Tải bản đầy đủ (.doc) (82 trang)

luận văn cơ sở hình thành và những nội dung tổng quát của truyền thống việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (363.01 KB, 82 trang )

Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG TỔNG QUÁT
CỦA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

Với quan niệm về truyền thống như đã xác định trong chương mở
đầu, chúng ta có hai cách tiếp cận truyền thống: thứ nhất là nghiên cứu và
tổng hợp những biểu hiện của nó, thứ hai là nghiên cứu truyền thống từ
những cơ sở hình thành và phát triển của nó.
Truyền thống khơng phải là bẩm sinh, cũng khơng phải là "nhất
thành bất biến", nó nảy sinh và phát triển do tác động của những nhân tố
thường xuyên đến cuộc sống của con người. Do phải ứng phó và thích nghi
với những tác động đó, những thói quen, tập qn, những tính cách, lối
sống, cách ứng xử và lối tư duy dần dần được định hình trong một cộng
đồng người nhất định và di tồn cho thế hệ sau. Truyền thống của một cộng
đồng cư dân thực chất là sự thích ứng vơ thức và hữu thức đối với tác động
lặp đi lặp lại của cuộc sống cộng đồng trong những điều kiện tự nhiên và
hoàn cảnh lịch sử nhất định. Vì vậy, cách tiếp cận của chúng tơi để tìm ra
những nội dung của truyền thống là xem xét những nhân tố hằng xuyên tác
động đến mọi mặt của đời sống xã hội để từ đó tìm ra những hệ quả được
coi là truyền thống. Những hệ quả này không phải là sản phẩm của những
tác động đơn lẻ của yếu tố này hay yếu tố khác mà là kết quả có tính chất
tổng hợp. Tuy nhiên, để dễ nhận diện, có thể xem xét nội dung của truyền
thống theo từng nhân tố có tác động chính trong việc hình thành nên truyền
thống đó.
Tất nhiên trong khi chọn phương pháp tiếp cận thứ hai này, chúng
tôi cũng kết hợp với phương pháp thứ nhất, luôn ln liên hệ với những
biểu hiện của nó trên cơ sở những tư liệu đã được thu thập và xử lý.


1. TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ


1.1. Môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý là một cơ sở hằng
xuyên của cuộc sống con người. Ở Việt Nam, trong muôn vàn những yếu
tố địa lý tác động đến cuộc sống hằng ngày, môi trường sông - nước phải
được coi là một yếu tố đặc biệt quan trọng, đã có tác động khơng nhỏ tới
việc hình thành một số truyền thống của người Việt. Tất nhiên, lãnh thổ
việt nam bao gồm nhiều địa hình khác nhau từ đồng bằng ven biển đến
trung du, cao nguyên và núi rừng, nhưng vùng đồng bằng sông nước là nơi
tập trung cư dân đông nhất với mật độ cao nhất và cũng là địa bàn sinh tụ
chủ yếu của dân tộc đa số là người Kinh.
Dựa vào những chứng cứ khảo cổ học, chúng ta có thể biết được
trong thời cổ đại, địa bàn sinh tụ chủ yếu của các cư dân Việt là lưu vực hai
con sông lớn: sơng Hồng và sụng Mó. Cỏc mũi khoan thăm dị địa chất đã
thấy dấu vết trầm tích biến tuổi chừng 2 - 3000 năm ở nhiều nơi thuộc đồng
bằng Bắc Bộ. Sự vắng bóng hồn tồn các di tích khảo cổ thời đại đồ đá
mới ở vùng Thái Bình, Nam Định cùng với sự tồn tại nhiều di tích cồn sò
điệp ở ven biển Quỳnh Lưu cách xa bờ biển hiện nay tới 10km cho phép
nghĩ rằng thời bấy giờ, biển còn ăn rất sâu vào đất liền.
Địa bàn cư trú chủ yếu của tổ tiên người Việt là một vùng đất mới
được bồi lấp, nằm giữa một bên là đồi núi cao và một bên là biển cả. Địa
bàn đó là nơi giáp tiếp giữa núi và biển thông qua mưa lũ hằng năm.
Điều kiện tự nhiên đú đó tạo nên một hệ thống sơng ngịi thốt
nước dày đặc, có dạng hình nan quạt, xịe ra ở phía hạ nguồn. Khi những cư
dân sinh sống ở đây chưa có khả năng đắp đê ngăn nước thì mùa mưa lũ
hằng năm nước tràn ra khắp mọi chỗ trũng, tạo nên vô số đầm, hồ quanh
năm đọng nước.
Những cứ liệu địa lý trên cho chóng ta hình dung khái qt về địa
hình mà tổ tiên người Việt đã từng sinh sống, làm ăn suốt nhiều thiên


niên kỷ là một địa hình chi chít sơng ngịi, đầm hồ dày đặc. Địa hình đú

đó tác động đến cuộc sống hàng ngày của con người. Các di tích khảo cổ
học cho chóng ta biết rằng tất cả các địa điểm cư trú thời cổ đều nằm
trờn cỏc gũ bói cao có nước bao quanh. Nước tạo nên biên giới thiên
nhiên quy định cụ thể từng vùng đất. Sông - nước là môi trường sinh
sống chủ yếu của người Việt Nam.
Từ xa xưa, khái niệm về quê hương xứ sở, tổ quốc của người Việt
được thể hiện bằng tên của mơi trường gắn chặt với cuộc sống của mình:
nước. Dấu vết của môi trường sông nước đã in khá đậm lờn cỏch tư duy
của người Việt. Có thể thấy rất nhiều từ, hình ảnh về nước hoặc liên quan
đến nước được sử dụng trong tiếng Việt để khái quát cho những tình
huống, trạng thái hoặc những ứng xử phổ biến. Chẳng hạn như người Việt
có thể khái quát cho tất cả những hiện tượng không biết lo xa, chuẩn bị
trước, đến khi tình huống xảy đến thì phải xử lý một cách gấp gáp, vội
vàng bằng một thành ngữ quen thuộc "nước đến chân mới nhảy". Hoặc để
diễn đạt mọi trường hợp cố gắng đến mức cao nhất nhằm làm một việc gì
đó mặc dù khả năng làm được rất mong manh, người ta có thể dùng ngạn
ngữ "cịn nước cịn tát"... Nhiều truyền thống đã được hình thành do tác
động của hoàn cảnh địa lý này.
Biểu hiện của những truyền thống đó có thể tìm thấy trong hầu hết
các mặt của đời sống xã hội, những giá trị văn hóa và ngay cả trong một số
sở trường của người Việt. Nếu như ăn, mặc, ở, đi lại là những nhu cầu tối
cần thiết của con người và cũng chính ở những lĩnh vực này bản sắc văn
hóa truyền thống được biểu hiện rõ nhất thì có thể thấy ngay rằng đối với
người Việt, chất đạm chủ yếu trong thức ăn truyền thống là thủy sản. Có
thể tìm thấy trong các di chỉ khảo cố học vô số những dấu tích của các
động vật ở nước như vỏ sị, vỏ ốc, xương cá v.v..., trong khi đó xương động
vật thường rất hiếm hoi. Nhà ở truyền thống của người Việt là nhà sàn, chủ
yếu là để phòng nước ngập. Ngồi ra, rất đơng người Việt cịn có thói quen



ở thuyền. Những điểm tụ cư như vậy về sau này gọi là vạ. Đến tận thế kỷ
XVIII - XIX, hiện tượng cư trú trên thuyền, coi thuyền là nhà cịn rất phổ
biến. Người phương Tây từng đó cú nhận xét: "Họ (chỉ người Việt - TG)
rất thích ở nước, thích ở trên nước hơn là ở trên cạn. Cho nên phần nhiều
sơng ngịi thì đầy thuyền. Những thuyền đó thay cho nhà cửa của họ.
Thuyền rất sạch sẽ, ngay cả khi họ ni gia sóc trong đó" 1. Giao thông thời
cổ - trung đại ở Việt Nam chủ yếu là giao thơng đường thủy. Sơng ngịi trở
thành những con đường đi lại chính. Phương tiện đi lại truyền thống của
người Việt là thuyền, bè.
Về phương diện văn hóa tinh thần, người Việt có vơ số những tín
ngưỡng, lễ nghi liên quan đến sông nước như thờ thủy thần, tục xăm mình,
lễ hội đua thuyền... Đặc biệt múa rối nước, một nghệ thuật độc đáo đến nay
chỉ mới tìm thấy ở Việt Nam, là một nghệ thuật sân khấu của cư dân sơng nước. Có thể nói người Việt có một truyền thống văn hóa sơng - nước và
quen với sơng nước, thạo nghề sơng nước, có tư duy của một cư dân sông
nước là một nội dung quan trọng của truyền thống Việt Nam. Nhờ có
truyền thống này mà người Việt có khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi
tình thế và có lối ứng xử mềm dẻo phù hợp với hồn cảnh sống gần/trờn
sơng nước. Điều hiếm thấy ở những cư dân thuần túy nông nghiệp.
Việt Nam là một nước bán đảo, ở vào góc đơng nam đại lục châu Á,
nhìn ra đại dương với bờ biển dài 3.260 km. Nhưng là một cư dân nông
nghiệp, sinh sống chủ yếu trờn vựng đất - nước ven sông, ven biển, Ýt có
khả năng vươn ra đại dương, nên thiếu tầm nhìn đại dương và Ýt hoạt động
đại dương. Đây lại là mặt hạn chế trong truyền thống của nhân dân ta mà
phải đến thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay chóng ta mới có
điều kiện dần dần khắc phục, phát huy một ưu thế của vị trí địa lý và điều
kiện thiên nhiên Việt Nam.


1.2. Khi xét đến yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên, có thể thấy
rõ Việt Nam là một xứ sở có những điều kiện thuận lợi cho sự phỏt

triển của nơng nghiệp
Trước hết và chủ yếu phải nói đến tiềm năng dồi dào của đất đai.
Độ phì của đất cao và diện tích đất canh tác có điều kiện để phát triển.
Ngoài các đồng bằng nhỏ ven biển miền trung, chóng ta có hai đồng bằng
châu thổ lớn của sông Hồng và sông Cửu Long. Khác với các quốc gia
vùng Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc là những nước quỹ dự trữ đất đai
giành cho nông nghiệp bị cạn kiệt từ rất sớm, ở Việt Nam chỉ riêng sông
Hồng với hàng trăm tỷ m3 nước chở nặng phù sa đổ ra biển đã khiến cho
đồng bằng ngày càng được mở rộng. Do cịn có điều kiện để khai hoang
tăng thêm diện tích canh tác, nơng nghiệp Việt Nam dễ tìm thấy lối thốt
trước áp lực của tăng trưởng dân số và mỗi khi khủng hoảng xuất hiện.
Cùng với đất đai, khí hậu nhiệt đới gió mùa cho độ nóng và độ Èm cao.
Mỗi năm số giờ nắng Ýt nhất là 1200 giờ, nơi nhiều nhất có thể trên 2000
giờ. Cân bằng bức xạ quanh năm dương khiến tổng số nhiệt hoạt động (trên
100C) rất cao. Lượng mưa trung bình hàng năm ở vùng đồng bằng là 1500
mm, miền núi có thể lên đến trên 2000 - 3000 mm. Lượng nước mưa vượt
quá khả năng bốc hơi, nơi thừa Ýt nhất là 500 - 700 mm, nơi nhiều đến
1000 - 2000 mm. Hai yếu tố nhiệt và Èm cao tạo nên tính chất nhiệt đới Èm
của khí hậu Việt Nam, cho phép trồng trọt quanh năm và nhiều khả năng
xen canh, tăng vụ.
Chính vì vậy mà người Việt đã sớm lựa chọn nơng nghiệp làm nghề
sống chính của mình suốt mấy nghìn năm. Nghề nơng ngun thủy đã xuất
hiện từ đầu thời đại đồ đá mới và trong thời đại văn hóa Đơng Sơn, đã
chuyển sang dùng lưỡi cày đúc bằng kim loại và sức kéo của trâu bị. Trong
những thế kỷ đầu cơng ngun, vùng đồng bằng Bắc Bộ đã biết trồng lúa
hai vụ và trồng dâu nuôi tằm mỗi năm tám lứa. Việt Nam đã từng tạo dựng
nên một văn minh nông nghiệp trồng lúa nước có thời tỏa sáng khắp khu


vực Đơng Nam Á. Và cũng chính vì vậy mà người Việt bị trói chặt vào

kinh tế nơng nghiệp. Cho đến nay, ba hằng số lớn của lịch sử dân tộc: kinh
tế nông nghiệp, cư dân nông dân, xã hội nông thôn vẫn là những chỉ số
quan trọng để nhận diện người Việt Nam. Do đó, những căn tính nơng dân,
những đặc trưng của một xã hội nơng nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến tất
cả mọi truyền thống Việt Nam bao gồm mặt tích cực và cả mặt hạn chế khi
đi vào cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
1.3. Bên cạnh những thuận lợi, thiên nhiên Việt Nam luôn đặt
ra cho con người muôn vàn những thử thách hiểm nghèo, hay gây ra
những tai biến bất thường được gọi chung là thiên tai, nhất là lũ lụt,
hạn hán, bão tố, và nhiều loại sâu bệnh tàn hại mùa màng... Đây là mặt
khắc nghiệt, mặt thử thách gay gắt của thiên nhiên đối với cuộc sống
của con người.
Nguồn nước dồi dào, hệ thống sơng ngịi dày đặc, dọc bờ biển trung
bình 25 km có một cửa sơng. Nhưng địa hình dốc, nhất là miền Bắc và
miền Trung, mưa lớn tập trung trong một thời gian ngắn trong năm, là
nguyên nhân của nạn lũ lụt trờn cỏc triền sông. Mùa lũ bắt đầu từ tháng 5
và kết thúc vào tháng 11, nhưng mạnh nhất là vào tháng 7, 8, 9. Theo số
lượng thủy văn thì lượng nước chảy mùa lũ của cỏc sụng ở Bắc Bộ như
sông Đà, sụng Lụ, sụng Thao, sông Hồng, sông Cầu, sông Lục Nam chiếm
từ 72 đến 89% lượng nước cả năm của các dịng sơng đó. Sử biên niên cịn
ghi lại những nạn lũ lụt nghiêm trọng qua các thời kỳ lịch sử. Để chống lũ
lụt, từ trước công nguyên, nhân dân ta đã phải đắp đê và đến nay, riờng đờ
sụng của miền Bứac đã dài gần 3000 km. Nắng mưa thất thường còn gây ra
hạn và úng đe dọa mùa màng. Ngay giữa mùa mưa, do phân bố không đều
và địa hình khác nhau, nờn cú nơi ngập ỳng, cú nơi hạn hán. Vì vậy từ cuối
đời Hùng Vương, nhân dân ta đã phải làm thủy lợi để tưới tiêu cho đồng
ruộng.


Vùng biển nước ta nằm vào một trong những trung tâm phát sinh

bão nhiệt đới. Hàng năm trung bình có khoảng 4-5 cơn bão, có khi đến trên
dưới 10 cơn bão đổ bộ vào vùng ven biển nước ta, nhất là vùng ven biển
Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Bão gây ra những tàn phá ghê gớm nhà cửa, mùa
màng và cuộc sống con người.
Sâu bệnh ở xứ nhiệt đới hàng năm có thể sinh sơi nảy nở đến sáu
bảy lứa, cũng là kẻ thù nguy hiểm của mùa màng và gia sóc.
Cuộc đấu tranh gần như thường xuyên chống thiên tai là một cuộc
vật lộn vô cùng ác liệt với thiên nhiên, vừa đòi hỏi con người phải liên kết
lại trong cộng đồng, tạo nên sức mạnh để vượt qua thử thách, vừa rèn luyện
tinh thần lao động cần cù, kiên nhẫn kết hợp với lịng dũng cảm, trí thơng
minh.
1.4. Nói tới vai trị của điều kiện tự nhiên Việt Nam khơng thể
khơng nói những tác động đặc biệt của vị trí địa lý. Nằm ở khu vực tiếp
xúc giữa nhiều nền văn hóa và có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, Việt
Nam luôn luôn bị xô đập bởi các biến cố khu vực và của thế giới. Tính cách
dễ thích ứng và nhạy cảm phần nhiều được hình thành do tác động của yếu
tố này. Đó cũng có thể coi là một nội dung của truyền thống Việt Nam.
Cịng do nằm ở vị trí giao tiếp, nơi gặp gỡ của nhiều luồng thiên di,
từ lâu Việt Nam đã là một quốc gia có nhiều cộng đồng sắc tộc với những
đặc trưng văn hóa khác nhau. Theo sự xác minh của các nhà dân tộc học,
Việt Nam có 54 tộc người thường gọi chung là 54 dân tộc. Trong số đú cú
những dân tộc bản địa có mặt từ rất sớm trên lãnh thổ Việt Nam và có
những dân tộc di cư vào trong nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Về mặt
ngôn ngữ, họ thuộc ngôn ngữ Nam Á như nhóm Việt-Mường, nhúm MụnKhơ Me, nhóm Tày - Thỏi, nhúm Khai Đa; ngôn ngữ Nam Đảo như nhóm
Chăm, Ra Giai, Chu Ru, Ê Đê; ngơn ngữ Hán - Tạng như nhóm Tạng Miến, nhúm Hỏn. Về văn hóa, mỗi dân tộc cũng có sắc thái và vốn văn hóa


riêng. Nhưng mặc dù vậy, dân tộc Kinh (Việt) luôn ln đóng vai trị trung
tâm vì chiếm số lượng đơng và đạt trình độ phát triển kinh tế xã hội cao
hơn so với các dân tộc anh em khác. Đặc điểm trên đây đã tạo nên truyền

thống đa dạng trong văn hóa nhưng hướng tâm vào văn hóa Việt. Đó là sự
thống nhất trong tính đa dạng của cộng đồng dân tộc Việt Nam và nền văn
hóa Việt Nam.
2. TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH LAO ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ KếT
CẤU KINH TẾ - XÃ HỘI

Đối với bất kỳ một nền văn hóa nào, sản xuất ra của cải vật chất
bao giờ cũng được coi là thành tố quan trọng nhất. Nó quy định đặc điểm,
tính cách của một cộng đồng cư dân và nội dung của những truyền thống
cơ bản. Ở Việt Nam hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất chủ
yếu là nông nghiệp trồng lúa nước. Do hồn cảnh tự nhiên, lao động nơng
nghiệp ở Việt Nam rất cần tới sức liên kết cộng đồng. Để thích ứng với
cuộc sống sản xuất đó, một loại hình cơng xã nơng thơn đã xuất hiện và
tồn tại rất lâu dài trong lịch sử. Sau lũy tre làng biết bao nhiêu truyền
thống đã được hình thành.
2.1. Trước hết đó là truyền thống cộng đồng mà mặt tích cực của nó
là tinh thần đồn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống hằng ngày
cũng như trong lúc gặp khó khăn, hoạn nạn. Khởi nguyên của truyền thống
này là sự nương tựa vào nhau của các thành viên cộng đồng và của mỗi
thành viên với tập thể để làm ăn và sinh sống. Đồng bằng các con sông của
Việt Nam có độ phì cao, đất đai màu mỡ những rất khó khai thác. Lũ lụt
hằng năm, hạn hán hay xảy ra và muôn vàn bất trắc của thiên nhiên như
bão tố, dịch bệnh... của một xứ sở nhiệt đới gió mùa khiến con người phải
cố kết nhau lại. Chứng cứ lịch sử cho thấy người Việt đã khai phá ruộng
đất theo phương thức tập thể và vì vậy, đất đai canh tác trong suốt một thời
gian lịch sử rất dài thuộc về sở hữu tập thể. Thêm vào đó là yêu cầu đắp đê


sông, đê biển, khơi đào kênh mương, làm thủy lợi... mà từng con người và
gia đình riêng lẻ khơng thể nào đảm đương nổi.

Do đặc điểm của loại hình nơng nghiệp trồng lúa nước, ngay từ thời
đại kim khí hình thức sản xuất theo gia đình nhỏ đã được xác lập như một
mơ hình tổ chức lao động hợp lý. Những đặc điểm này của sản xuất nông
nghiệp đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các truyền thống. Đoàn
kết, tương trợ nhau và nguyên tắc cá nhân tồn tại trong sự liên kết và có
phần phụ thuộc vào cộng đồng dần trở thành một tập tục có cơ chế kinh tế xã hội bảo đảm.
Mét trong những chỉ báo quan trọng giúp ta có thể hình dung được
truyền thống là những tổng kết dân gian, được sàng tuyển qua nhiều thế hệ.
Trong ý nghĩa đó, số lượng những câu ca dao tục ngữ nói về một vấn đề
nào đó cũng phản ánh mức độ quan tâm và ý thức của con người đối với
lĩnh vực đó. Cơng trình nghiên cứu gần đây 2 nhằm phân tích định lượng ca
dao, tục ngữ cho thấy trong sè 4.075 câu ca dao, tục ngữ do Nguyễn Văn
Ngọc tập hợp 3 có 1.634 câu có thể xếp vào loại hình "nói về các quan hệ
xã hội". Trong số đó chỉ riêng về quan hệ cộng đồng đó cú tới 641 câu, chiếm
79,23%. Điều đú hẳn nói lên rằng trong mn vàn các khía cạnh của quan
hệ xã hội, tâm thức của người Việt chủ yếu giành cho các quan hệ cộng
đồng.
Nét đặc biệt của truyền thống cộng đồng Việt Nam là bên cạnh mối
quan hệ giữa cá nhân với các cộng đồng lớn như làng, nước, cộng đồng gia
đình, dịng họ đóng vai trị hết sức quan trọng. Theo phân tích thống kê,
những câu ca dao, tục ngữ nói về quan hệ gia đình, dịng họ chiếm tới trên
77% tồn bộ những câu nói về quan hệ xã hội. Khơng phải ngẫu nhiên mà
những người phương Tây đến Việt Nam vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ này
đã đưa ra nhận xét: "Tinh thần gia đình là đặc tính cơ bản nhất của con
người Việt Nam thuộc tất cả mọi tầng lớp. Đối với họ, gia đình là tất cả" 4.


Hoặc "Gia đình là cơ sở, là hạt nhân của xã hội An Nam. Đó là một trục
trung tâm mà mọi lợi Ých, mọi ý nghĩ đều quay xung quanh nã"5.
Có thể nhận thấy rằng trong truyền thống cộng đồng Việt Nam, Ýt

thấy những quan hệ trực tiếp giữa cá nhân với các cộng đồng lớn mà
thường là quan hệ trách nhiệm giữa các cấp cộng đồng. Mét gia đình (hay
rộng ra là một gia tộc) có trách nhiệm với xóm làng, làng có trách nhiệm
với nước và ngược lại. Do đó, suy cho cùng, một cá nhân bình thường chỉ
có vai trị trong khn khổ gia đình họ mà thơi, cịn ra đến cộng đồng lớn,
cá nhân khơng được coi là chủ thể độc lập mà luôn luôn phải đặt mình
trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng. Cũng chính vì thế mà nói đến
truyền thống tương trợ, giúp đỡ nhau cũng thường thể hiện ở cấp gia đình
trở lên. Cùng với đặc điểm này, tính chất của cộng đồng cư dân Việt đã góp
phần làm nên nhiều truyền thống tín ngưỡng liên quan đến gia đình, dịng
họ mà tiêu biểu nhất là truyền thống thờ cúng tổ tiên. P.Ory đã rất có lý khi
đưa

ra

nhận

xét:

"Đối với người dân An Nam, cái có tính chất truyền thống nhất và thiêng
liêng nhất chính là đạo thờ cúng tổ tiên"6.
Cơ sở kinh tế - xã hội chủ yếu của truyền thống cộng đồng là làng
xã và gia đình mà người Việt quen gọi là làng - nhà.
Nguồn gốc của làng xã Việt Nam thuộc loại hình cơng xã nơng thơn
kiểu Á châu mà đặc trưng cơ bản nhất là lúc ban đầu, toàn bộ ruộng đất đều
thuộc quyền sở hữu và quản lý của cơng xã. Cơng xã có thể giành một phần
ruộng đất để cày cấy chung nhằm cung cấp sản phẩm cho những hoạt động
cộng đồng và phần lớn ruộng đất được phân chia cho các gia đình thành
viên sử dụng.
Mỗi làng là một đơn vị tự cư bao gồm một số gia đình sinh sống

trên một khu vực địa lý nhất định. Quan hệ láng giềng, sự gắn bó với nhau
trên cùng một địa bàn cư trú, sinh sống gần gũi nhau, cần liên kết với nhau


trong cuộc sống là đặc điểm chung của công xã nơng thơn. Trong làng, gia
đình là đơn vị sinh hoạt và sản xuất, lại còn liên kết với nhau theo quan hệ
huyết thống thành họ. Làng Việt Nam vì thế là một thứ làng - họ, trong đó
quan hệ láng giềng liên kết với quan hệ huyết thống.
Trải qua tiến trình lịch sử, cơng xã dần dần biến đổi, từ bên trong
làng, chế độ tư hữu ruộng đất xuất hiện và càng ngày càng lấn át ruộng đất
công xã, sự phân hóa xã hội gia tăng. Cơng xã bị phong kiến hóa, trở thành
đơn vị xã hội - hành chính của nhà nước phong kiến với tên gọi phổ biến là
xã và ruộng đất công xã thuộc quyền sở hữu của Nhà nước đứng đầu là nhà
vua. Do quá trình lịch sử và hoàn cảnh khai hoang, vào thế kỷ XVIII - XIX,
làng xã miền Bắc, Trung và Nam cũng như giữa cỏc vựng của mỗi miền có
những đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, mẫu chung của nông thôn Việt Nam
là sự bảo tồn lâu dài kết cấu kinh tế - xã hội của cơng xã nơng thơn với tính
cộng đồng cao và quyền tự trị tương đối của làng xã.
Bên trong làng xã là cả một hệ thống cộng đồng liên kết các thành
viên lại với nhau bằng nhiều hình thức tổ chức theo quan hệ địa lý (thụn,
xúm, ngừ...), huyết thống (họ gồm đại tông, tiểu tông và các chi...), đẳng
cấp xã hội (quan viên, tư văn, tư võ...), nghề nghiệp (hội, phường, phe...
của người đi buôn, làm nghề thủ công...), tuổi tác (giáp, đồng niên, đồng
môn...), tương trợ (hội hiếu, hội hỷ, hội chơi họ, hội ăn tết...)... Cấu trúc
cộng đồng bên trong làng xã hết sức đa dạng, phong phú, gắn bó các thành
viên trong nhiều tổ chức cộng đồng theo cấp độ và loại hình khác nhau.
Tế bào của làng xã và của xã hội nói chung là gia đình. Gia đình
Việt Nam thuộc loại gia đình nhỏ hay cịn gọi là gia đình hạt nhân, gồm của
yếu hai thế hệ cha mẹ và con cái. Loại gia đình này ra đời rất sớm trong
lịch sử và tồn tại cho đến tận ngày nay.

Hiện nay, gia đình Việt Nam đang trải qua nhiều biến động, nhưng
trước sau gia đình là tế bào cơ sở của xã hội, dựa trên quan hệ huyết thống


và tình cảm, ràng buộc mọi thành viên trong ý thức trách nhiệm và quyền
lợi mang ý nghĩa bền chặt và thiêng liêng gắn với tục thờ cúng tổ tiên. Gia
đình Việt Nam giữ một vai trị rất quan trọng trong phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, trong kế thừa văn hóa và giáo dục truyền thống. Gia đình là
đơn vị kinh tế trong nền sản xuất tiểu nông truyền thống. Gia đình là đơn vị
sản sinh và ni dạy con cái, tái sản xuất con người và phát triển nịi giống,
là nơi hình thành nhân cách ban đầu của thế hệ trẻ, bảo tồn và phát huy di
sản văn hóa dân tộc. Trong cuộc sống làng xã, chính từ gia đình, người
nơng dân, người thợ thủ cơng tích lũy kinh nghiệm, trau dồi nghề nghiệp và
truyền lại cho con cháu.
Với một cộng đồng đa dạng, phong phú của làng xã như vậy, để
đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế, hầu như làng nào cũng có những quy
định riêng gọi là lệ làng hay hương ước. Làng thực sự là mét đơn vị có tổ
chức khá chặt chẽ và đóng vai trị chính yếu trong việc bảo vệ và củng cố
mối quan hệ cộng đồng. Trong ý nghĩa nguyên khai, cộng đồng làng xã là
tổ chức bảo vệ lợi Ých của các thành viên và vì vậy nó được mọi người
thừa nhận và góp phần củng cố. Tinh thần đoàn kết, tương trợ cũng được
thể hiện chủ yếu và đậm nét trong phạm vi làng. Có thể thấy tình làng,
nghĩa xóm của người Việt là sự mở rộng quan hệ gia đình. Người ta quan
niệm làng như một gia đình lớn mà mỗi thành viên có trách nhiệm quan
tâm giúp đỡ nhau, bênh vực nhau trong những lúc cần thiết. Do đó mỗi
thành viên trong làng đều có ý thức bảo vệ danh dự của cộng đồng làng xã.
Từ một truyền thống được hình thành trong cuộc sống lao động và
sản xuất, đoàn kết, tương trợ được nhân lên, trở thành một chuẩn mực đạo lý,
một giá trị thiêng liêng của dân tộc khi người Việt luôn phải đối mặt với thảm
họa xâm lăng của ngoại bang, phải cố kết nhau lại để bảo tồn giống nòi.

2.2. Gắn liền với truyền thống cộng đồng là truyền thống dân
chủ làng xã. Để duy trì những quan hệ cộng đồng, cách ứng xử được coi


như chuẩn mực là cá nhân phải hịa mình vào tập thể là ngược lại cơ chế
quản lý làng xã phải được tổ chức sao cho đảm bảo được sự hài hòa về
quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên trong cộng đồng.
Biểu hiện rõ nét của truyền thống này là quyền được tham gia bầu
chọn ra những người đại diện, tham gia vào bộ máy quản lý làng xã. Theo
nguyên lý, những người thay mặt tập thể để điều hành cơng việc chung
phải là những người có uy tín, tiêu biểu cho tinh thần đồn kết, được tập
thể kính trọng và tin yêu. Trước những quyết định hệ trọng, dân làng được
hỏi ý kiến. Thời cổ đại, đứng đầu mỗi công xã (chiềng, chạ) là một "già
làng" ("Po Chiêng" phiên âm chữ Hán là "Bồ Chính") có uy tín và kinh
nghiệm. Trong thời kỳ phong kiến, bộ máy quản lý làng xã bao gồm hai bộ
phận. Hội đồng kỳ mục (hay hào mục, chức sắc) gồm những người có thế
lực và uy tín trong làng, giữ vai trị đại diện cho cộng đồng và chỉ đạo mọi
hoạt động của làng. Chức dịch đứng đầu là xã trưởng, sau đổi là lý trưởng,
là những người điều hành công việc trong làng và chịu trách nhiệm hoàn
thành mọi nghĩa vụ đối với chính quyền cấp trên. Chức dịch do Hội đồng
kỳ mục giới thiệu để dân làng cử và cấp trên xét duyệt, chấp nhận. Bộ máy
quản lý làng xã chuyển hóa dần thành đơn vị hành chính cơ sở, nhưng vẫn
duy trì tính tự trị tương đối của làng xã và trong giới hạn đó, vẫn mang tính
đại diện cộng đồng.
Chính kết cấu kinh tế - xã hội của làng xã và cơ chế vận hành của
bộ máy quản lý làng xã đã sản sinh ra (truyền thống dân chủ làng xã được
biểu thị tập trung trong lệ làng và hương ước). Mỗi làng có một hệ thống
phong tục, tập quán riêng tồn tại dưới dạng tập quán pháp rất có hiệu lực
được gọi là lệ làng. Từ thế kỷ XV và nhất là từ thế kỷ XVIII - XIX, tập
quán pháp truyền miệng được biên soạn lại thành văn bản gọi là hương

ước. Đó là những quy ước nhằm bảo vệ lợi Ých của cộng đồng, điều hòa
mối quan hệ giữa các thành viên trong làng và giữa làng với nước tức giữa
"lệ làng" với "phép vua". Vì thế hương ước thường được điều chỉnh, bổ


sung cho phù hợp với những biến đổi của những mối quan hệ trên vừa bảo
đảm đời sống cộng đồng và tính tự trị tương đối của làng xã, vừa thích nghi
và tơn trọng phép nước. Nói chung "lệ làng" phải phục tùng "phép vua",
nhưng cũng cú lỳc "phép vua thua lệ làng".
Kết quả nghiên cứu và thống kê định lượng một số hương ước cổ
(trước Pháp thuộc) và 78 hương ước cải lương thời Pháp thuộc cho thấy có
một số thay đổi nhưng khơng nhiều (ví dụ như tên gọi một số chức dịch
trong bộ máy quản lý, nghĩa vụ đối với nhà vua và chính quyền thực dân, lệ
phạt đánh đập và đuổi ra khỏi làng bị bãi bỏ trong hương ước cải lương...).
Nội dung cơ bản của hương ước trước hết là bảo vệ lợi Ých chung của
cộng đồng như trật tự trị an, sản xuất nông nghiệp, đê điều, thủy lợi, đường
sá và các cơng trình cơng cộng (đình làng, đền, chùa, cầu cống...), nêu cao
trách nhiệm và nghĩa vụ của các hạng chức dịch cũng như của các thành
viên đối với cộng đồng, quy định nghĩa vụ nộp tô thuế đối với cấp trên, bảo
vệ phong tục tập quán và các thứ bậc trong làng, quy định các tế lễ, hội hè
và các hình phạt vi phạm lệ làng... Những quy định của hương ước, nhất là
các hình thức khen thưởng và xử phạt phản ánh rõ hướng giá trị của đời
sống cộng đồng làng xã7.
Lệ làng giữ vai trị cơng cụ điều chỉnh hành vi của cá nhân trong
cộng đồng, được thực hiện tự nguyện chủ yếu qua dư luận cộng đồng, qua
những lời khen chê, thái độ khích lệ hay phê phán của dân làng. Trong
trường hợp cần thiết, làng áp dụng biện pháp phạt vạ hoặc những hình thức
bêu xấu, làm nhục người vi phạm nghiêm trọng lệ làng. Ngày xưa, hình
phạt cao nhất của làng là đuổi ra khỏi làng.
Trong truyền thống dân chủ làng xã Việt Nam có những biểu hiện

khá độc đáo. Thông thường dưới thời phong kiến phụ nữ và người nghèo là
những lớp người bị coi thường và hầu như khơng có quyền hành gì trong
gia đình và xã hội. Thế nhưng qua một số cơng trình nghiên cứu địa bạ gần


đây có thể thấy rằng trong bộ máy quản lý làng xã có những người hồn
tồn khơng có ruộng đất tư hữu là hiện tượng khá phổ biến ở đồng bằng
Bắc Bộ đầu thế kỷ XIX. Theo số liệu thống kê của 140 địa bạ năm 1805
của vùng Hà Đông cũ, trong sè 834 chức sắc của các làng xã vùng này có
558 người chiếm 66,91% tổng số chức sắc, có ruộng đất tư hữu và 276
người chiếm 33,09% khơng có ruộng đất tư hữu8.
Cịng theo số liệu thống kê địa bạ trên, trên dưới 20% chủ sở hữu là
phụ nữ. Quyền sở hữu ruộng đất và tài sản nói chung của phụ nữ Việt Nam
đã được Bộ luật Hồng Đức từ thế kỷ XV xác nhận. Theo bộ luật này, trong
gia đình con gái được quyền kế thừa tài sản bình đẳng như con trai, ruộng
đất của cha mẹ trừ phần ruộng hương hỏa để thờ cúng cha mẹ, còn lại chia
đều cho các con, trai cũng như gái. Tài sản của một gia đình được pháp luật
quan niệm gồm ba bộ luật tạo thành: tài sản của vợ do cha mẹ vợ chia cho,
tài sản của chồng do cha mẹ chồng chia cho và tài sản do hai vợ chồng gây
dựng nên. Khi vợ chồng li dị, tài sản của gia đình phân chia theo nguyên
tắc: tài sản của vợ trả về cho vợ, tài sản của chồng trả về cho chồng, tài sản
do vợ chồng tạo lập nên trong thời gian chung sống chia đôi, mỗi người
một nửa9. Đó là những nội dung rất độc đáo trong luật Hồng Đức mà các
nhà nghiên cứu luật học chỉ tìm thấy trong bộ luật Hồng Đức ở Việt Nam
thời kỳ phong kiến, khơng tìm thấy ở các nước Á Đông khác như Trung
Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên thời bấy giờ.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng dân chủ làng xã nói tới ở đây là một
hình thức dân chủ sơ khai. Thực chất của thiết chế dân chủ này là một hình
thức tự quản nờn cỏc thành viên giám sát lẫn nhau trở thành một yêu cầu tự
nhiên và là biện pháp quan trọng để duy trì kỷ cương. Phương thức này

chứa đựng tiềm tàng hai khuynh hướng cực đoan. Khuynh hướng thứ nhất
là tạo ra tâm lý giám sát thái quá biến thành sự can thiệp của tập thể vào
quá trình phát triển của cá thể, nhất là trong hồn cảnh bình qn chi phối
mọi quan hệ trong làng xã. Khuynh hướng thứ hai là khi dư luận không còn


được coi trọng thì những hành vi tù do, tùy tiện (vơ chính phủ) rất dễ nảy
sinh. Về một phương diện khác, truyền thống dân chủ làng xã cũng chứa
đựng tinh thần bình qn chủ nghĩa và tính cục bộ địa phương của từng
dòng họ, từng làng xã.
2.3. Cuộc sống gắn bó nhiều đời với sản xuất nơng nghiệp khiến
cho người Việt ln ln gần gũi với thiên nhiên, hịa nhập với thiên nhiên,
thích nghi với thiên nhiên, tạo nên truyền thống giản dị, chất phác, ưa đơn
giản, ghét cầu kỳ, xa hoa. Trải qua nhiều thế hệ gắn bó với thiên nhiên
cùng với những giá trị vật chất và tinh thần do sức sáng tạo của cộng đồng
sản sinh ra là những yếu tố quan trọng góp phần dung dưỡng tâm hồn và
tình cảm của người Việt Nam. Cũng nhờ đặc điểm này mà người Việt có
tấm lịng cởi mở và giàu cảm xúc, sống hòa đồng với cộng đồng và với
thiên nhiên. Trong một cơng trình nghiên cứu về tài năng trẻ Việt Nam, các
số liệu thống kê cho thấy trong sè 11 lĩnh vực mà các tài năng trẻ đã biểu
hiện thì văn hóa là lĩnh vực có tần số xuất hiện cao nhất10.
2.4. Những mặt khác, sản xuất nông nghiệp với cơ sở kinh tế tiểu
nông và những điều kiện lao động thơ sơ địi hỏi con người phải lao động
vất vả, cực nhọc. Đặc biệt là trong điều kiện của thiên nhiên Việt Nam
nắng lắm, mưa nhiều, Èm thấp, có nhiều hạn hán, lũ lụt và dịch bệnh. Q
trình vật lộn với những khó khăn thử thách đó để lao động sản xuất và tạo
dựng cuộc sống đã rèn đỳc nờn truyền thống cần kiệm, chịu thương chịu
khó, giỏi chịu đựng gian khổ. Thậm chí chịu khổ còn trở thành một lối
nghĩ, một triết lý sống được nhiều người chấp nhận. Có thể bắt gặp khơng
Ýt những thành ngữ dân gian như "đói sạch, rách thơm" hay triết lý "an

bần, lạc đạo"... trong ngôn ngữ của người Việt.
2.5. Trước khi bước vào thời kỳ định cư lấy trồng lúa nước làm
nghề sản xuất chính, tổ tiên của người Việt hồn tồn khơng trải qua hình
thức kinh tế du mục như nhiều dân tộc ở châu Âu và bắc Á. Đây cũng là


đặc điểm chung của cả khu vực Đông Nam Á. Do đó gần như thiếu hẳn
một truyền thống kén chọn thủ lĩnh theo lối đọ sức, đua tài kiểu du mục.
Đặc trưng nổi bật của nông nghiệp trồng lúa là tính ổn định của quy
trình sản xuất và phẩm chất được đề cao là dạy dạn kinh nghiệm, thông
thạo thời tiết, mùa màng. Phẩm chất này chỉ thường có ở những người lớn
tuổi. Do đó có vai trị lớn trong sản xuất và trong đời sống xã hội ở các làng
quê là cỏc "lóo nụngười tri điền", những người "sống lâu lên lão làng".
Tryền thống kinh nghiệm, trọng tuổi tác, trọng người già được hình thành
chủ yếu là do vậy. Nhưng cũng xuất phát từ truyền thống này lại nảy sinh
vấn đề quyền lực người già mà các nhà nghiên cứu thường gọi là "lão
quyền". Ảnh hưởng của loại quyền lực này nhiều khi có ảnh hưởng tiêu cực
đến sự phát huy vai trị và vị trí xã hội của tầng lớp những người trẻ tuổi.
2.6. Còng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp truyền thống lấy
kinh tế tiểu nơng mang nặng tính tự cung tự cấp làm đơn vị và cơ sở, người
sản xuất khơng quen hạch tốn kinh tế. Đối với kinh tế nông nghiệp truyền
thống hầu như mọi tư liệu vật chất phục vụ cho sản xuất đều có sẵn trong
tay người nơng dân. Giống má thì dành từ mùa thu hoạch trước cho vơ sau,
phân bón thì có sẵn trong chuồng lợn và đặc biệt khơng bao giờ họ tính
tốn đến cơng sức của mình bỏ ra. Sù lo toan chủ yếu chỉ tập trung vào chu
trình sinh trưởng và chăm sóc của cây lúa theo thời vụ.
Từ đõy đó hình thành một tập tính kém hạch tốn, khơng quen
lường tính xa. Hơn thế, sự thành bại của nơng nghiệp hồn tồn bị phụ
thuộc vào thiên nhiên nên dễ tạo ra tâm lý cầu an, cầu may và "ăn xổi".
2.7. Di tồn dưới dạng tập quán của sản xuất nông nghiệp theo lối

kinh tế tiểu nơng - một loại hình lao động tương đối tự do, còn được biểu
hiện ở tác phong tùy tiện, tản mạn, kỷ luật khơng chặt chẽ. Sự thực là vì
sản xuất nơng nghiệp tiểu nơng khơng cần tới những tính toán chuẩn xác và
sự hiệp đồng thật chặt chẽ.


Hầu hết các cư dân nông nghiệp trên thế giới đều có chung đặc tính
này. Nhưng q trình cơng nghiệp hóa với những địi hỏi khắt khe của sản
xuất nơng nghiệp, lối sống tùy tiện, thiếu kỷ luật chặt chẽ dần dần được
thay thế bằng tác phong chuẩn xác, có kỷ luật thường được gọi là tác phong
công nghiệp. Việt Nam chưa trải qua thời kỳ cơng nghiệp hóa nên ảnh
hưởng của lối sống nơng nghiệp cịn rất đậm nét trong mọi mặt của đời
sống xã hội.
3. TÁC ĐỘNG HẰNG XUYấN CỦA HỒN CẢNH LỊCH SỬ

Vị trí địa lý chiến lược của Việt Nam và hoàn cảnh lịch sử của dân
tộc Việt Nam sinh ra và lớn lên bên cạnh đế chế Trung Hoa lớn mạnh đã
trở thành nhõn tố quan trọng tạo ra những điều kiện lịch sử thường xuyên
tác động đến lịch sử, cuộc sống và truyền thống Việt Nam.
Từ khi đế chế Tần (221 - 206 Tcn) thành lập cho đến đế chế Thanh
(1644 - 1911), không một triều đại phong kiến Trung Quốc nào không Ýt
ra một lần xâm lược Việt Nam và có những thời kỳ đất nước bị đô hộ kéo
dài hàng chục, hàng trăm năm như thời Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ, thời Minh
thuộc 20 năm.
Tiếp theo đó, trong thời kỳ cận đại và hiện đại, khi chủ nghĩa thực
dân bành trướng sang phương Đơng thì Việt Nam lại phải đương đầu với
những cường quốc đế quốc chủ nghĩa trên thế giới. Đó là những cuộc
kháng chiến và đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân kéo dài trên một thế kỷ,
chống đế quốc Pháp rồi phát xít Nhật, đế quốc Mỹ.
Kể từ kháng chiến chống Tần thế kỷ 3 Tcn đến những cuộc chiến

tranh vừa kết thúc trong thế kỷ 20 này, tính ra thời gian cống ngoại xâm,
bao gồm cả kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống đô hộ, đã lên đến trên
12 thế kỷ, chiếm quá nửa thời gian lịch sử. Đặc điểm đáng lưu ý ở đây là
độ dài thời gian và tần số xuất hiện, số lượng các cuộc kháng chiến và khởi
nghĩa, chiến tranh giải phóng quá lớn so với các quốc gia, dân tộc khỏc


trờn thế giới. Hơn nữa, hầu hết các cuộc kháng chiến lại diễn trong so sánh
lực lượng rất chênh lệch, trong điều kiện chiến đấu rất ác liệt. Trong lịch
sử, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu với nhiều đế chế lớn mạnh ở
phương Đông thời cổ - trung đại và nhiều cường quốc đế quốc chủ nghĩa
thời cận - hiện đại. Vì vậy, con đường sống cịn và chiến thắng của dân tộc
ta là phải huy động cao độ sức mạnh mọi mặt của đất nước, sức mạnh vật
chất và tinh thần của cả cộng đồng dân tộc. Lịch sử chống ngoại xâm với
những đặc điểm như thế đã tác động đến tồn bộ tiến trình lịch sử Việt
Nam, đến cuộc sống của cộng đồng các dân tộc và để lại dấu Ên đậm nét
trong nhiều truyền thống Việt Nam. Đó là chủ nghĩa u nước, tinh thần
đồn kết dân tộc, ý chí quật cường bất khuất, niềm tự tơn dân tộc, trí thơng
minh sáng tạo.
Trờn cái nền rộng lớn của những truyền thống nói trên, rất nhiều
truyền thống khác cũng đã được hình thành. Một trong những biểu hiện dễ
thấy là truyền thống sùng bái và thờ cúng anh hùng. Hầu như ở bất cứ đõu
trờn đất nước Việt Nam cũng có thể tìm thấy những đền thờ các nhân vật
lịch sử có cơng lao với dân tộc. Họ được nhân dân suy tôn thành những vị
thần linh quanh năm được thờ cúng. Sự cúng tế các vị thần này ngồi ý
nghĩa trân trọng cơng lao cịn hàm ý cầu mong những vị thần - anh hùng
che chở cho dân làng thoát khỏi những hiểm họa chiến tranh và giặc giã
vốn xảy ra rất thường xuyên trên đất nước Việt Nam.
Còng do tác động của truyền thống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, ở Việt
Nam đã hình thành nên truyền thống thượng võ khá đặc sắc của dân tộc.

4. TÁC ĐỘNG CỦA MƠI TRƯỜNG VĂN HĨA KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI

4.1. ói tới tác động văn hóa khu vực, trước hết phải nói tới cơ
tầng văn hóa Đơng Nam Á. Tuy ở mỗi nước đều có biến thái riêng nhưng
tất cả các nước Đông Nam Á đều có một mẫu số chung về văn hóa. Đây là
mét khu vực tiếp xúc giữa đại lục và hải đảo, nằm trong vùng nhiệt đới gió


mùa, nơi đầu mối của các đường giao thông tự nhiên nối liền với lục địa và
tỏa ra các hải đảo qua những con đường hàng hải nối liền Ên Độ Dương
với Thái Bình Dương. Do điều kiện tự nhiên đó, Đơng Nam Á là nơi giao
thoa gặp gỡ của nhiều tộc người trờn cỏc đường thiên di, nơi giao lưu rộng
rãi của các nền văn hóa trong khu vực và với những nền văn hóa lớn trên thế
giới.
Trước đây, Đông Nam Á không được coi là một khu vực văn hóa,
mà chỉ được coi như khu vực nằm giữa hai nền văn minh Trung Quốc, Ên
Độ và thuộc phạm vi của vựng "ấn Độ húa" (hindouisộ) hay "Trung Quốc
hóa" (sinisộ). Từ quan niệm này, xuất hiện các tên gọi như bán đảo Trung Ên hay Ên Độ - Chi Na (Indochine/Indochina) và ba nước Việt Nam, Lào,
Cămpuchia thời thuộc Pháp gọi là "ấn Độ China thuộc Pháp (hay Đông
Dương thuộc Pháp, Indochine francaise). Tên gọi Indonesia cũng có nghĩa
là Ên Đảo (Indonesia = Inde (ấn Độ) + esia (đảo)). Những kết quả nghiên
cứu về khảo cổ học, cổ nhân học, lịch sử, văn hóa... của những thập kỷ gần
đây đã cho phép bác bỏ quan niệm đó. Từ thời tiền sử và sơ sử xa xưa,
Đông Nam Á đã là một khu vực văn hóa khá phát triển và có một cơ tầng
văn hóa chung. Vào những thế kỷ trước và đầu công nguyên, văn minh
Trung Quốc và Ên Độ bắt đầu mở rộng ảnh hưởng vào khu vực này và mỗi
nước trong khu vực tiếp thu những ảnh hưởng văn hóa của hai trung tâm
văn minh lớn này dưới nhiều phương thức và mức độ khác nhau, nhưng
vẫn bảo tồn được bản sắc văn hóa riêng của mỗi nước.
Về phương diện lịch sử và kinh tế, Đông Nam Á là một trong

những khu vực xuất hiện sớm của con người, một trong những cái nôi của
"cách mạng đá mới" với sự ra đời sớm của nghề trồng trọt, nghề nông
nguyên thủy và nằm trong địa bàn quê hương của nghề trồng lúa nước.
Về phương diện địa lý - văn hóa, địa - lịch sử, Việt Nam gắn bó với
khu vực Đơng Nam Á, có mẫu số chung với văn hóa khu vực dựa trên nền


tảng văn minh nông nghiệp trồng lúa nước của xứ nhiệt đới, một xã hội
xóm làng với kết cấu cộng đồng cao, một quốc gia nhiều tộc người với
nhiều lối sống và quan hệ ứng xử gần gũi. Dĩ nhiên trên cơ tầng văn hóa
chung đó, Việt Nam cũng như mỗi nước Đơng Nam Á có những bản sắc
văn hóa riêng do điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử cụ thể quy định.
4.2. Việt Nam ở vào một khu vực giao tiếp của nhiều nền văn hóa
lớn trên thế giới, trước hết và quan trọng nhất là hai nền văn minh lớn của
nhân loại: Trung Hoa và Ên Độ.
Dưới ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, nhiều yếu tố văn hóa
mới đã được du nhập vào Việt Nam, trong đó ảnh hưởng rõ nét nhất là Nho
giáo. Những chuẩn mực Khổng giáo được hòa trộn và điều chỉnh bởi các
giá trị vốn có của người Việt đã tạo nên một số truyền thống, trong đó hiếu
học là một nội dung quan trọng. Trong các phẩm chất được đề cao, đối với
người Việt Nam, đạo hiếu và chữ nghĩa là quan trọng nhất. Cũng do ảnh
hưởng của văn minh Trung Hoa, ở Việt Nam đã hình thành truyền thống
trọng tước, thích làm quan và coi quan tước là một thang bậc đánh giá sự
tiến bộ của một cá nhân.
Ảnh hưởng đáng kể nhất của văn minh Ên Độ ở Việt Nam là Phật
giáo. Tuy nhiên, Phật giáo Việt Nam có khác biệt với Phật giáo Ên Độ. Sự
truyền bá rộng rãi tư tưởng Phật giáo đã góp phần cùng với những tính
cách của cư dân bản địa tạo nên truyền thống nhân ái, vị tha và bao dung
của người Việt.
Chính do sù giao lưu và tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa

Trung Quốc và Ên Độ mà Việt Nam vừa thuộc cơ tầng văn hóa Đơng Nam
Á, vừa mang những đặc điểm gần với văn hóa Đơng Á và Nam Á, và cũng
vì vậy có người muốn xếp Việt Nam vào văn hóa Đơng Á cùng với Triều
Tiên, Nhật Bản11.


Từ thế kỷ XVI - XVII, Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với văn minh
phương Tây qua hoạt động của một số thương nhân v à giáo sĩ người Bồ
Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp. Qua sự tiếp xúc và giao lưu
văn hóa này, Việt Nam tiếp nhận một số ảnh hưởng văn hóa và kỹ thuật
phương Tây mà sản phẩm tiêu biểu nhất là sự xuất hiện chữ quốc ngữ trên
cơ sở dùng chữ cái La tinh để ghi âm tiếng Việt. Dưới thời Pháp thuộc,
nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Pháp,
nhưng cũng tiếp nhận nhiều ảnh hưởng tích cực của văn hóa Pháp, nhất là
những quan niệm mới về tự do, bình đẳng, bác ái.
Cũng từ đầu thế kỷ xét xử, qua những hoạt động của Nguyễn Ái
Quốc, chủ nghĩa Mác - Lờnin dần dần truyền bá vào Việt Nam. Tiếp theo
đó, sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và những cao trào cách mạng do
Đảng lãnh đạo dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, hệ tư
tưởng mới này trở thành hệ tư tưởng chỉ đạo trong việc hoạch định đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và từ đó cũng dần dần tác
động đến những truyền thống Việt Nam, làm biến đổi một số truyền thống
cổ và nảy sinh những truyền thống mới.
Sù giao lưu và tiếp biến văn hóa rộng rãi và lâu dài vừa làm phong
phú, đa dạng nền văn hóa dân tộc Việt Nam, vừa tạo cho con người Việt
Nam một thái độ khơng đóng kín, thu mình lại đối với thế giới bên ngồi,
và tương đối cởi mở, dễ dàng tiếp nhận những cái hay, cái mới của nước
ngoài, dễ dàng hội nhập với cộng đồng khu vực và thế giới.
Những nội dung của truyền thống Việt Nam được nêu trên đây chưa
thể coi là đầy đủ, bởi vì đi sâu vào truyền thống cịn phải nghiên cứu kỹ

từng mặt, từng lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như phải xem xét kỹ từng
loại hình và cấp độ của tổ chức cộng đồng.
Trên đây, theo chúng tôi, mới chỉ là những nét khái quát chủ yếu
của truyền thống Việt Nam, được hình thành bởi những tác động cơ bản và


thường xuyên nhất. Mặc dù vậy, những nội dung truyền thống này có ý
nghĩa chi phối các nội dung truyền thống khác. Những vấn đề nêu ra ở đây
cũng chưa nhằm đánh giá, nhận định những mặt tích cực hoặc tiêu cực của
các truyền thống, mà mới là chỉ ra các truyền thống cơ bản cùng với một số
luận giải về nguồn gốc, cơ sở hình thành và nội dung chủ yếu của các
truyền thống đó.
Chúng tơi thấy cũng cần phải nhắc lại trong kết luận này là truyền
thống cùng với những nội dung xác định của nó hình thành không phải chỉ
do tác động của một nhân tố riêng biệt nào đó mà ln ln là kết quả của
những tác động của đa nhân tố. Nhưng dù thế nào thì trong q trình hình
thành đó cũng có những nhân tố đóng vai chủ đạo. Cách tiếp cận của chúng
tơi ở đây, một mặt muốn làm đơn giản sự nhận diện nội dung của các
truyền thống, mặt khác cũng là muốn nhấn mạnh các yếu tố đóng vai trị
chủ đạo trong việc hình thành nội dung của một truyền thống nào đó.
Chú thích
1.

J.V. Tavernier: Relation nouvelle et singuliốre du royaume de Tonkin,
R.I. 1908 - 1909.

2.

Vò Minh Giang - Vũ Văn Quân: Biểu hiện của truyền thống Việt
Nam qua phân tích thống kê "Tục ngữ phong dao". Trong sỏch Cỏc

giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, Tập I, Hà Nội,
1994, tr. 72-107.

3.

Nguyễn Văn Ngọc: Tục ngữ phong dao Việt Nam, Nxb tác phẩm. Hồ
Chí Minh, 1991.

4.

J. Boissiere: L' Indochine avec les francaises, Paris 1890, tr. 58.

5.

J.L.Lanessan: Le Tonkin et la mốra. Paris 1890, tr.266.

6.

P. Ory: La commune Anamite au Tonkin, Paris 1894. Bản dịch, Hà
Nội, 1992, tr.25.


7.

Bựi Xuõn Đớnh: Truyền thống Việt Nam qua tư liệu hương ước,
Trong Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, T.I,
Hà Nội, 1994, tr. 154 - 225.

8.


Nguyễn Quang Ngọc: Một số định hướng giá trị được phản ánh trong
hương ước cải lương của các làng thuộc huyện Chương Mỹ đầu thế kỷ
XX. Trong Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay,
T.II, Hà Nội, 1996, tr. 196 - 243.

9.

Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang - Vũ Văn Quân - Phan Phương Thảo:
Địa bạ Hà Đơng, Hà Nội, 1995.

10. Quốc triều hình luật, Hà Nội, 1991, điều luật 388, 391, 374, 375.
11. Vò Minh Giang: Một số suy nghĩ về tài năng trẻ trong lịch sử Việt
Nam. Thông báo khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo số I/1993.
12. Arnold Toynbee: A Study of History. Oxford University Press,
London 1972.
Leon Vandermeersch: Le nouveau monde sinisộ. Paris 1986.


Chương 2
NHỮNG TRUYỀN THỐNG TIÊU BIỂU. CÁI CHUNG
VÀ CÁI RIấNG CỦA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC

1. CÁI CHUNG VÀ CÁI RIấNG TRONG DƯ ĐỊA CHÍ VÀ ĐỊA
PHƯƠNG CHÍ XƯA VÀ NAY

1.1. Thế kỷ XV Nguyễn Trãi viết Dư địa chí và những bạn của ông
là Lý Tử Tấn, Nguyễn Thiờn Tớch, Nguyễn Thiờn Tỳng viết cẩn án và
thông luận cho sách này chắc chắn đã nhận rõ cái chung và cỏi riờng trong
truyền thống các cộng đồng cư dân Đại Việt qua quá trình phát triển lịch sử
và điều kiện địa lý nhân văn. Các ông không chỉ phân biệt phạm vi khu vực

hành chính các trấn xứ, đặc điểm kinh tế mà cũng phân biệt phong tục tập
quán từng địa phương. Khi bàn về đất Bắc Giang (Hà Bắc) Lý Tử Tấn viết:
"Người vùng Kinh Bắc hay oán giận hung tợn, đầu thời thái bình cũng
thường ngang ngạnh. Thần trước làm chức hành khiển ở đạo Êy, tâu bày
việc nơi biên cảnh, có xin tăng qn số phịng thủ". Khi nói về đất Hải
Dương, ơng viết: "Đạo Hải Dương đất tốt, người hung hãn. Thời thái bình
thì thuận tịng, thời loạn thì cường ngạnh, từ Đinh Lê đến giờ vẫn thế".
Hoặc khi nói đến Nghệ An, ơng viết: "Ở Nghệ An, lòng người nham hiểm
hung hãn hơn người Châu Ái... Đường sá xa xôi thủy thổ thường quen, các
triều đại lấy nơi đó để chế ngự những man di ở phía Tây Nam" 1. Lý Tử Tấn
cũn nờu một số đặc điểm phong tục tập quán, tính nết con người cỏc vựng
Sơn Tây, Sơn Nam, Thuận Hóa, Quảng Nam, có tốt, có xấu, có ưu điểm và
nhược điểm, theo con mắt của nhà cai trị lúc bấy giờ.
Thế kỷ XVII Dương Văn An viết Ô châu cận lục, thế kỷ XVIII Lê
Quý Đôn viết Phủ biên tạp lục, Trần Danh Lâm viết Hoan châu phong thổ
chí, Bùi Dương Lịch viết Nghệ An ký. Sang thế kỷ XIX, hàng loạt sách dư
địa chí được biên soạn cẩn thận, chi tiết và đa dạng. Các tác giả Lê Quang


×