Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH VÀ CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (185.28 KB, 19 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA CHỦ NGHĨA
DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH VÀ CHỦ NGHĨA DUY
LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: NGÔ PHAN XUÂN THI
(STT: 96)
Khoá 23 – Nhóm 11 – Đêm 1
TPHCM , tháng 12/ 2014
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử gần 3000 năm. Sự phát
triển những tư tưởng triết học của nhân loại là một quá trình không đơn giản
Loài người với hàng nghìn năm phát triển của mình đã là nhân chứng, tác nhân
cho sự đổi thay hàng ngày hàng giờ của chính thế giới mình tồn tại. Đặc biệt ở
thời Phục Hưng – cận đại, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm và
chủ nghĩa duy lý tư biện rất rõ rệt. Cuộc đấu tranh giữa con người với thiên
nhiên, giữa con người với con người đã và đang là động lực thúc đẩy thế giới
ngày càng phát triển.Triết học với vai trò một hình thái ý thức xã hội là học
thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của
con người với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên xã
hội và tư duy cũng không nằm ngoài cuộc đấu tranh gay gắt ấy.
Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm là một lý thuyết về trí thức với đặc điểm nhấn
mạnh vai trò của kinh nghiệm. Chủ nghĩa duy lý nhấn mạnh vai trò của lý trí con
người. Bất kỳ hệ thống triết học nào cũng đều xuất phát từ các vấn đề cơ bản của
triết học, từ đó xây dựng toàn bộ hệ thống trên cơ sở giải quyết các vấn đề đó.
Cũng như sự phong phú của thế giới cuộc đấu tranh trong triết học diễn ra với
nhiều hình thức, mức độ khác nhau, cuộc đấu tranh này vừa là cuộc đấu tranh


giữa tư tưởng, thế giới quan đồng thời cũng là cuộc đấu tranh của một bộ môn
khoa học. Trên con đường đến với chân lý ấy những nhà triết học, những trường
phái triết học không những đấu tranh với nhau mà gay gắt hơn còn phải đấu tranh
với chính mình. Trong tiểu luận này tôi sẽ làm sáng tỏ cuộc đấu tranh của hai
khuynh hướng triết học Duy vật và Duy tâm trong thời kỳ phục hưng cận đại.
1
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ HÌNH
THÀNH CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM VÀ
CHỦ NGHĨA DUY LÝ – TƯ BIỆN
1. Hoàn cảnh lịch sử ở Phương Tây thời Phục Hưng – cận đại
Thời Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ xã hội phong
kiến sang xã hội tư bản. Tính chất quá độ đó biểu hiện trên tất cả các mặt của đời
sống kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá tư tưởng thời kì này.
Về kinh tế: phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang hình thành gắn liền với
phong trào Phục hưng văn hóa đã hình thành từ Ý. Sau Ý, chủ nghĩa tư bản được
hình thành ở Anh và các nước Tây Âu khác, nó đã tạo điều kiện thuận lợi cho
phong trào văn hóa Phục Hưng lan tỏa đặc biệt là công – thương nghiệp và các
thị trường tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển vững chắc. Điều này đã dẫn đến
sự phân hóa giai cấp thành tư sản và vô sản. Cùng với đó là sự phân hóa giai cấp
ngày càng rõ rệt trong các cộng đồng dân cư. Sự biến đổi điều kiện kinh tế - xã
hội góp phần đẩy mạnh sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên.
Về xã hội: sự phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt. Tầng lớp tư sản xuất hiện gồm
các chủ xưởng công trường thủ công, xưởng thợ, thuyền buôn Vai trò và vị trí
của họ trong kinh tế và xã hội ngày càng lớn.
Về văn hoá, tư tưởng: Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội, khoa học kĩ
thuật và tư tưởng thời kì Phục hưng cũng đạt được sự phát triển mạnh mẽ. Các
nhà tư tưởng thời Phục hưng đã phê phán mạnh mẽ các giáo lý Trung cổ.
Trong thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực triết học duy vật,
vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học Trung cổ. Cuộc đấu
tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện

dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập
với những lập luận kinh viện.
Thời kì cận đại là thời kì phát triển rực rỡ của Tây Âu trên tất cả các mặt của đời
sống xã hội. Đó là sự khẳng định phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, của
khoa học và tư tưởng, trong đó có chủ nghĩa duy vật triết học, nhưng với những
2
đặc điểm mới làm các ngành khoa học tự nhiên ra đời dẫn đến quan điểm cơ học
và phương pháp thực nghiệm chỉ đạo hoạt động thực tiễn và nhận thức của công
nhân.
Cuối thế kỉ 18, ở Đức vẫn duy trì chế độ phong kiến phân quyền, nhà nước
phong kiến phổ đầy quyền lực cản trở Đức tiến lên chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư
sản Đức ít ỏi bị phân tán, yếu về kinh tế, nhược về chính trị, có đời sống tinh thần
phong phú…muốn nhưng không thể làm cách mạng được, quần chúng muốn làm
cách mạng nhưng không có lực lượng lãnh đạo.
Triết học phương Tây thời Phục Hưng – cận đại có những đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, thể hiện thế giới quan duy vật máy móc và quan điểm tự nhiên thần
luận của tư sản đang vươn lên.
Thứ hai, toát lên tinh thần khai sáng và chủ nghĩa nhân đạo tư sản, là ngọn cờ lý
luận của tư sản để tập hợp quần chúng làm cách mạng xây dựng chủ nghĩa tư
bản.
Thứ ba, tìm kiếm những phương pháp nhận thức mới để khắc phục phương pháp
kinh viện, xây dựng triết học và khoa học mới.
Thứ tư, cuối thời cận đại, khi đào sâu nhân sinh quan nhân đạo tư sản, khắc phục
thế giới quan duy vật máy móc và phương pháp luận siêu hình của các trường
phái triết học trước đó đã làm xuất hiện triết học cổ điển Đức, bản lề của triết học
phương Tây cận và hiện đại.
2. Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý- tư
biện
Các hình thức sơ khởi của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm bao gồm các công
trình nghiên cứu về nhận thức luận của một số nhà triết học như Aristotle,

Aquinas và Bacon. Aristotle đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quy nạp dựa
trên kinh nghiệm. Khoảng một thế kỷ sau đó, phản ứng chống lại cách tiếp cận
duy lý và hết sức suy đoán của Plato, Aristotle đã nhấn mạnh tầm quan trọng của
những gì các giác quan thu nhận được, ông dùng thuật ngữ triết học tự nhiên để
gọi thế giới tự nhiên sau này được biết là lập luận quy nạp để đi đến các phạm trù
và nguyên lý dựa trên dữ liệu giác quan. Ông còn khẳng định nguyên lý cốt lõi
3
của chủ nghĩa kinh nghiệm là tri thức con người về thực tại được đặt nền móng
bằng trải nghiệm từ các giác quan.
Parmenides được cho là nhà triết học duy lý đầu tiên, người đã tranh nghĩ thực sự
có xảy ra là không thể hồ nghi, mà việc suy nghĩ phải có đối tương suy nghĩ, do
dó, một sự vật phải thực sự tồn tại. Zeno là học trò của ông, đã tranh luận rằng sự
vận động là bất khả thi, và chứa đựng sự mâu thuẫn. Plato cũng bị ảnh hưởng bởi
Parmenides, nhưng ông đã kết hợp chủ nghĩa duy lý với một dạng của chủ nghĩa
hiện thực. Chủ nghĩa duy lý hiện đại bắt đầu với Réne Descartes(1596-1690).
Nghiền ngẫm về bản chất của trải nghiệm tri giác, cũng như những khám phá
khoa học trong sinh lý học và quang học, Descartes đã đi đến quan điểm rằng
chúng ta trực tiếp ý thức được ý nghĩ, chứ không phải sự vật. Quan điểm này làm
nảy sinh ba vấn đề:
a. Có phải các ý nghĩ là bản sao thực thụ của những sự vật, sự việc mà chúng đại
diện? Cảm giác không phải là sự tương tác trực tiếp giữa các vật thể và ý thức
của ta, mà nó là quá trình sinh lý bao hàm sự đại diện.
b. Ta vẫn chưa rõ làm thế nào những vật thể tự nhiên như bàn, ghế hoặc ngay cả
những quá trình sinh lý trong não bộ có thể sản sinh ra những thứ thuộc về tinh
thần như ý nghĩ.
c. Nếu tất cả những gì chúng ta ý thức được chỉ là ý nghĩ, vậy làm sao ta có thể
biết được có thứ gì khác tồn tại ngoài ý nghĩ ra?
Descartes nỗ lực giải quyết vấn đề cuối cùng bằng lý luận. Ông đã bắt đầu bằng
một nguyên lý mà ông nghĩ là không thể bắt bẻ hiệu quả được: Tôi "biết suy
nghĩ", do đó tôi "tồn tại". Từ nguyên lý này, Descartes tiến hành xây dựng một

hệ thống hoàn chỉnh về kiến thức.
4
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT
KINH NGHIỆM ANH VÀ CHỦ NGHĨA DUY LÝ – TƯ
BIỆN
1. Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh (Bacon)
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Những thay đổi mang tính bước ngoặt ở nước Anh về kinh tế, chính trị, xã hội
cuối thế kí XVI đến trước cách mạng tư sản Anh đã tạo ra xu hướng cải cách đối
với các vấn đề xã hội ở tư tưởng cải cách khoa học và dự án Đại phục hồi khoa
học của Becon.
Ở Anh phong trào chống truyền thống kinh viện chủ nghĩa có tính chất quyết liệt,
triết học Anh phát triển theo duy vật kinh nghiệm chủ nghĩa. Đặc biệt là Becon
viết “Công cụ mới” để đặt một phong trào khoa học mới. Để hệ thống hóa kinh
nghiệm thành khoa học, Aristote dùng phương pháp quy nạp. Đối lập với suy
luận hình thức của Aritote đi từ những mệnh đề, quy nạp của Bacon đi từ cá thể
lên đại thể bằng phương pháp làm những bảng ghi kinh nghiệm. Đây là tư tưởng
duy vật dựa vào thực tế khách quan mà xây dựng khoa học nhưng máy móc thô
sơ không đề cao được vai trò cần thiết của lý luận, Bacon không chú ý đến vai trò
của toán pháp trong khoa học tự nhiên. Vai trò này được đề cao bởi Hobbes.
Bacon và Hobbes là nguồn gốc của tư tưởng duy vật máy móc cận đại nhưng có
tính chất khoa học.
Bên cạnh người sáng lạp Becon còn có những tác giả như Toma Hopxo, Locke.
1.2. Nội dung chính chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh
Becon đã có những tư tưởng cơ bản sau:
1.2.1. Quan điểm định hướng triết học và khoa học mới
“Tri thức là sức mạnh” và “lý luận thống nhất với thực tiễn” là cơ sở để Becon
xây dựng triết học và khoa học mới.
Triết học mới cần phải được coi là khoa học của mọi khoa học.
Mục đích của triết học và khoa học mới là xây dựng tri thức lý luận chặt chẽ,

khắc phục lòng tin mù quáng.
5
Nhiệm vụ tối thượng là tăng cường quyền lực tinh thần để thống trị giới tự nhiên,
chấn hưng đất nước, phục vụ lợi ích cho con người. Nhiệm vụ của triết học mới
là đại phục hồi các khoa học, bằng cách cải tạo tri thức hiện có, xóa bỏ những
sai lầm chủ quan, sử dụng hiệu quả tư duy khoa học để khám phá trật tự của thế
giới khách quan, xây dựng hình ảnh xác thực về thế giới.
Nhiệm vụ của khoa học mới là khám phá các quy luật của thế giới.
Bêcon định nghĩa (theo nghĩa rộng) triết học là tổng thể các tri thức của con
người về thượng đế, tự nhiên và bản thân con người. vì vậy ông chia hê thống
triết học thành 3 học thuyết:
- Học thuyết về thượng đế
- Học thuyết về giới tự nhiên, ông đồng nhất nó với tri thức về toàn bộ giới
tự nhiên
- Học thuyết về con người
1.2.2. Quan niệm về thế giới và con người
Thế giới tồn tại khách quan, đa dạng và thống nhất, được lý giải nhờ vào các
quan niệm về vật chất, hình dạng, vận động…Vật chất là các phần tử rất nhỏ, có
tính chất khác nhau. Hình dạng là nguyên nhân làm cho các sự vật trở thành khác
nhau, là lý do đầy đủ để sự vật xuất hiện, là bản chất chung của các sự vật cùng
loại, là quy luật chi phối sự vận động của chúng. Vận động là bản năng, sinh khí
của sự vật, là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất. Vật chất, hình dạng, vận
động thống nhất với nhau nên nhận thức bản chất của sự vật là khám phá ra hình
dạng, là vạch ra các quy luật vận động chi phối chúng.
Con người là sản phẩm của thế giới, nó bao gồm thể xác và linh hồn đều được
cấu tạo từ vật chất. Linh hồn giống như không khí hay lửa, biết cảm giác, tồn tại
trong bộ óc, vận động theo dây thần kinh và các mạch máu của cơ thể.
1.2.3. Quan niệm về nhận thức, phương pháp nhận thức
Quá trình nhận thức gồm các bước:thế giới khách quan, tư duy lý tính, tri thức về
thế giới khách quan.

Cảm giác, kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức. Khoa học phải là
khoa học thực nghiệm sử dụng tư duy tổng hợp và phương pháp quy nạp. Tri
thức khoa học luôn mang tính khách quan.
Lý luận về ảo tưởng: Quá trình nhận thức do bị chi phối bởi các ảo tưởng chủ
quan nên mắc sai lầm. Để khắc phục các ảo tưởng phải khách quan hóa hoạt
6
động nhận thức bằng cách tiếp cận trực tiếp giới tự nhiên bằng quan sát, thực
nghiệm, hoàn thiện công cụ nhận thức và nhân cách cá nhân, sử dụng tư duy tổng
hợp và phương pháp quy nạp khoa học.
Phương pháp nhận thức khoa học: Tư duy cũ như giáo điều, hời hợt dùng
phương pháp “con nhện” và phương pháp “con kiến”. Tư duy mới như khoa học
thực nghiệm phải sử dụng phương pháp “con ong”. Becon đưa ra phương pháp
đánh dấu (+,-), sau đó Milo xây dựng 4 phương pháp là tương đồng, khác biệt,
đồng biến, phần dư để khám phá ra mối liên hệ nhân quả là quy luật chi phối các
hiện tượng trong thế giới khách quan. Phương pháp Becon – Milo đòi hỏi nhận
thức phải trải qua 4 bước:
Bước 1, bằng cảm tính, qua quan sát, thực nghiệm tiếp cận các hiện tượng trong
thế giới, thu các tài liệu kinh nghiệm.
Bước 2, so sánh, tổng hợp tài liệu kinh nghiệm để xây dựng sự kiện khoa học.
Bước 3, bằng quy nạp khoa học, khái quát các sự kiện khoa học, phát hiện ra mối
liên hệ nhân quả, xây dựng giả thuyết khoa học (lý giải các hiện tượng đang
nghiên cứu), từ giả thuyết này rút ra các hệ quả tất yếu.
Bước 4, bằng những quan sát, thực nghiệm mới, kiểm tra các hệ quả đó, nếu
đúng thì giả thuyết khoa học trở thành nguyên lý, định luật tổng quát (của khoa
học thực nghiệm), còn nếu sai thì chúng ta lập lại giả thuyết mới.
1.2.4. Quan niệm về chính trị - xã hội:
Xây dựng nhà nước tập quyền mạnh để chống lại mọi đặc quyền, đặc lợi của tầng
lớp quý tộc bảo thủ. Phát triển một nền công – thương nghiệp dựa trên sức mạnh
của tri thức khoa học và tiến bộ của kỹ thuật. Cải tạo xã hội bằng con đường khai
sang (khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo) mà không cần sự đấu tranh của

nhân dân.
2. Chủ nghĩa duy lý- tư biện (Descartes)
2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Từ sự phát triển của khoa học mà mở đầu là triết lý khoa học của Becon đã mở ra
thời kì triết học hiện đại mà đại diện đầu tiên là Descartes. Descartes là nhà toán
học người Pháp kiên quyết dựa vào sự tự trị của cá nhân và không chịu chấp
nhận những lời giải triết học mang tính chính thống lúc bấy giờ. Ông nghiên cứu
sự vận hành bên trong của đầu óc trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài và
7
nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa tri giác và suy tưởng. Phương pháp hoài nghi
có hệ thống của ông có tính nội quan và tự truyện nhưng cũng hết sức khách
quan và logic. Bằng cách áp dụng một kỹ thuật hoài nghi khoa học triệt để, ông
nhận ra rằng mình có thể phá hủy niềm tin của mình về mọi thứ. Hoài nghi kiểu
Descartes là tích lũy và tàn nhẫn. Nghi ngờ là một loại tư duy nên cố nghi ngờ
rằng ta đang tư duy là điều không ổn. Với sự thức nhận ấy, Descartes chứng
minh rằng con người là thực thể nhị nguyên kì lạ. Thuyết hoài nghi của Descartes
là một loại trò chơi triết học được ông dung để xác lập đâu là nhận thức chắc
chắn. Triết học Descartes mang lại lòng kính trọng mới mẻ với tín điều rằng
nhận thức đích thực chỉ có thể rút ra từ lý tính với câu “Tôi tư duy nghĩa là tôi
tồn tại”. Sau Descartes, các triết gia như Spinoza với Thuyết nhất nguyên,
Leibniz với Đơn tử luận đã nối tiếp và phát triển rực rỡ, mở đường cho phong
trào khai sáng.
2.2. Nội dung chính CN chủ nghĩa duy lý- tư biện:
2.2.1. Quan điểm định hướng triết học:
Triết học mới phải là toàn bộ tri thức về giới tự nhiên và xã hội (theo nghĩa
rộng). Siêu hình học là cơ sở thế giới quan của con người (theo nghĩa hẹp).
Mục đích là làm sáng tỏ khả năng nhận thức vô tận của con người. Mang lại các
nguyên tắc phương pháp luận giúp khoa học đạt được tri thức khoa học.
Nhiệm vụ là khắc phục chủ nghĩa hoài nghi, nâng cao trình độ tư duy lý luận của
con người, giúp khoa học khám phá ra các quy luật của giới tự nhiên (chân lý),

chinh phục giới tự nhiên, phục vụ lợi ích con người.
Triết học của Descartes bao gồm siêu hình học và khoa học (vật lý học).
2.2.2. Siêu hình học
Trong siêu hình học của Descartes nổi bật những tư tưởng sau:
- “Nghi ngờ phổ biến” – nguyên tắc phương pháp luận của triết học Descartes:
Lý tính là cơ sở chân lý, để đạt chân lý phải nghi ngờ phổ biến, tức nghi ngờ mọi
cái, kể cả cái được cho là chân lý. Một cái tồn tại chỉ có thể trở thành chân lý khi
được phán xét dưới “tòa án” lý tính để nó tự bào chữa cho sự tồn tại của chính
mình.
8
- “Tôi suy nghĩ, vậy tôi tồn tại” – nguyên lý cơ bản của triết học Descartes:
“Dù tôi nghi ngờ về sự tồn tại của mọi cái nhưng tôi không thể nghi ngờ về sự
tồn tại của chính mình, vì nếu tôi không tồn tại thì làm sao tôi có thể nghi ngờ
được. Mà nghi ngờ là suy nghĩ, nên tôi suy nghĩ, vậy tôi tồn tại. Tôi tồn tại với
cương vị là người suy nghĩ, nghĩa là suy nghĩ của tôi là có thật. Nó có sự tồn tại,
sự tồn tại đó là không thể nghi ngờ, và cũng không thể bác bỏ được”. Ông xây
dựng hệ thống siêu hình học là học thuyết về thượng đế, giới tự nhiên và con
người để từ đó rút ra các nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo hoạt động bản
chất của linh hồn.
- Lý luận về Thượng đế, giới tự nhiên và con người:
Trình bày các chứng minh về sự tồn tại của Thượng đế.
Coi vạn vật trong giới tự nhiên được tạo thành từ 1 trong 2 thực thể: tinh thần phi
vật chất có thuộc tính biết suy nghĩ, tạo thành mọi ý nghĩ, quan niệm, tư tưởng…
và vật chất phi tinh thần có quãng tính, tạo thành các sự vật có đặc tính không
gian, thời gian.
Coi con người là sự vật đặc biệt vừa có linh hồn bất tử (tạo thành từ thực thể tinh
thần) vừa có cơ thể khả tử (tạo thành từ thực thể vật chất). Sinh vật chưa hoàn
thiện nhưng có khả năng vươn đến hoàn thiện. Bậc thang trung gian giữa Thượng
đế và Hư vô. Vừa cao siêu, không mắc sai lầm, vừa thấp hèn, có thể mắc sai lầm.
- Lý luận về linh hồn, nhận thức của con người:

Linh hồn bắt nguồn từ Thượng đế bao gồm 2 phần: Lý trí là khả năng nhận thức
sáng suốt, đúng đắn (lý tính) và ý chí là khả năng tự do chọn lựa, phán quyết, cội
nguồn dắt dẫn linh hồn sa vào sai lầm, nhầm lẫn (từ cảm tính).
Linh hồn chứa 2 loại tư tưởng: tư tưởng bẩm sinh luôn đúng đắn (hoàn thiện) và
tư tưởng phái sinh có thể sai lầm (không hoàn thiện) do linh hồn tự nghĩ ra hay
đưa từ bên ngoài vào (khi linh hồn tiếp xúc với thế giới xung quanh).
Nhận thức là hoạt động bản chất của linh hồn: nhận thức là nghi ngờ, là tư duy
(dấu hiệu không hoàn thiện vươn tới sự hoàn thiện). Đó là quá trình lý trí xâm
nhập vào chính mình, khám phá ra tư tưởng bẩm sinh trong mình, sử dụng chúng
để tiếp cận thế giới.
9
Trực giác là hình thức nhận thức tối cao của linh hồn lý tính: thế giới mang lại
những tư tưởng rõ ràng, rành mạch, hiển nhiên (bẩm sinh) hay nắm lấy tư tưởng
có thể khẳng hoặc phủ định. Là lý trí khúc chiết, là điểm khởi đầu của nhận thức.
Do không khẳng định hay phủ định điều gì cả, nên nó không mắc sai lầm.
- Các nguyên tắc phương pháp luận nhận thức: siêu hình học đưa ra các nguyên
tắc chỉ đạo lý trí trong hoạt động nhận thức khoa học nhằm khám phá ra chân lý.
Chỉ coi là chân lý những gì rõ ràng, rành mạch, không gợn một chút nghi ngờ
nào cả (bằng trực giác). Phải phân chia đối tượng phức tạp thành các bộ phận
đơn giản cấu thành để tiện lợi trong việc nghiên cứu. Quá trình nhận thức phải
xuất phát từ những điều đơn giản, sơ đẳng nhất dần dần đến những điều phức tạp
hơn. Phải xem xét toàn diện mọi dữ kiện, tài liệu để không bỏ sót một cái gì
trong quá trình nhận thức.
2.2.3. Khoa học
- Vật lý học: vật chất bao gồm các hạt nhỏ, mịn, được phân chia đến vô tận.
Quãng tính (không gian, thời gian) và vận động là thuộc tính gắn liền với những
vật thể vật chất. Không gian vật chất choán đầy vũ trụ. Vận động cơ học của vật
thể có nguồn gốc từ cái hích của Thượng đế, vận động của vũ trụ được bảo toàn.
Dựa trên quan điểm cơ học, Descartes xây dựng mô hình vũ trụ.
- Toán học: là khoa học chính xác, rõ ràng, rành mạch nhất. Xây dựng những cơ

sở biện chứng cho toán học hiện đại. Phương pháp diễn dịch toán học thể hiện rõ
4 nguyên tắc mà lý trí phải tuân theo để đạt chân lý.
- Sinh học: sự hình thành, phát triển của giới thực và động vật mang tính tự
nhiên. Cơ thể sinh vật là các cổ máy có sẵn cơ chế phản xạ, khi hoạt động nó sẽ
sinh ra linh hồn thực và động vật khả tử. Con người là một cổ máy – hệ thống
vừa có thể xác khả tử gắn liền với linh hồn lý tính bất tử. Thể xác là khí quan vật
chất của linh hồn (đời sống tinh thần), linh hồn là hoạt động tinh thần của thế
xác, Y – sinh học sẽ cải tạo thể xác và đời sống tinh thần (linh hồn) để con người
ngày càng hoàn thiện hơn.
10
CHƯƠNG 3: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA
CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH VÀ CHỦ
NGHĨA DUY LÝ – TƯ BIỆN
1. Sự tương đồng giữa chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và chủ nghĩa
duy lý- tư biện
Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và chủ nghĩa duy lý tư biện phương Tây
thời cận đại đều nằm trong chuỗi phát triển của triết học phương Tây thời Phục
Hưng – cận đại, đều phản ánh sự thay đổi lớn trong đời sống kinh tế, chính trị, tư
tưởng, xã hội của xã hội Tây Âu lúc bấy giờ và đều đi tìm phương thức nhận
thức mới để giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học. Cả hai đòi hỏi phải xây
dựng lại cơ sở cho triết học mới dựa trên việc ủng hộ khoa học, coi khoa học là
chìa khóa giúp con người làm chủ tự nhiên.
Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm được đại diện là Bacon và chủ nghĩa duy lý tư
biện được đại diện là Descartes. Mặc dù sự khác biệt giữa Descartes và Bacon có
rất nhiều nhưng cũng không ít điểm giống nhau. Hai ông đều rao truyền sự phế
bỏ mọi phương pháp cổ truyền và mọi kết quả của các công trình nghiên cứu
trước. Cả hai đòi hỏi một tiêu chuẩn chính xác mới vì có quá nhiều ví dụ về lý
luận tuỳ tiện và quan sát chủ quan trên con đường khoa học trong quá khứ. Cả
hai đều thể hiện thế giới quan của giai cấp tư sản chống lại thế giới quan của giai
cấp phong kiến, chống lại triết học kinh viện.

Cũng có một niềm tin chung giữa 2 người là mối hoài nghi về "sự dối gạt của
giác quan". Thêm vào đó, họ tin vào sự lược giảm những vấn đề thành những
thành phần nhỏ nhất, đơn giản nhất như một nguyên tắc tổng quát. Descartes và
Bacon mỗi người tự thấy mình chủ yếu trong vai trò hiển dương khoa học và do
đó họ đóng góp rất ít vào bất cứ lãnh vực riêng biệt nào đó trong khoa học thực
nghiệm. Ngoài ra cả hai đều thể hiện hạn chế qua phương pháp luận siêu hình.
Một lưu ý quan trọng là dù phương pháp của Bacon và Descartes khác nhau, khi
các mẫu mã của họ được tổng hợp thành một, chúng ta có một sự đoán trước về
toán học thực nghiệm hiện đại. Hiện nay, ta có thể thấy khi gộp chúng lại với
11
nhau, phương pháp của Rene Descartes và Francis Bacon là phôi thai của phương
pháp khoa học hiện đại.
Cuối cùng, cả hai đều là những thiên tài thăng tiến các lãnh vực của khoa học mà
sau đó trở nên điều kiện phải có để tiến bộ.
2. Sự khác biệt giữa chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và chủ nghĩa duy
lý- tư biện
Khác biệt rõ ràng nhất trong phương pháp luận của Descartes và Bacon liên hệ
đến quá trình lý luận:
- Descartes bắt đầu với những nguyên lý rút ra bằng trực giác làm tiền đề trong
phương pháp luận diễn dịch chuẩn. Phương pháp của Descartes là phương thức
từ trên đi xuống.
- Bacon bắt đầu bằng quan sát duy nghiệm, áp dụng quy nạp pháp suy luận ra
những định lý cao hơn. Phương pháp của Bacon là từ dưới đi ngược lên .
Sự khác biệt này rõ rệt đến nỗi có những lúc Bacon chỉ trích nặng nề phương
pháp của Descartes là thí dụ điển hình cho những gì sai lầm trong khoa học.
Một khác biệt cốt yếu trong học trình của 2 người là Descartes am hiểu một cách
quán triệt về toán học và Bacon thì không chuyên về toán. Descartes được ghi
nhận về những thành công trong đại số và hình học và Bacon thì ít đề cập về toán
vì ông chuyên môn về luật. Dựa vào học trình của Descartes, nó có vẻ rõ rệt rằng
cái méo mó nghề nghiệp của ông có thể thấy trong các nhà toán học, ông

nói :"các toán học gia đã có thể tìm ra vài chứng minh, vài vài lý do chắc chắn và
minh bạch", vì vậy, ông quyết định "bắt đầu với những gì họ đã làm". Dù sự
nghiệp xuất chúng của Bacon, ông ta đã thực sự rất thực dụng chủ nghĩa trong
việc theo đuổi một mẫu mã tìm thấy trong cơ khí học. Nghệ thuật cơ học đặt nền
tảng trên thiên nhiên và ánh sáng của kinh nghiệm.
Vì sự quan sát này ông đã bị ấn tượng sâu xa về sự khám phá ngành in ấn, thuốc
súng và từ lực. Trong quan điểm "không đế quốc, giáo phái hay thiên thể nào có
vẻ áp đặt quyền lực và ảnh hưởng trong công việc của con người hơn những
khám phá cơ học này".
Quan niệm về cảm giác thì:
12
- Becon cho rằng cảm giác, kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức.
Khoa học thực sự phải biết sử dụng tư duy tổng hợp và phương pháp quy nạp
khoa học để khái quát các dữ kiện do kinh nghiệm mang lại nhằm khám phá ra
các quy luật, bản chất của thế giới khách quan, đa dạng và thống nhất.
- Descartes thì cho rằng cảm giác không đáng tin cậy. Ông đề cao vai trò của lý
trí con người. Bằng các bước logic đã sử dụng phương pháp diễn dịch ra mọi đối
tượng kiến thức có thể có.
Về phương pháp luận siêu hình:
- Becon cho rằng cơ sở của chân lý là cảm tính và để nhận thức đúng cần phải tẩy
rửa các ảo tưởng.
- Descartes chủ trương rằng cơ sở của chân lý là lý tính và để nhận thức đúng cần
phải nghi ngờ phổ biến, là nghi ngờ mang tính phương pháp luận để không mắc
sai lầm và có được niềm tin chắc chắn trong nhận thức.
Về quan niệm về thế giới và con người:
- Becon cho rằng thế giới tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào cảm
tính của con người. Tính đa dạng của thế giới chỉ có thể được lý giải một cách
đúng đắn và đầy đủ nhờ vào quan niệm về vật chất, về hình dạng, về vận động…
Con người là một sản phẩm của thế giới bao gồm thể xác và linh hồn. Ngoài việc
thừa nhận sự hiện hữu của linh hồn con người, Becon còn thừa nhận sự hiện hữu

của linh hồn thực vật và linh hồn động vật tồn tại trong cơ thể động vật và thực
vật.
- Descartes thì có quan điểm “Tôi suy nghĩ, tức là tôi tồn tại”. Từ đó ông kết
luận sự tồn tại của suy nghĩ là một chân lý. Để chứng minh sự tồn tại thật sự của
thể xác cần dựa vào sự tồn tại của Thượng đế.Vạn vật trong giới tự nhiên được
tạo thành từ hai thực thể tồn tại độc lập nhau là thực thể tinh thần phi vật chất và
thực thể vật chất phi tinh thần. Riêng con người là một sự vật đặc biệt được tạo
thành từ hai thực thể trên.
Về quan niệm sự hình thành khái niệm và kiến thức của con người:
- Chủ nghĩa kinh nghiêm cho rằng ý nghĩa kinh nghiệm là nguồn gốc của tất cả
các khái niệm và kiến thức của chúng ta. Theo quan điểm của các nhà kinh
13
nghiệm chủ nghĩa, để cho một tri thức bất kỳ có thể được suy luận hoặc suy diễn
một cách đúng đắn, tri thức đó phải bắt nguồn từ trải nghiệm giác quan của ta.
Họ phủ nhận rằng con người có các ý niệm bẩm sinh hay cái gì đó nhận biết
được mà không phải tham chiếu tới trải nghiệm.
- Chủ nghĩa duy lý cho rằng một số khái niệm và kiến thức của chúng ta có được
là độc lập với ý nghĩa kinh nghiệm. Trong lý luận về Linh hồn của Descartes cho
rằng: Do bắt nguồn từ Thượng đế mà trong linh hồn con người có chứa sẵn một số
tư tưởng hoàn thiện mang tính bẩm sinh luôn đúng đắn, được sản sinh ra cùng lúc
với sự sinh ra “Tôi”. Ngoài ra, trong linh hồn con người còn có một số tư tưởng
khác không hoàn thiện có thể sai lầm. Đó là các tư tưởng được linh hồn tự nghĩ ra,
hay các tư tưởng được du nhập từ bên ngoài vào khi linh hồn tiếp xúc với thế giới
xung quanh.
14
KẾT LUẬN
Qua những nội dung về chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý tư
biện, ta có thể nhận thấy được nhiều điểm nổi bật. Chủ nghĩa duy vật kinh
nghiệm mà đại diện là Becon đã thể hiện được những quan điểm về triết học,
khoa học, con người, nhận thức, phương pháp nhận thức, chính trị - xã hội. Chủ

nghĩa duy lý tư biện thể hiện qua quan điểm triết học, siêu hình học, khoa học.
Cả hai đều thể hiện thế giới quan của giai cấp tư sản chống lại thế giới quan của
giai cấp phong kiến, chống lại triết học kinh viện. Ngoài ra cả hai đều thể hiện
hạn chế qua phương pháp luận siêu hình.
Sự khác biệt của hai tư tưởng được thể hiện rõ nhất trong phương pháp luận.
Descartes am hiểu một cách quán triệt về toán học còn Bacon thì không chuyên
về toán. Becon cho cảm giác là nguồn gốc của mọi tri thức còn Descartes cho
rằng cảm giác là không đáng tin cậy. Về phương pháp luận siêu hình, quan niệm
về thế giới và con người, sự hình thành khái niệm và kiến thức ,cũng thể hiện sự
khác biệt của 2 tư tưởng này.
15
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Bùi Văn Mưa, 2011, Triết học – Phần I – Đại cương về lịch sử triết học, Lưu
hành nội bộ.
2. chủ nghĩa
kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý.
3. Slide bài giảng của TS. Bùi Văn Mưa, chương 3.
4. Phạm Thị Nương, Chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý trong triết học Tây
Âu thế kỷ XNII, Luận văn ThS.
5. Chủ nghĩa kinh nghiệm, ngh
%C4%A9a_kinh_nghi%E1%BB%87m
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA CHỦ NGHĨA
DUY VẬT KINH NGHIỆM VÀ CHỦ NGHĨA DUY LÝ – TƯ BIỆN 2
1. Hoàn cảnh lịch sử ở Phương Tây thời Phục Hưng – cận đại 2
2. Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý- tư biện 3
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH
VÀ CHỦ NGHĨA DUY LÝ – TƯ BIỆN 5

1. Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh (Bacon) 5
1.1. Quá trình hình thành và phát triển 5
1.2. Nội dung chính chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh 5
1.2.1. Quan điểm định hướng triết học và khoa học mới 5
1.2.2. Quan niệm về thế giới và con người 6
1.2.3. Quan niệm về nhận thức, phương pháp nhận thức 6
1.2.4. Quan niệm về chính trị - xã hội 7
2. Chủ nghĩa duy lý- tư biện (Descartes) 8
2.1. Quá trình hình thành và phát triển 8
2.2. Nội dung chính CN chủ nghĩa duy lý- tư biện 8
2.2.1. Quan điểm định hướng triết học 8
2.2.2. Siêu hình học 9
2.2.3. Khoa học 10
CHƯƠNG 3: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA CHỦ NGHĨA DUY
VẬT KINH NGHIỆM ANH VÀ CHỦ NGHĨA DUY LÝ – TƯ BIỆN 11
1. Sự tương đồng giữa chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và chủ nghĩa duy
lý- tư biện 11
2. Sự khác biệt giữa chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và chủ nghĩa duy lý- tư
biện 12
KẾT LUẬN 15

×