Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

Tài liệu Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy giải toán có lời văn lớp 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (274.68 KB, 19 trang )



TÊN ĐỀ TÀI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 1
1
Nghệ An 4/2013
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
PHẦN I: MỞ ĐẦU 3
PHẦN II: NỘI DUNG 5
Bước 1: Hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề toán , phân -ch đề và 0m cách giải 6
Bước 2: Trình bày bài giải 8
PHẦN III: KẾT LUẬN 18
2
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Trong chương trình toán tiểu học, giải toán có lời văn được đưa vào dạy lớp
1 từ đầu học kì II, tuần 22. Đây là kiến thức rất quan trọng làm cơ sở để các em
học tốt các bài toán hợp sau này.
Đối với mạch kiến thức: Giải toán có lời văn” là một trong năm mạch kiến
thức cơ bản xuyên suốt quá trình Tiểu học.Thông qua giải toán có lời văn, các em
được phát triển trí tuệ, rèn luyện kỹ năng tổng hợp; đọc,viết, diễn đạt, trình bày,
tính toán. Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán
học, các em sẽ được giải các bài toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình
học và đo đại lượng.Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời
sống, giữa toán học và các môn học khác.
Thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 1 năm học 2002-2003 về giải
toán có lời văn có những đổi mới như sau:
Ở chương trình lớp 1 cũ, học sinh được học giải bốn dạng toán đơn về cộng
trừ là "Thêm- bớt- nhiều hơn- ít hơn". Trong chương trình mới , nội dung kiến thức


bỏ bớt hai loại toán "Thêm- bớt".
Tuy nhiên ở lớp 1 mới có yêu cầu cao hơn về hình thức trình bày bài giải
trong khi lớp 1 cũ chỉ yêu cầu học sinh viết phép tính giải thì ở lớp 1 mới yêu cầu
học sinh trình bày được bài giải với đầy đủ :
+ Câu lời giải
+ Phép tính giải
+ Đáp số
Về phép tính giải ở lớp 1 cũ chấp nhận cả hai cách viết bằng chữ số và danh
số nhưng ở lớp 1 mới chỉ dùng cách viết bằng chữ số (kèm theo là đơn vị đặt
trong dấu ngoặc sau kết quả).
Lớp 1 mới có dành hẳn một bài học để giới thiệu cho học sinh bài toán có lời
văn (là gì?) lớp 1 cũ không có.
Với sự đổi mới trên , cho nên trong quá trình giảng dạy toán có lời văn ở lớp
1, bản thân tôi nhận thấy các em rất ngại khi học toán có lời văn nhất là những em
học sinh đọc chậm, tiếp thu bài chậm khi trình bày câu lời giải của bài toán.
Do vậy tôi đã suy nghĩ và chọn đề tài này để nghiên cứu và tìm ra biện pháp
dạy tốt hơn dạng toán có lời văn ở lớp 1 để chất lượng học toán của học sinh ngày
càng nâng cao.
Năm học 2012- 2013, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 1. Khi dạy tiết
84- 85 giải toán có lời văn, tôi đã tiến hành khảo sát.
3
Kết quả thu được:
Số học sinh
tham gia
khảo sát
Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm 1-4 TB trở lên
TS % TS % TS % TS % TS %
25 3 12 2 8 6 24 10 40 11 44
Qua phân tích thì nguyên nhân dẫn đến kết quả thấp là:
Học sinh tiếp thu bài chậm , trả lời chưa thành câu trọn vẹn , tư duy còn hạn

chế, chưa hiểu cách trình bày bài giải.
Do học sinh không đọc kĩ đề, phân tích đề để tìm ra câu giải, phép tính, cụ
thể như sau:
- Học sinh chép lại đề, trình bày câu giải chưa đúng: 9 em
- Số học sinh giải sai: 14 em
- Chỉ có 11 em giải đúng
Vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh ngiệm nhằm giúp học sinh nhận biết
thêm một số cách phân tích đề, tìm ra cách giải, giúp các em khắc phục phần nào
những hạn chế trong khi giải toán có lời văn.
4
PHẦN II: NỘI DUNG
Qua giảng dạy và nghiên cứu tài liệu, tôi đã hưỡng dẫn học sinh cách giải
toán có lời văn được trình bày theo các bước như sau :
- Hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề toán, phân tích đề và tìm cách giải
- Trình bày bài giải
- Kiểm tra và đánh giá
Khi dạy bài mới, tôi đã hưỡng dẫn học sinh một cách rõ ràng từ quan sát
tranh nêu được đề toán và biết viết phép tính đúng , trả lời miệng sau dần học sinh
đọc đề toán, điền số vào dữ kiện bài toán rồi điền từ vào chỗ câu hỏi (còn trống) để
biết được bài toán.
- Đã cho biết gì ?
- Cần phải tìm gì ?
Sau đó giúp các em đọc đề toán, điền số vào tóm tắt của bài toán và trả lời các
câu hỏi ( nhiều cách trả lời ).
* Đối với giáo viên
- Bản thân giáo viên phải chịu khó nghiên cứu tài liệu để tìm ra phương pháp
dạy dễ hiểu từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề được giải đáp thích hợp, rõ ràng và
học sinh dễ dàng chấp nhận
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải biết lắng nghe, giải thích những vấn
đề chất vấn của học sinh đưa ra, đòi hỏi giáo viên trình bày bằng ngôn ngữ mạch

lạc, rõ ràng, không nên nóng vội, bực tức vì những câu hỏi, câu trả lời của học sinh
nêu ra không đúng.
Có như vậy học sinh mới phát biểu và nêu được những lý do vướng mắc của
mình ở chỗ nào để giáo viên tháo gỡ giúp. Từmg bước như vậy giúp cho học sinh
tư duy và suy nghĩ độc lập.
* Đối với học sinh:
- Các em còn bỡ ngỡ khi học toán có lời văn , nhất là các em tiếp thu bài chậm.
Do vậy giáo viên cần tạo cho học sinh bầu không khí thoải mái, hướng dẫn học
sinh từng bước tìm hiểu đề, cách tìm lời giải của phép tính.
- Học sinh yếu do chậm hiểu cách làm bài và cách trình bày bài nên khi trả lời
câu hỏi các em viết lại đề bài hoặc chỉ ghi lời giải là làm xong bài, làm bài có lời
giải, có phép tính nhưng lại không ghi đáp số hoặc ghi đáp số mà không đủ. Giáo
viên cần theo dõi và hướng dẫn học sinh.
5
- Phân công học sinh học nhóm, giúp đỡ bạn yếu kém bằng hình thức đôi bạn
học ( học giỏi kèm học yếu).
- Kết hợp nhiều phương pháp, hình thức giảng dạy khác nhau, để việc giải toán
có lời văn đạt hiệu quả, tôi đã từng bước hướng dẫn học sinh học tập như sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề toán , phân tích đề và tìm cách giải.
Việc tìm hiểu nội dung bài toán (đề toán) thường thông qua việc đọc đề toán (dù
bài toán cho dưới dạng lời văn hoàn chỉnh hoặc dạng tóm tắt bằng sơ đồ). Học
sinh cần phải đọc kỹ, hiểu từ bài toán cho biết cái gì? Bài toán hỏi gì? Khi học sinh
đọc bài toán xong giáo viên giải thích cho học sinh hiểu thật kỹ một số từ, thuật
ngữ quan trọng ,chỉ rừ tình huống toán học, được diễn đạt theo ngôn ngữ thông
thường như:”đem biếu” “bay đi” “bị vỡ”
Ví dụ1:
Nga có 8 quả bóng, Nga cho bạn 2 quả bóng. Hỏi Nga còn lại mấy quả
bóng?
Học sinh đọc đề toán và phân tích đề toán, sau đó giáo viên nêu câu hỏi
Bài toán cho biết gì ?

- Nga có 8 quả bóng Nga cho bạn 2 quả bóng
Bài toán hỏi gì?
- Nga còn lại mấy quả bóng ?
Muốn biết Nga còn lại mấyquả bóng, ta làm thế nào ?
- Lấy số bóng Nga có trừ số bóng Nga cho bạn
Vì sao lại thực hiện phép tính trừ ?
-Vì Nga cho bạn 2 quả, tức là bớt đi số bóng của Nga
Ví dụ 2:
Nhà An có 5 con gà , mẹ mua thêm 4 con gà nưã. Hỏi nhà An có tất cả mấy
con gà ?
Bài toán cho biết gì ?
- Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà nữa.
Bài toán hỏi gì ?
- Nhà An có tất cả mấy con gà?
Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà thì làm thế nào ?
- Lấy số gà nhà An có cộng số gà mẹ mua thêm.
Vì sao lại thực hiện phép tính cộng ?
6
- Vì mua thêm 4 con tức là cộng thêm 4 con gà.
Ví dụ 3:
Đàn vịt có 5 con dưới ao và 4 con ở trên bờ. Hỏi đàn vịt có tất cả mấy con?
Bài toán cho biết gì ?
- Đàn vịt có 5 con ở dưới ao và 4 con ở trên bờ
Bài toán hỏi gì ?
- Đàn vịt có tất cả mấy con?
Muốn biết đàn vịt có tất cả mấy con, ta làm thế nào?
- Lấy số con vịt dưới ao cộng với số con vịt trên bờ
Vì sao lại thực hiện phép tính cộng?
- Vì tìm tổng số đàn vịt.
Ví dụ 4 :

Lớp 1B có 35 bạn, trong đó có 20 bạn nữ. Hỏi lớp 1B có bao nhiêu bạn
nam?
Bài toán cho biết gì ?
- Lớp 1B có 35 bạn , trong đó có 20 bạn nữ.
Bài toán hỏi gì ?
- Lớp 1B có bao nhiêu bạn nam?
Muốn biết lớp 1B có bao nhiêu bạn nam, ta làm thế nào?
- Lấy số học sinh của cả lớp trừ đi số bạn nữ.
Vì sao lại thực hiện phép trừ ?
- Vì số học sinh cả lớp là 35, số học sinh nữ có 20 bạn.
Ví dụ 5 :
Hoa có 10 nhãn vở, mẹ mua cho Hoa thêm 20 nhãn vở nữa. Hỏi Hoa có tất
cả bao nhiêu nhãn vở ?
Bài toán cho biết gì ?
-Hoa có 10 nhãn vở , mẹ mua cho Hoa thêm 20 nhãn vở nữa .
Bài toán hỏi gì ?
- Hoa có tất cả bao nhiêu nhãn vở ?
Muốn biết Hoa có tất cả bao nhiêu nhãn vở ta làm thế nào ?
- Lấy số nhãn vở Hoa có cộng số nhãn vở mẹ mua thêm.
Vì sao lại thực hiện phép cộng
7
- Vì mua thêm 20 nhãn vở tức là cộng thêm 20 nhãn vở
Ví dụ 6: Lớp 1 A có 13 bạn trai và 14 bạn gái. Hỏi lớp 1A có tất cả bao
nhiêu bạn?
Bài toán cho biết gì?
Lớp 1A có 13 bạn trai và 14 bạn gái.
Bài toán hỏi gì?
-Lớp 1A có tất cả bao nhiêu bạn?
Muốn biết số học sinh của lớp1A có bao nhiêu bạn ta làm thế nào?
-Lấy số học sinh trai cộng với số học sinh gái.

Vì sao lại thực hiện phép cộng
-Vì tìm tổng số học sinh của lớp 1A
Nêu mẫu ứng dụng về ví dụ bằng cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu những
vấn đề đã cho, những điều cần phải tìm, từ đó giải được bài toán.
Ví dụ :
Nêu câu hỏi
- Bài toán cho biết gì ?
- Bài toán hỏi gì?
- Học sinh trả lời miệng.
Trong quá trình phân tích đề toán , học sinh tự đọc đề toán , giáo viên hướng
dẫn học sinh tìm hiểu đề bài và tìm ra cách giải.
Khi học sinh giải bài toán ,giáo viên cần giúp đỡ các em còn chậm ,chưa
hiểu cách làm bài, dẫn dắt cụ thể, tỷ mỷ để các em tự giải được bài tập.
Bước 2: Trình bày bài giải
Cụ thể coi việc trình bày bài giải là trình bày một sản phẩm của tư duy. Thực
tế hiện nay các em học sinh lớp 1 trình bày bài giải rất hạn chế, kể cả học sinh khá
giỏi. Vì vậy cần rèn cho học sinh thói quen trình bày bài giải một cách chính xác,
khoa học, sạch đẹp dù ở trong giấy nháp, bảng lớp, bảng con, vở ghi, hay giấy
kiểm tra. Cần hướng dẫn học sinh trình bày bài giải như sau:
Trình bày bài giải có 3 phần:
+ Câu trả lời (Dựa vào câu hỏi để ghi câu trả lời)
+ viết phép tính
+ Viết đáp số
8
Trình bày bài giải cần hướng dẫn học sinh cụ thể, khuyến khích học sinh đặt
câu giải theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như bài toán sau:
Hà có 4 quả bóng , Nga có 3 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng ?
Học sinh có thể đặt câu giải theo nhiều cách khác nhau:
+ Cả hai bạn có
+ Hai bạn có

+ Hà và Nga có
+ Tất cả có
+ Số bóng tất cả là:
Trình bày bài toán cũng cần hướng dẫn học sinh rõ, cụ thể. Nên chúng ta cần
quy định tạo một thói quen cho học sinh khi làm toán có lời văn ở giữa trang vở.
Chẳng hạn: Ghi bài giải ở giữa trang vở chữ cái đầu tiên của câu viết hoa sau
đó ghi hai chấm và dùng bút thước gạch chân
- Tiếp theo ta trình bày bài giải cũng cần có hình thức phải rõ ràng sạch đẹp,
để thống nhất ta thường ghi câu trả lời thụt vào đầu dòng 2 ô vở. Và chữ đầu
câu phải viết hoa, cuối câu có dấu hai chấm.
- Tiếp nữa là ghi phép tính ta phải xuống dòng thụt vào cách lề 3 ô vở để ghi
phép tính độ cao con số 2 đơn vị rõ ràng và có kèm đơn vị trong dấu ngoặc.
- Cuối cùng ghi đáp số cũng phải viết hoa và để trình bày đẹp các em dễ nhớ
ta quy định ghi từ đáp số ngay dưới dấu bằng của phép tính trên. Và sau từ
đáp số có dấu hai chấm và gạch chân từ đáp số rồi ghi kết quả của phép tính
có kèm theo đơn vị không ghi dấu ngoặc đơn.
Cụ thể như sau:
Bài giải

Cả hai bạn có tất cả là:
4 + 5 = 9 ( quả bóng )
Đáp số: 9 quả bóng
Ví dụ :
Lan hái được 15 bông hoa, Mai hái được 10 bông hoa. Hỏi cả hai bạn hái
được bao nhiêu bông hoa?

Cách 1:
Bài giải
9
Lan và Mai hái được là:

15 +10 = 25 (bông)
Đáp số: 25 bông

Cách 2:
Bài giải
Cả hai bạn hái được là:
15+10=25 (bông)
Đáp số: 25 bông hoa

Cách 3
Baì giải

Số bông hoa hai bạn hái được là:
15 + 10 = 25 (bông)
Đáp số: 25 bông hoa

Cách 4:
Bài giải
Hai bạn hái được số bông hoa là
15 + 10 = 25( bông)
Đáp số: 25 bông hoa

Với những bài toán có kèm đơn vị đo đại lượng, học sinh thường quên viết
đơn vị đo đại lượng vào phép tính, đáp số.
Ví dụ:
Mơ có sợi dây dài 72 cm, Mơ cắt bớt đi 32 cm. Hỏi sợi dây còn lại dài bao
nhiêu xăng ti mét?
10
Bài giải
Sợi dây còn lại dài là:

72 - 32 = 40 ( cm)
Đáp số: 40 cm
Học sinh có một số em thường hay viết nhầm lẫn giữa đơn vị đo với tên của
sự vật:
Bài giải
Sợi dây còn lại là:
72 - 32 = 40 ( sợi dây )
Đáp số: 40 sợi dây
Bài giải
Số cm dài là:
72-32 = 40 (cm)
Đáp số: 40 cm
Bài giải
Sợi dây dài là
72 - 32 = 40 (cm)
Đáp số: 40 cm
Ví dụ :
Lúc đầu con sên bò được 15 cm, sau đó bò tiếp được 14 cm. Hỏi con sên bò
được tất cả bao nhiêu xăng- ty -mét?
Bài giải
Con sên bò được là :
11
15 + 14 = 29 (cm )
Đáp số:29cm
Có một số em viết :
Bài giải :
Con sên bò dược là:
15 + 14 = 29 (Con sên)
Đáp số :29 Con sên
Với dạng toán như bài toán trên , giáo viên cần lưu ý học sinh cách viết đơn vị

đo của số đo độ dài là cm, lưu ý cách diễn đạt cho học sinh.
Đối với bài toán có kèm đơn vị đo thời gian, tuần lễ, ngày, các em thường hay
nhầm giá trị đơn vị liền trước và đơn vị liền sau. Các em thường lấy 1 tuần cộng 1 ngày
bằng 2 ngày hoặc 2 tuần cho nên trước khi giáo viên hướng dẫn học sinh đưa về cùng
một đơn vị đo rồi mới giải.
Ví dụ:
Em được nghỉ tết 1 tuần lễ và 2 ngày. Hỏi em được nghỉ tết mấy ngày?
Học sinh thường làm như sau:
Bài giải
Số ngày em được nghỉ tết là
1 + 2 = 3 ( ngày)
Đáp số: 3 ngày
Hoặc:
Bài giải
Số ngày em được nghỉ tết là
1 + 2 = 3 ( tuần)
Đáp số: 3 tuần
Bài giải
12
Đổi 1 tuần lễ = 7 ngày
Số ngày em được nghỉ tết là:
7 + 2 = 9 ( ngày)
Đáp số: 9 ngày
Ví dụ:
Bố em được nghỉ phép 1 tuần lễ và 3 ngày. Hỏi bố em được nghỉ phép mấy
ngày?
Bài giải
Số ngaỳ bố em được nghỉ phép là:
1 +3 = 4 ( ngày)
Đáp số: 6 ngày

Cần hướng dẫn học sinh:
Bài giải
Đổi 1 tuần lễ = 7 ngày
Bố em được nghỉ phép số ngày là:
7 + 3 = 10 ( ngày)
Đáp số: 10 ngày
Ví dụ :
Chị em đi du lịch 1 tuần và 2 ngày. Hỏi chị em đi du lịch mấy ngày?
Bài giải
Đổi 1 tuần lễ = 7 ngày
Chị em đi du lịch số ngày là:
7 + 2 = 9 (ngày)
Đáp số: 9 ngày
Hoặc đối với những bài toán cần đổi từ 1chục =10 đơn vị .Học sinh hay nhầm
lẫn . Để tránh nhầm lẫn thì khi giải 1 bài toán cụ thể giáo viên cần hướng dẫn học sinh
tuỳ vào đơn vị (tên gọi) đã cho trong bài toán để gắn tên đơn vị vào số đó rồi thực hiện
phép đổi .
13
Ví dụ 1 :
Nhà Lan có 20 cái bát, mẹ mua thêm 1chục cái bát nữa. Hỏi nhà Lan có tất cả
bao nhiêu cái bát ?
Một số học sinh thường nhầm:
Bài giải
Số bát của nhà Lan có là:
20 +1 = 21 ( cái bát )
Đáp số: 21cái bát
Do đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh:
Bài giải
Đổi 1 chục cái bát =10 cái bát
Nhà Lan cú số cỏi bỏt là:

20 +10 = 30 ( cái bát )
Đáp số: 30 cái bát
Ví dụ 2:
Quyển truyện có 42 trang. Mai đã đọc 2 chục trang . Hỏi quyển truyện còn bao
nhiêu trang chưa đọc ?
Một số học sinh thường nhầm lẫn:
Bài giải
Số trang truyện chưa đọc là :
42- 2 = 40 (trang)
Đáp số: 40 trang
Do đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
Bài giải
Đổi 2 chục trang = 20 trang
Số trang truyện chưa đọc là :
14
42 -20 = 22 (trang)
Đáp số : 22 trang truyện
Ví dụ3 :
Nam có 25 nhãn vở, Nam cho bạn 1 chục nhãn vở. Hỏi Nam còn lại bao nhiêu
nhãn vở?
Học sinh thường nhầm:
Bài giải:
Nam còn lại số nhãn vở là:
25- 1 = 24( nhãn vở)
Đáp số: 24 nhãn vở
Cần hướng dẫn học sinh:
Bài giải
Đổi 1chục nhãn vở = 10 nhãn vở
Nam còn lại số nhãn vở là:
25 – 10 = 15 ( nhãn vở)

Đáp số: 15 nhãn vở
Ngoài việc hướng dẫn học sinh giải các bài toán trong sách giáo khoa, tôi
cần hướng dẫn học sinh khá giỏi tự xây dựng một đề toán mới.
* Đề toán đưa ra nhiều số liệu
HS số liệu thay thế rồi giải
Ví dụ : Trên bờ có con vịt, dưới ao có con vịt. Hỏi có tất cả bao nhiêu con vịt?
* Dạng đề toán không đưa ra câu hỏi.
Học sinh tự đặt câu hỏi cho đề toán rồi giải
Ví dụ: Nam có 15 quả bóng bay, Nam cho bạn 3 quả bóng bay. Hỏi
Em hãy đặt câu hỏi cho bài toán rồi giải.
Trong quá trình giảng dạy giáo viên thường hay nói nhiều, hầu hết các giáo viên
đều mắc phải thì phải tìm ra nguyên nhân để chữa bệnh.
- Giaó viên chưa yên tâm với việc học sinh tự tìm ra tri thức bằng các hoạt
động của chính các em, mà cứ nói đi nói lại, nói để mong sao đưa tất cả
những gì mình muốn vào bộ nhớ các em một lần.
15
- Giáo viên thiếu kiên trì, chờ đợi kết quả hoạt động, suy nghĩ của học sinh,
chưa dành thời gian đủ để các em chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động mà
giáo viên vội vàng nêu câu hỏi để các em kịp thời trả lời.
- Giáo viên sợ học sinh nói sai ý của mình, nên đã nói hộ có khi còn làm hộ.
- Những vấn đề học sinh phát hiện ra đúng rồi, giáo viên không công nhận
ngay mà cho các em “ Nói đi nói lại”
- GV chưa biết cách định hướng, gợi mở học sinh hoạt động, tìm ra tri thức
mà nói ra những điều có ngay ở sách giáo khoa.
Cách chữa bệnh:
- Trước hết giáo viên phải đầu tư suy nghĩ, lập kế hoach bài dạy thật sát, đúng
đối tượng.
- Giáo viên xác định đúng vai trò của mình trong mỗi giờ dạy là người tổ chức
hướng dẫn và các em là người chủ động tham gia cá hoạt động chiếm lĩnh
tri thức.

- Giáo viên phải biết liên trì, chờ đợi kết quả làm việc của các em. Tránh nóng
ruột, sợ hết thời gian, dẫn đến làm hộ, Khi học sinh vướng mắc, Giáo viên
tìm cách gợi mở định hướng nhẹ nhàng sao cho cá em có không khí học tập
nhẹ nhang, vui tươi. Thái độ tích cực của giáo viên cũng có tác dụng khuyến
khích các em học tập tốt.
- Khi các em đã hoạt động tích cực và khám phá được tri thức mới , giáo viên
nên công nhận ngay cho các em, tránh nói lại gây nhàm chán.
Ví dụ: Khi cho học sinh quan sát, các tranh vẽ bài 84, 85 tôi đã cho học sinh được
chính mình quan sát, theo định hướng của cô giáo.
Yêu cầu học sinh quan sát và cho biết Bức tranh vẽ gì?
Tôi dành đủ thời gian cho các em quan sát 1-2 phút sau đó 1 số học sinh tự nêu ý
kiến của mình
Sau đó, tôi hỏi:
Em nào có ý kiến khác?
Ai đồng ý với ý kiến của bạn?
Nếu ý kiến của các em nêu là đúng dó chính là kiến thức các em cần chiếm lĩnh,
Giaó viên không phải nói lại.
Nếu có ý kiến sai ,tôi gợi ý để các em tự điều chỉnh rồi kiểm tra lại.
Trong quá trình giảng dạy, khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, cách phân
tích đề bài và trình bày bài giải đã làm cho học sinh có thói quen trình bày bài giải
đúng. Đặc biệt là các bài toán liên quan đến đo đạc, đại lượng và đơn vị đo thời
16
gian một cách khoa học đưa đến hiệu suất giờ học cao hơn. Kết quả thu được qua
khảo sát sau khi hướng dẫn học sinh giỏi toán có lời văn như sau:
Số học sinh
tham gia
khảo sát
Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm 1-4 TB trở lên
TS % TS % TS % TS % TS %
25 10 40 5 20 9 32 1 4 19 96

Qua phân tích kết quả nêu trên thì học sinh đã có nhiều tiến bộ bởi vì học
sinh đã biết cách trình bày bài giải,đã lựa chọn câu trả lời đúng. Các em đó biết
phân tích đề bài, mộ số em khá giỏi đó biết tự ra đề toán theo yêu cầu.
17
PHẦN III: KẾT LUẬN
Việc dạy toán có lời văn ở lớp 1 là rất khó, đòi hỏi sự hướng dẫn kiên trì
nhẫn nại và thường xuyên của giáo viên , giúp các em nắm vững trình tự các bước
giải toán, từ đó tạo được thói quen chủ động, sáng tạo trong học tập biết sử dụng kĩ
thuật tính toán vừa sử dụng được câu văn để diễn đạt lời nói hoàn chỉnh và sau mỗi
bài giải các em đều biết kiểm tra kết quả bài làm của mình để khẳng định bài làm
của mình là đúng hay sai.Giáo viên cần giúp học sinh xây dựng thói quen học tập
này.
Trước khi lên lớp, chúng ta phải chuẩn bị tốt cho một tiết dạy, phải chuẩn bị
giúp đỡ, uốn nắn kịp thời và khi các em làm bài, giáo viên cần theo dõi học sinh,
để giúp các em giải quyết những vướng mắc, giải được bài toán một cách dễ dàng.
Đối với học sinh Tiểu học và đặc biệt là học sinh lớp 1, giáo viên cần coi
trọng sử dụng trực quan trong giảng dạy nói chung và trong dạy “Giải toán có lời
văn nói riêng. Tuy nhiên cũng không vì thế mà lạm dụng trực quan một cách hình
thức.
Đây là những thành công bước đầu của tôi khi hướng dẫn học sinh giải toán
có lời văn đối với học sinh lớp một .Với kinh ngiệm này, trong quá trình giảng
dạy, tôi thấy học sinh hứng thú trog học tập nên tôi mạnh dạn đưa ra ở đây để quý
cấp trên và đồng ngiệp tham khảo , góp ý bổ sung để đề tài được tiếp tục được mở
rộng.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách gíao khoa lớp 1
2. Sách giáo viên lớp 1 (tập 1+2)
3. Sách thiết kế lớp 1 (tập 1 + 2)

4. Sách vui học toán.
5. Báo giáo dục và thời đại.
6. Chuyên đề giáo dục tiểu học.
7. Tham khảo một số tài liệu khác.
19

×