình
Với một người công dân bình thường đã như vậy, thì với
người nghệ sĩ phức tạp lại thêm một lần phân ly nữa. Cái tôi xã
hội (le moi) muốn tồn tại được, một mặt phải thích ứng, mặt
khác phải ngụy trang. Một trong những thức ngụy trang đó là
sáng tác, và với nghệ sĩ thì đó là hình thức chủ yếu. Vậy phải

chăng, mặt nạ cũng là một bản chất của người nghệ sĩ?
Trong các xã hội hiện đại, đặc biệt là trong xã hội toàn trị,
con người muốn tồn tại được buộc phải phân thân. Nhưng một
sự phân thân có ý thức, cố ý, nhằm mục đích vị lợi như vậy,
bao giờ cũng phải trả giá bằng những thảm kịch nội tâm và,
quan trọng hơn, những xung lực ngược hướng nhau, bởi sự
phân thân, sẽ ước chế lẫn nhau làm giảm thiểu tối đa những
khả năng phát triển. Đôi khi có thể dẫn đến tình trạng thoái lùi
nhân cách. Trường hợp Chế Lan Viên trong Di cảo, theo tôi,
không phải như vậy. Những xung lực ngược hướng trong ông,
như lý tưởng xã hội và lý tưởng thẩm mỹ chẳng hạn, xuất hiện
đồng thời và phát triển đến mức tối đa. Và đặc biệt là chúng
đều được bộc lộ một cách thành thật và hồn nhiên. Đây, có lẽ,
là sự phân thân từ trong vô thức, nên chính chủ thể không biết
đã đành, mà cả các xu hướng khác nhau ấy, tuy tồn tại bên
cạnh nhau, cũng không hề biết đến nhau. Trong trường hợp ấy,
để bảo tồn sinh mệnh cho chủ thể, vô thức nhảy vào can thiệp
và tạo ra cho mỗi thế lực ấy một nhân cách phù hợp với nó.
Các nhân cách này tồn tại song song trong cùng một con người.
Chúng khiến người đó hành động với những vai trò trái ngược
nhau. Đó là bệnh rối loạn đa nhân cách. Hiện tượng này
thường do những chấn thương tâm lý ấu thời dữ dội. Bệnh
nhân được chữa trị bằng việc cho các nhân cách ấy tiếp xúc với
nhau, hòa giải để tiến tới hóa giải nhau. Hóa giải xong, các
nhân cách đối nghịch ấy biến mất, bệnh khỏi. Còn ở nhà thơ,
bệnh được chữa trị bằng một sáng tác đầy những mâu thuẫn
đến bất ngờ.
Theo chỗ tôi được biết, những đợt chỉnh huấn chỉnh
phong đầu những năm 50 đã tác động mạnh đến lớp trí thức
đang tham gia kháng chiến, đặc biệt là những văn nghệ sĩ đã

định hình trước Bốn nhăm. Trong không khí ấy, con người bắt
đầu hoài nghi chính mình, mất niềm tin về những giá trị mà
mình vẫn đinh ninh như nghệ thuật, cá nhân Con người tập
thể nảy sinh. Những giá trị khác như phổ cập, tuyên truyền, tập
thể bắt đầu được khẳng định. Trạng huống cái cũ chưa qua
cái mới chưa mạnh này là nguồn gốc của sự phân thân.
Khẩu hiệu toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
cuốn theo tất cả mọi người. Ngược dòng thác lũ này là không
thể được. Một số người dạt sang bờ bên kia và dinh tê về thành.
Những người ở lại hăng hái đi theo đám đông, tham dự vào
ngày hội của quần chúng, phấn đấu trở thành người cán bộ.
Với những ai chưa tin tưởng lắm cũng phải tin tưởng, ít nhất là
ngoài mặt. Tuy nhiên, cái riêng (quan niệm, lòng tin ) dù nhỏ
bé đến đâu cũng khó mà bị tiêu diệt. Nhưng trước áp lực lớn,
nó ẩn vào bên trong, vào tiềm thức và vô thức dưới dạng một
"bào nang" hay một xung lực "libido". Con người nghệ sĩ này
là "con người trong con người" như cụ Đốt nói.
Sự phân thân, như trên đã nói, có thể diễn ra theo hai con
đường: hữu thức và vô thức. Ca Chế Lan Viên, tôi nghĩ, theo
lối thứ hai. Ở ông, hai con người, anh cán bộ và chàng thi sĩ,
đều chân thành cả. Cái tôi chính thống và phi chính thống tồn
tại song hành và mạnh mẽ, và cất những tiếng nói ngược nhau.
Từ sự phân thân một cách vô thức sâu sắc và triệt để đã dẫn
đến bệnh rối loạn đa nhân cách. Có những thời đoạn, bệnh rối
loạn đa nhân cách rất phát triển, như bệnh xã hội. Đốt đã sớm
nhận ra được điều đó. Có điều trong các tiểu thuyết của mình,
ông tách hai nhân cách đó ra thành hai nhân vật và gọi chúng là
kẻ song trùng (dvoinik). Ví như Ivan Karamazov cao thượng,
trí tuệ lại là kẻ song trùng của Merdiakov đê tiện, nghèo hèn.
Riêng trường hợp Chế Lan Viên, tôi nghĩ, rối loạn đa nhân

cách lại là một động lực sáng tạo của thơ ông, tạo ra đặc thù
nghệ thuật của ông. Bởi, viết, viết mang lại cho thi nhân sức
khỏe tâm thần.
Giải thích hiện tượng Chế Lan Viên một cách chính xác
bằng một lý do duy nhất đúng nào đó thì chỉ có chính Chế sống
lại mới làm được, mà cũng có khi chưa chắc, bởi người sáng
tác thường bị những mãnh lực vô thức đẩy nên tác phẩm nhiều
khi rộng dài hơn ý đồ tác giả. Chỉ biết rằng, trong Di cảo,
người ta thấy sống lại những yếu tố của Điêu tàn, đặc biệt là
của Ánh sáng và Phù sa. Đó là những giằng co nội tâm, những
day dứt về số phận con người. Những câu hỏi lại được đặt ra.
Nhưng khác với Ánh sáng và Phù sa, Chế Lan Viên không đi
đến tận cùng. Có lẽ, lúc này vấn đề đặt ra hẳn không còn có
tính sống còn như trước nữa. Vả chăng, Chế Lan Viên giờ đây
đã trở thành một cây đại thụ, tỏa bóng rợp cả vườn thơ, thậm
chí làm cớm những cây thơ sợ gió nắng, nên việc thoát khỏi sự
cầm tù của bóng mình đã trở nên đặc biệt khó khăn. Không
phải ai cũng thoát được như L.Aragon, thi hào Pháp mà Chế
Lan Viên từng chê trách.
Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm, gọi thơ Chế Lan Viên
là thơ tư tưởng e hẳn chưa chính xác lắm. Thơ tư tưởng phải
như Đăng U Châu Đài Ca (Tiền bất kiến cổ nhân, Hậu bất kiến
lai giả. Niệm thiên địa chi du du. Độc thương nhiên nhi thế hạ)
của Trần Tử Ngang hoặc Xuân Hiểu (Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đề điểu. Dạ lai phong vũ thanh, Hoa lạc tri đa thiểu)
của Mạnh Hạo Nhiên. Còn thơ Chế Lan Viên là thơ trí tuệ, thơ
về tư tưởng.
Tuy nhiên, với tư cách là một nhà thơ, một người làm
nghề thơ, Chế Lan Viên đáng được hưởng một sự kính trọng.
Ông là người bận tâm thơ suốt đời. Nhưng điều đáng nói, ông

không coi làm thơ là một công việc tài tử, một bệ phóng để đi
đến, dẫu theo hành trình đạo học, những mục tiêu phi nghệ
thuật khác, mà là một nghề nghiệp đòi hỏi một thứ lao động cật
lực. Có thể nói, cũng như Nguyễn Tuân trong văn xuôi, Chế
Lan Viên là người lao động thơ hết mình. Ông là một trong
những nhà thơ có tính chuyên nghiệp cao. Chế Lan Viên đọc
rất nhiều, rất rộng để có một trình độ văn hóa quảng bác, một
hiểu biết nghiệp vụ sâu sắc, đồng thời vẫn cần mẫn trên từng
luống chữ. Cũng như Bích Khê, Chế Lan Viên là một nhà kỹ
thuật lớn, một nhà giả kim thuật ngôn từ.
Và chính cái trình độ kỹ thuật thơ thiện nghệ này của Chế
Lan Viên đã làm cho thơ ông trở thành thơ trí tuệ, đạt đến một
văn hóa thơ rất cao, vượt lên lối làm thơ tự phát đang được
nhiều người ủng hộ để trở thành tự giác. Thơ Chế Lan Viên, vì
thế, có sức thuyết phục rất mạnh, có thể ngự trị đầu óc xã hội
trong một thời gian dài dài. Kỹ thuật với những thủ pháp, cách
nói, lề thói, quy tắc của nó, là yếu điểm, nhưng đồng thời cũng
là điểm yếu của Chế Lan Viên. Lệ thường, bất kỳ một ưu điểm
nào được đẩy đến hết nấc sẽ trở nên phiến diện và biến thành
nhược điểm. Nhất là trong nghệ thuật, một lĩnh vực đòi hỏi linh
cảm, bột phát và thần khải.
Nguyễn Du có nói "chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài".
Nếu gọi kỹ thuật là tài thì cái tài ấy phải dựa trên cái tâm. Tuy
nhiên, trong địa hạt thơ, tâm không nên hiểu theo cạnh khía
đạo đức xã hội là lòng thương người, sự đôn hậu mà phải
hiểu theo cạnh khía bản thể luận của triết học, là sự trung thực
với bản thân, sự băn khoăn về số phận con người, tức đạo đức
nghề nghiệp. Mà con người, từ khi trở thành người đến nay
luôn luôn bị đe dọa. Nhân loại cần đến thơ, một thứ xa xỉ
phẩm, có lẽ là như vậy. Điều đó giải thích lý do tại sao cũng

vẫn kỹ thuật ấy mà ở Ánh sáng và Phù sa thì sức lay động của
nó lớn hơn, thậm chí không còn là kỹ thuật nữa mà trở thành
nghệ thuật. Điều đó cũng giải thích lý do tại sao Ánh sáng và
Phù sa là đỉnh cao thơ Chế Lan Viên, một trong những tác
phẩm mốc của thơ Việt Nam thế kỷ XX, và, khi nghiên cứu
hành trình sáng tạo của Chế Lan Viên, cho phép lấy cao điểm
ấy làm vọng tuyến để ngó trước nhìn sau.
Thơ Chế Lan Viên, với tính chất đặc biệt của nó, cũng đặt
ra một vấn đề nữa: kiểu thi sĩ: Theo tôi, thi sĩ có hai loại: một,
thiên về cảm hứng, tùy hứng, thần khải, sự minh thông, hai,
thiên về đầu óc, thủ pháp, trí thông minh. Loại đầu tôi tạm gọi
là người sáng tác, loại sau là người tạo tác. Sáng tác hay tạo
tác chỉ là vấn đề, nói theo cách nói thời thượng, loại hình học
tác giả. Một giả thuyết để làm việc thì đúng hơn, bởi trên thực
tế không có ai thuần sáng tác hoặc thuần tạo tác. Nhưng ở mỗi
thi sĩ đều có nét trội của mình, hoặc nghiêng về cực này, hoặc
nghiêng về cực kia. Chế Lan Viên, mặc dù người đa diện, chủ
yếu vẫn là người tạo tác.
Trường hợp Chế Lan Viên làm tôi thêm hiểu về sự nguy
hiểm của nghề thơ, nhất là với những nhà cách tân. Nếu những
thí nghiệm y học được tiến hành trên cơ thể khỉ, thì những thí
nghiệm thơ chỉ có thể được tiến hành trên chính sinh mệnh của
nhà thơ. Cho nên sáng tạo là một "nghề nguy hiểm", và người
sáng tạo, như Nietzches nói, phải học cách sống nguy hiểm.
Hành trình thơ Chế Lan Viên đi gần trọn thế kỷ. Và, quan
trọng hơn, nó mang trên mình những dấu ấn của thế kỷ. Đó là
thơ đi về hướng tạo tác. Phải chăng thơ bị ảnh hưởng của sự
phát triển bão táp của công nghệ, sự vùng dậy của ý thức xã hội
chống lại những xu hướng vô thức trong con người. Có điều,
nghệ thuật, nhất là thơ, hình như có con đường riêng của nó.

Đ.L.T
Bản quyền Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật 1973 - 2005
Các website khác khi trích dẫn tài liệu ở đây phải ghi
rõ xuất xứ là www.vanhoanghethuat.org.vn

×