Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (471.47 KB, 53 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn chuyên đề :
Theo kết quả giải quyết việc làm,phát triển thị trường lao động,vào năm 2009, cả
nước có 57 triệu người trong độ tuổi lao động , trong đó 43,8 triệu người có việc
làm, chiếm 51,1% dân số. Trong năm này, nước ta đã tạo được việc làm mới cho
1,51 triệu lao động ,trong đó, giải quyết việc làm trong nước khoảng 1,6 triệu lao
động , ngoài nước khoảng 73 nghìn lao động, tuyển mới dạy nghề đạt 104,5% kế
hoạch; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 11,3%, việc triển khai Đề án hỗ trợ các
huyện nghèo xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững giai
đoạn 2009-2020, đến nay đã có 3.500 người được đào tạo nghề, học ngoại ngữ,
trong đó có 1.000 người đã được xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài. Cơ cấu lao
động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ lệ lao động làm việc
trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp và tăng trong khu vực công nghiệp, xây dựng
và thương mại dịch vụ.
Đứng trước thềm 2010, chỉ tiêu đặt ra là việc làm trong nông nghiệp giảm xuống
còn 40% vào năm 2015; đạt cơ cấu kỹ năng của lực lượng lao động ở mức 60%
lao động qua đào tạo và 40% lao động qua đào tạo nghề vào năm; tỷ lệ thất
nghiệp đô thị dưới 5% , với tốc độ tăng này cùng với bối cảnh kinh tế đất nước
ngày càng khởi sắc, Việt Nam có thể thực hiện được mục tiêu giảm tỷ lệ lao
động trong nông nghiệp đã đề ra .
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, yếu tố chuyển dịch lao động rất quan trọng
trong việc xây dựng, phát triển thị trường lao động. Cùng với quy định về cung
cầu, tiền lương, quan hệ lao động, thì chuyển dịch lao động được coi là vấn đề
mấu chốt.
Hiện nay , nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển , tuy nhiên tình trạng thất
nghiệp vẫn còn là vấn đề nan giải tạo sức ép lớn về lao động và việc làm, do đó
xuất khẩu lao động là một hướng giải quyết hữu hiệu và ngày càng được chú
trọng nhằm giải quyết việc làm cho người lao động trong nước, tăng thu nhập,
tạo sự ổn định và phát triển đất nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm
2006) về xuất khẩu lao động lại tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết của
Đại hội: “Đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Xây dựng và thực hiện đồng bộ, chặt


1
chẽ cơ chế chính sách về tạo nguồn lao động đưa lao động ra nước ngoài, bảo vệ
quyền lợi và tăng uy tín của người lao động Việt Nam ở nước ngoài”.
Tuy nhiên, yêu cầu về xuất khẩu lao động ngày càng khắt khe về trình độ lao
động, kỹ năng tay nghề, về kỹ luật lao động và ngoại ngữ, nhất là đối với công
việc trong các công xưởng, nhà máy. Hiện lao động của nước ta ra nước ngoài cơ
bản đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp nước sở tại tuy nhiên tay nghề, trình độ
còn hạn chế, gây khó khăn khi thâm nhập vào thị trường lao động của các nước
có nền kinh tế phát triển.Vậy xuất khẩu lao động ở nước ta nói chung và các địa
phương nói riêng có đặc điểm như thế nào? chúng ta phải làm gì để cho lao động
Việt Nam ngày càng đứng vững và khẳng định được thương hiệu trên thị trường
lao động quốc tế ?.Để trả lời được câu hỏi lớn đó không phải dễ dàng bởi lẽ nó
bao gồm nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau.Tuy nhiên nếu
xét trên cấp độ vi mô thì thông qua một điển hình chúng ta có thể trả lời một
phần câu hỏi đó,vì vậy nhóm em quyết định chọn đề tài xuất khẩu lao động và
chọn tỉnh Nghệ An,một trong những điển hình có số lao động xuất khẩu hàng đầu
trong cả nước làm địa điểm nghiên cứu để hiểu rõ hơn về hoạt động xuất khẩu
lao động ở địa phương này.
2.Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào việc làm rõ thực trạng,nguyên nhân và giải pháp
cho vấn đề xuất khẩu lao động hiện nay ở tỉnh Nghệ An
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Nghệ An và đối tượng là lực lượng lao
động ra nước ngoài làm việc trong những năm gần đây bằng các hình thức và
không trái với pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước sở tại.
4.Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng tài liệu có được từ việc thống kê tổng kết vấn đề xuất khẩu lao
động của nhiều nguồn khác nhau kết hợp hai phương pháp diễn giải và quy nạp
để làm rõ mục tiêu đã đặt ra.
2

5.Nguồn số liệu
Niêm giám thống kê năm 2008 tỉnh Nghệ An – Biên soạn Chi cục Thống kê Nghệ An
Niên giám thống kê năm 2007 - Chi cục thống kê Nghệ An
Niên giám thống kê xuất bản năm 2009 tỉnh Nghệ An – Biên soạn Chi cục Thống
kê Nghệ An
Báo cáo kinh tế xã hội tỉnh nghệ an năm 2009
6.Kết cấu:
Chương I
1.Một số khái niệm......................................................................
2.
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1.1.Một số khái niệm :
Thuật ngữ xuất khẩu lao động được sử dụng ở Việt Nam để chỉ hoạt động chuyển
dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác.Tham gia vào quá trình này
gồm hai bên: Bên nhập khẩu lao động và bên xuất khẩu lao động.
Nghị định số 152/NĐ-CP nêu rõ :“ Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt
động kinh tế -xã hội góp phần phát triển nguồn lực, giải quyết việc làm ,tạo thu
nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động,tăng nguồn thu ngoại tệ
cho đất nước…cùng với giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, xuất
khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng,lâu dài, góp phần xây
dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ….”.
4
Theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam, “Người lao động đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam, cư trú tại Việt Nam,có đủ các
điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận
người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Nhà nước ta cũng thể hiện sự quan tâm đối với hoạt động này thông qua việc

khuyến khích các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân tìm kiếm và mở rộng
thị trường lao động nhằm tạo việc làm ở nước ngoài cho người lao động Việt
Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật nước sở tại và
điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập. Đồng thời Đảng và Nhà
nước còn thể hiện sự quan tâm cụ thể trong việc chỉ đạo, thu hút được sự quan
tâm của các ngành, các cấp và các đoàn thể cũng như gia đình và bản thân người
lao động trong hoạt động xuất khẩu lao động.
1.2. Các hình thức Xuất khẩu lao động :
Điều 134a – Bộ luật lao động đã có quy định,Xuất khẩu lao động có thể được
thực hiện thông qua 4 hình thức :
Đ ư a lao động đ i b ồ i d ưỡng, h ọ c ng h ề, nâng cao trình độ và làm vi ệ c có
t h ời gian ở n ước
ngoài.

Đây
là hình thức được chúng ta thực hiện chủ yếu
trong giai đoạn 1980 -1990. Thông qua việc ký hiệp định hợp tác, sử dụng lao
động với các nước: Liên xô (cũ), CHDC Đức, Tiệp Khắc trước đây, lao động
của nước ta ở tại các nước này được sống, sinh hoạt theo đoàn, đội, có sự
quản lý thống nhất từ trên xuống dưới và làm việc xen ghép với lao động của
các nước. Đây là hình thức được áp dụng cho cả hai đối tượng là lao động có
nghề và lao động không có nghề.
Hợp tác lao độ ng và chuyên gi a : Đây là hình thức được áp dụng đối với
các nước Trung Đông và Châu Phi trong việc cung ứng lao động và chuyên
gia sang làm việc tại một số nước. Số lao động này có thể đi theo các đoàn,
đội hay các nhóm, cá nhân…
Đ ư a lao động đ i l à m t ại các công tr ì n h doanh nghiệp Việt Nam nhân
t h ầu khoán xây dựng, liên

do a nh hay liên k ết tạo ra sản ph ẩm ở n ước ngoài hay

đ ầu



ra nư ớc ngoài. Hình thức này được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực xây
dựng. Đây là hình thức người lao động thuộc quyền quản lý của các
doanh
5
nghiệp
Việt Nam được đi nước ngoài làm việc đồng bộ tại các công trình cho
doanh nghiệp Việt Nam.
Cung ứng lao động t rực tiếp theo các yêu cầu c ủ a công t y n ư ớc ngoài
thông qua các h ợp đồ ng lao độ ng được ký k ết b ởi các doanh ngh i ệp Việt Nam
làm dị ch v ụ cung ứ ng lao đ ộ ng . Được hình thành từ sau khi có nghị định
370/HĐBT ngày 9/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) hình
thức này đã trở nên
phổ

biến
nhất hiện nay. Việc cung ứng lao động cho các tổ
chức, cá nhân nước ngoài chủ yếu được giao cho các tổ chức kinh tế có
chức năng đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Đây là các doanh
6
nghiệp chuyên doanh về XKLĐ, được Nhà nước cấp giấy phép hành nghề, thực hiện
việc ký kết,
đư
a lao động đi nước ngoài làm việc và quản lý số lao động đó theo quy
định của Nhà nước. Hình thức này đòi hỏi đối tượng lao động tương đối đa dạng,
tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc mà bên nước ngoài yêu cầu lao
động giản đơn hay lao động có tay nghề cao.

N g ười lao độ ng t r ực tiếp ký v ới cá nhân, t ổ c h ức nư ớc ngoài n h ư ng k h i làm t h ủ
t ụ c p h ải thông qua m ộ t doanh nghiệp chuyên doanh về XK L Đ để thực hiện các
nghĩa vụ, trách nhiệm với nhà nước, với tổ chức kinh tế đưa đi và cũng là để đảm bảo
quyền lợi cho người lao động trong quá trình làm việc ở nước ngoài. Hình thức này
hiện nay ở nước ta chưa phổ biến lắm. Do người lao động vẫn chưa có nhiều cơ hội
để tiếp xúc và tìm hiểu về các công ty nước
ngoài đang cần thuê lao động một cách trực tiếp và phổ biến.
XKLĐ tại c h ỗ là hình thức các tổ chức kinh tế của ta cung ứng lao động cho
các tổ chức kinh tế nước ngoài ở Việt Nam, bao gồm: Các xí nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài; các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; các tổ chức, cơ
quan ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam.
Bộ luật lao động cũng có quy định đối với những doanh nghiệp được phép đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài,bao gồm:
Doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động.
Doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài có sử dụng
lao động Việt Nam.
Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt Nam.
Tất cả các doanh nghiệp trên muốn xuất khẩu lao động thì phải được Cục quản lý lao
động Nhà nước cấp giấy phép.
7
I.KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.
1 .Lợi ích và hạn chế của Xuất khẩu lao động :
1 .1.Lợi ích của việc Xuất khẩu lao động :
Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, chúng ta đã xây dựng được
nhiều mối quan hệ kinh tế quốc tế,một trong những mối quan hệ kinh tế này là
việc hợp tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hay còn gọi
là xuất khẩu lao động .Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam đang ngày
càng mở rộng đến nhiều quốc gia và các vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, đáp
ứng một phần nhu cầu về nguồn lao động của các nước, với đủ các loại hình lao
động khác nhau,hoạt động này đã tạo cho người lao động Việt Nam nhiều cơ hội

làm việc, tìm kiếm được nguồn thu nhập tốt, góp phần tích cực vào việc giải quyết
việc làm cho xã hội .
Xuất khẩu lao động thời gian qua đã mang lại hiệu quả kinh tế đáng khích lệ, góp phần
quan trọng trong việc cải thiện đời sống cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ
cho đất nước ,nó không những làm tăng thu nhập quốc dân mà còn là cơ hội tốt để
người lao động tích lũy vốn, cải thiện đời sống và điều kiện làm việc của bản thân và
gia đình họ. Theo thống kê, đến tháng 6 năm 2009 Việt Nam đã có hơn 96.000 lao động
đi làm việc ở nước ngoài. Phần lớn, người lao động Việt Nam đi sang các thị trường
truyền thống như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Macau và một số quốc gia
Trung Đông… (95%); số còn lại sang lao động tại một số nước Châu Âu và Châu Mỹ.
Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, để đạt mục tiêu tăng số lượng lao động đi làm
việc ở nước ngoài đến năm 2010 là hơn 100.000 lao động, Cục sẽ thực hiện một số giải
pháp trọng tâm như đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người lao động sang thị trường
trọng điểm Malaysia; mở rộng các thị trường mới, thị trường có thu nhập cao, khuyến
khích xuất khẩu lao động có nghề, lao động kỹ thuật…
So với nguồn lao động dồi dào của Việt Nam hiện nay, thì việc hoàn thành chỉ tiêu trên
không phải là khó. Nếu như trong thời gian qua, các hoạt động liên quan tới việc xuất
8
khẩu lao động được thực hiện nghiêm túc, có sự quản lý tốt, thì chắc chắn con số đi lao
động ở nước ngoài còn lớn hơn nhiều, so với kết quả đã đạt được.
Mặt khác,đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài giúp Nhà nước giảm được khoản chi
phí đầu tư đào tạo nghề và tạo chỗ làm việc mới cho người lao động. Thông qua lao
động ở nước ngoài, người lao động đã nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật ,ngoại
ngữ, tiếp thu được những công nghệ và tác phong sản xuất công nghiệp tiên tiến, do đó
từng bước đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
khi họ trở về. Như vậy, hoạt động XKLĐ nước ta đã đem lại lợi ích kinh tế - xã hội
không nhỏ, góp phần trực tiếp và gián tiếp vào việc tăng tích lũy vốn cho công nghiệp
hóa.
1.1.2.Khó khăn, hạn chế :
Bên cạnh các mặt tích cực như đã nêu trên, song trước nhu cầu hội nhập và cạnh tranh

ngày càng gay gắt thì tình hình XKLĐ của Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều
thử thách to lớn, người sử dụng lao động ngày càng có điều kiện để đưa ra nhiều đòi hỏi
khắt khe hơn. Công nhân không những phải có sức khỏe tốt, có ý thức kỷ luật cao, mà
cũng phải sử dụng được ngôn ngữ của nước tiếp nhận,đây là những điểm yếu của người
lao động Việt Nam. Người lao động Việt Nam nhiều khi chưa đáp ứng được đầy đủ các
yêu cầu mà thị trường đặt ra như ngoại ngữ, tay nghề, sức khỏe và đặc biệt là ý thức kỷ
luật, tỷ lệ bỏ trốn hiện tại ở Hàn Quốc là khoảng 59,25%, Nhật Bản là 27,09%, Đài
Loan 7%. Tại thị trường Malaysia, nhiều lao động Việt Nam vi phạm kỷ luật như: uống
rượu, đánh nhau ,do đó, để phấn đấu mỗi năm có được số lượng lao động là 9 - 10 vạn
người đang còn là vấn đề khó khăn. Trong khi đó Philippin là nước trong khối Đông
Nam Á, có diện tích và dân số tương tự như Việt Nam, hàng năm họ đưa gần 1 triệu lao
động và chuyên gia đi làm việc ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới
(mỗi ngày có trên 2.500 người xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài và số ngoại tệ mà
người lao động và chuyên gia chuyển về hàng năm từ 12 - 14 tỷ USD). Thách thức lớn
nhất của XKLĐ ở Việt Nam hiện nay là chất lượng đội ngũ lao động. Chất lượng ở đây
được hiểu theo các tiêu chí bao gồm: trình độ tay nghề và kinh nghiệm làm việc, sức
khoẻ, ngoại ngữ và một khía cạnh cũng rất quan trọng là ý thức tuân thủ kỷ luật lao
động và kỷ luật sinh hoạt. Mặc dù trong thực tế nhiều chủ sử dụng lao động nước ngoài
9
có nhận xét tốt về lao động Việt Nam là cần cù, khéo tay, thích làm thêm giờ... Nhưng
nhìn chung số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong thời gian qua tỷ lệ có
tay nghề mới ở mức 30 - 35%, cộng với nhận thức và kỷ luật làm việc chưa cao...nên
thường phải chấp nhận làm việc ở nơi có thu nhập thấp và phải chấp nhận trả phí môi
giới cao thì mới có đơn hàng. Từ những nguyên nhân này cộng với môi trường một số
nước sở tại khá tự do nên tình trạng lao động Việt Nam ở một số thị trường (Đài Loan,
Nhật Bản ...) đã tự ý phá vỡ hợp đồng để ra ngoài làm việc. Đây là điều rất đáng báo
động vì nó ảnh hưởng xấu đến hàng chục nghìn người đang làm việc nghiêm chỉnh theo
hợp đồng và làm cho giới sử dụng lao động e ngại khi tuyển lao động Việt Nam (từ
năm 2004 Đài Loan đã dừng nhận lao động giúp việc gia đình của Việt Nam; nhiều
doanh nghiệp của Nhật Bản đã ghi trong hợp đồng không nhận lao động từ một số

tỉnh...). Từ đó doanh nghiệp xuất khẩu lao động không chủ động được nguồn lao động
để cung cấp cho các đơn hàng đã ký, hậu quả là các đối tác kém hấp dẫn khi đàm phán
với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của Việt Nam.
Năng lực và trình độ của các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam hiện nay cũng là một
thách thức lớn,trong tổng số trên 140 doanh nghiệp được cấp lại và cấp mới Giấy phép
xuất khẩu lao động theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng, thì có khoảng 1/3 là doanh nghiệp mạnh, bảo đảm được một số tiêu chí chính
như: tìm kiếm được các đơn hàng hấp dẫn (điều kiện làm việc, thu nhập, điều kiện
sống, đi lại tốt, không có hoặc có ở mức thấp về tiền môi giới...), tạo nguồn nhanh và
phù hợp với yêu cầu của đối tác, có cơ sở đào tạo nghề hoặc chủ động hợp tác với cơ sở
đào tạo nghề để tạo nguồn; quản lý tốt và sử lý mọi phát sinh nhanh gọn phù hợp với
pháp luật... Còn lại 2/3 số doanh nghiệp năng lực và trình độ ở mức trung bình và thấp
(năm 2007 chỉ có trên 20 doanh nghiệp và tổ chức đưa được từ 1.000 lao động trở lên đi
làm việc ở nước ngoài, 6 tháng đầu năm 2008 có 15 doanh nghiệp và tổ chức đưa được
từ 500 người trở lên đi làm việc ở nước ngoài, thậm chí có tới 33 doanh nghiệp trong 6
tháng đầu năm 2008 chỉ đưa đi được dưới 50 người).
Bên cạnh đó còn nhiều thách thức khác ảnh hưởng tới sự phát triển công tác xuất khẩu
lao động của Việt Nam, như ý thức tuân thủ hợp đồng của người lao động còn yếu; sự
cạnh tranh không lành mạnh ở một số doanh nghiệp làm công tác XKLĐ; chưa có chính
10
sách và sự gắn kết của các tổ chức trong việc bố trí sử dụng số lao động đã hoàn thành
hợp đồng về nước, chưa có một chiến lược toàn diện và lâu dài cho lĩnh vực này... đa số
người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài là nông dân, tiếp thu ngoại ngữ chậm, lại
được đào tạo trong thời gian quá ngắn, vì vậy vốn kiến thức mà họ được trang bị cũng
như học hỏi được là rất ít và không đồng bộ. Ưu điểm của số lao động này là có sức
khỏe, nhưng họ lại không có nghề nghiệp chuyên môn và chưa quen với tác phong công
nghiệp trong nền sản xuất của nước bạn. Mặt khác, hệ thống đào tạo của nước ta chưa
chú trọng về việc cho người lao động tìm hiểu cũng như có kiến thức về văn hóa, chính
trị, luật pháp cũng như những đặc trưng của nước sở tại mà họ sẽ lao động, vì vậy tạo
cho người lao động sự bỡ ngỡ khi làm việc trong môi trường hoàn toàn mới và xa lạ

này. Ngoài ra, công tác xuất khẩu lao động cũng còn bị hạn chế trong quá trình tiến
hành, mặc dù Nhà nước đã có nhiều chủ trương khuyến khích, nhưng người lao động
vẫn là người phải bỏ vốn như là khoản chi phí ban đầu cho công việc mới của họ,khoản
phí ban đầu này là quá lớn đối với người lao động, đặc biệt là đối với lao động nông
thôn không có việc làm phải đi xuất khẩu lao động. Tại Quyết định 33/2006 QĐ/TTg
ngày 07-02-2006 của Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định cần phát triển công tác xuất
khẩu lao động một cách có hiệu quả và bền vững với mục tiêu cho năm 2010 và 2015 là
hàng năm Việt Nam đưa 10 vạn lao động đi làm việc ở nước ngoài, đến năm 2010 số
lượng lao động có nghề đạt 70%, các nghề cao trở lên đạt 30% và tới năm 2015 con số
đó tương ứng là 100% và 40%.
Như vậy, bên cạnh những lợi ích to lớn mà xuất khẩu lao động mang lại, hiện nay công
tác xuất khẩu lao động vẫn đang còn nhiều hạn chế cần được khắc phục để ngày càng
có thể hoàn thiện hơn.
2.Quan điểm, chính sách và vấn đề quản lý XKLĐ :
2.1.Quan điểm XKLĐ:
Đảng và Nhà nước ta luôn cho rằng, phát triển hợp tác quốc tế trong việc tổ chức đưa
người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động
kinh tế - xã hội nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu
nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu cho đất nước và
11
tăng cường quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới. Song song với quan điểm này,
Chính phủ cũng đó ban hành nhiều văn bản quy định cụ thể về hoạt động xuất khẩu lao
động như bộ luật lao động, nghị định, thông tư hay các công văn hướng dẫn thi hành…
Quan điểm về xuất khẩu lao động được thủ tướng Phan Văn Khải khẳng định trong một
hội nghị về xuất khẩu lao động quy tụ hơn 350 đại biểu của các bộ, các ngành trên cả
nước và 5 đại sứ tại các nước có người Việt Nam ,rằng “XKLĐ và chuyên gia là một
chiến lược quan trọng trước mắt và lâu dài”.
Qua những quan điểm như trên cho thấy rằng, mặc dù đây là một hoạt động còn non trẻ,
nhưng trong tương lai với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng các cấp chính
quyền ,hoạt động này sẽ mang lại nhiều thành tựu to lớn, góp phần đáng kể trong công

cuộc Công Nghiệp Hóa đất nước.
2.2.Chính sách XKLĐ :
Nhằm đưa những quan điểm trên vào thực tiễn, Chính phủ sử dụng nhiều chính sách
khuyến khích nhằm tạo cho hoạt động xuất khẩu lao động những con đường phát triển
thuận lợi nhất. Mới đây, thông qua nghị định 81/2003/NĐ-CP, Chính phủ đã có quyết
định về việc thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động, theo đó quỹ này sẽ hỗ trợ chi phí
cho việc phát triển thị trường lao động mới, cho việc đào tạo người lao động ,việc hỗ
trợ người lao động và doanh nghiệp giải quyết rủi ro cũng như việc thưởng cho các cơ
quan, đơn vị có thành tích trong hoạt động xuất khẩu lao động. Như vậy, quỹ này ra
đời sẽ góp phần phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh
tranh của lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế, đồng thời hỗ trợ rủi ro
cho người lao động và doanh nghiệp trong hoạt động này.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có những chính sách hỗ trợ cho vay đối với người lao
động đi xuất khẩu, theo đó người lao động đi xuất khẩu lao động không thuộc diện
chính sách được vay tối đa là 20 triệu đồng mà không yêu cầu thế chấp tài sản, điều này
đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho người lao động, nhất là với những lao động nghèo ở
nông thôn – lực lượng chính của xuất khẩu lao động, những người không có tiền để
đóng góp chi phí xuất khẩu lao động hoặc không có tài sản để thế chấp. Đồng thời với
chính sách này, hồ sơ thủ tục xin đi xuất khẩu lao động cũng đã được giảm bớt và trở
12
nên đơn giản, thuận lợi hơn. Mặc dù chủ trương chính sách đó được ban hành tương đối
đồng bộ và từng bước hoàn thiện, nhưng vẫn còn chậm trong công tác triển khai vào
cuộc sống,một số ngành, địa phương đứng ngoài hoạt động xuất khẩu lao động hoặc có
tham gia nhưng thiếu triệt để, cán bộ quan liêu,hạch sách dân trong việc giải quyết thủ
tục đi xuất khẩu lao động.
Còn nhiều khoản mục cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước nhưng chưa được quan
tâm đúng mực. Ví dụ như chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với vấn đề tạo lập ,giữ
vững và phát triển thị trường ,vấn đề tư pháp quốc tế, vấn đề bảo hộ hoạt động xuất
khẩu lao động khi tham gia vào thị trường mới.…
2.2.3.Quản lý hoạt động XKLĐ :

Bộ lao động – thương binh và xã hội là cơ quan trực tiếp giúp Chính phủ quản lý hoạt
động XKLĐ.Tùy từng trường hợp mà một số cơ quan khác như Bộ tài chính, Bộ công
an, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ thương mại,Ngân hàng Nhà nước,các cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài cũng như các đoàn thể liên quan đều chịu trách nhiệm liên đới trong
việc quản lý hoạt động này.Nhằm thực hiện một cách có hiệu quả nhất, công tác quản lý
đó được tăng cường nhằm hạn chế những vi phạm của các doanh nghiệp XKLĐ cũng
như góp phần tích cực ngăn ngừa các hành vi lừa đảo của các tổ chức cá nhân ngoài xã
hội. trong thời gian qua các cơ quan chức năng đã tiến hành 140 cuộc kiểm tra và 37
cuộc thanh tra đối với các doanh nghiệp XKLĐ trong đó thu hồi giấy phép của 8 doanh
nghiệp hoạt động kém hiệu quả, đình chỉ có thời hạn 10 doanh nghiệp do vi phạm trong
buông lỏng quản lý hoặc có tỷ lệ lao động bỏ trốn cao , buộc ngưng hoạt động vô thời
hạn đối với 7 đơn vị đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.Việc xử lý các hành vi
vi phạm của doanh nghiệp và của người lao động đó từng bước góp phần lập lại kỷ
cương trong hoạt động XKLĐ, ổn định và giữ vững uy tín cho doanh nghiệp Việt Nam
trên thị trường lao động quốc tế.Mặc dự vậy, công tác quản lý lao động xuất khẩu vẫn
cũn nhiều yếu kộm,đội ngữ cán bộ mỏng, năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy
mạnh phát triển thị trường XKLĐ, không thể bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể tham gia hoạt động trên thị trường XKLĐ cũng như xử phạt nghiêm minh
những hành vi vi phạm của doanh nghiệp và người lao động.Hiện nay mới chỉ có 6 ban
quản lý lao động ở nước ngoài trong khi thị trường XKLĐ Việt Nam đó trải rộng trên
13
hơn 40 nước, dẫn đến tình trạng quá tải trong công tác điều hành, nhất là điều hành từng
thị trường. Mặt khác, đối với từng doanh nghiệp,việc quản lý lao động xuất khẩu chỉ
giới hạn trong phạm vi hẹp ở các vấn đề như: quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp và
người lao động khi ký kết hợp đồng XKLĐ, giữa người lao động Việt Nam với chủ sử
dụng lao động ở nước ngoài hoặc người môi giới…
IV.Chất lượng của các doanh nghiệp và các trung tâm làm công tác XKLĐ:
Bước đầu phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế để phát triển thị
trường XKLĐ, trên thị trường đó hỡnh thành được đội ngũ doanh nghiệp và
các trung tâm làm công tác XKLĐ tương đối mạnh mẽ về cơ sở vật chất, về cán bộ,

năng lực đào tạo lao động. Đó hình thành được 154 doanh nghiệp có giấy phép XKLĐ
trong đó chiếm gần 90% là doanh nghiệp được bổ sungchức năng XKLĐ. Nhiều doanh
nghiệp đó tích cực, chủ động trong việc tìm kiếm thị trường ngoài nước,phối kết hợp
với các cơ quan chức năng, co sở đào tạo nghề để trang bị kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ, luật pháp,phong tục tập quán, ngoại ngữ cho người lao động.Xuất hiện ngày
càng nhiều doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có uy tín đối với đối tác nướcngoài, rất
thuận lợi cho việc phát triển thị trường lao động. Kết quả trong 3 năm từ 2001 – 2003
đó có:
1 doanh nghiệp xuất khẩu 10.000 lao động;
4 doanh nghiệp xuất khẩu trên 5.000 lao động;
37 doanh nghiệp xuất khẩu trên 1.000 lao động
Bên cạnh những kết quả này, chất lượng của các doanh nghiệp XKLĐ vẫn tồn tại nhiều
bất cập. Trên thực tế, đội ngũ hoạt động trong lĩnh vực này vẫn còn mỏng, yếu về kinh
nghiệm, thiếu về cơ sở vật chất, tiềm lực tài chính ,vì vậy khả năng khai thác và phát
triển thị trường còn hạn chế. Song song với những khó khăn này, chất lượng của các
trung tâm dạy nghề cũng có nhiều vấn đề đáng bàn, các cơ sở đào tạo nghề đó hiếm, lại
nghèo nàn và lạc hậu về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên mỏng và yếu về chuyên môn
nghiệp vụ, phần lớn những nghề mà trường đào tạo cho học viên là những nghề trường
có khả năng đào tạo chứ chưa dựa vào nhu cầu thực tiễn của từng thị trường lao động
14
ngoài nước . Mặt khác, việc đào tạo nghề chỉ nặng về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp
vụ mà chưa đi sâu, đi sát để lồng ghép tốt giữa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ với ngoại
ngữ, giáo dục pháp luật, phong tục tập quán của nước nhập khẩu lao động.Như vậy, vấn
đề cần quan tâm của các doanh nghiệp cũng như của các trung tâm làm công tác XKLĐ
là không chỉ nâng cao số lượng lao động xuất khẩu, mà còn phải làm thế nào để cung
lao động xuất khẩu vượt ra khỏi tầm lao động giản đơn, không có nghề, vươn tới lao
động xuất khẩu có trình độ tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu về cơ cấu, chất lượng nghề
đào tạo trên thị trường lao động quốc tế.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

TỈNH NGHỆ AN.
I.Khái quát chung về tỉnh Nghệ An
1.Điều kiện tự nhiên,vị trí địa lý
Nghệ An nằm ở vùng Bắc Trung bộ nước Việt Nam, có tọa độ địa lý từ 18
o
33' đến
20
o
25' vĩ độ Bắc và từ 103
o
53' đến 105
o
46' kinh độ Đông.Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá,
Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, Tây giáp nước bạn Lào, Đông giáp với biển Đông.Trung tâm
hành chính của tỉnh là thành phố Vinh nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam.
Diện tích: 16.487km².Dân số (theo điều tra dân số ngày 01/04/2009) có 3.113.055
người. mật độ 177 người/km²
Địa hình Nghệ An gồm có núi, đồi, thung lũng. Độ dốc thoải dần từ đông bắc xuống tây
nam. Hệ thống sông ngòi của tỉnh dày đặc, có bờ biển dài 82 km. Giao thông đuờng bộ,
đường sắt, đường thuỷ và đường không đều thuận lợi: có quốc lộ 1A và tuyến đường
sắt Bắc Nam chạy qua tỉnh dài 94km, có cảng biển Cửa Lò, sân bay Vinh.
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu,
đông. Từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, tỉnh chịu ảnh hưởng của gió lào tây
nam khô và nóng. Vào mùa đông, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm
ướt.
15
Quy mô hành chính : Nghệ An bao gồm 1 thành phố trực thuộc,2 thị xã ,17 huyện,462
xã phường và 17 thị trấn
2.Thực trạng lao động tỉnh Nghệ An
21.Quy mô lực lượng lao động

Hiện nay Nghệ An có gần 1,8 triệu lao động, hàng năm số lao động đến tuổi lao động
xấp xỉ 30.000 người.
Xét về cơ cấu, lực lượng lao động ở Nghệ An phần lớn là lao động trẻ,độ tuổi từ 15 - 24
chiếm 22,45%, từ 25 - 34 chiếm 14,16%; từ 35 - 44 chiếm 13% và từ 45 - 54 chiếm
8,71%. (số lao động cụ thể xem bảng 1).Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 35,7%, tập
trung vào một số nghề như sửa chữa xe có động cơ, lái xe, may mặc, điện dân dụng,
điện tử,...còn một số nghề như chế biến nông, lâm sản, nuôi trồng thủy sản, vật liệu xây
dựng… có quá ít lao động đã qua đào tạo.
Tổng số lao động của tỉnh :1,8 triệu người
Độ tuổi 15-24 25-34 35-44 45-54
SốLĐ(người) 404.100 254.880 234.000 156.780
Bảng 1.số lao động từ độ tuổi 15 đến 54 của Nghệ An.
Kinh tế
Nghệ An có rất nhiều lợi thế về mặt kinh tế do có vị trí thuận lợi trong giao thương,
buôn bán. Vị trí địa lý của tỉnh Nghệ An nằm trên trục giao thông Bắc - Nam cả về
đường bộ, đường sắt, đường biển lẫn đường hàng không. Vì vậy tỉnh có điều kiện giao
lưu kinh tế với các tỉnh thành trong cả nước và một số nước trong khu vực. Bên cạnh
đó, tỉnh còn có lợi thế là quỹ đất nông nghiệp rộng hơn 19,5 vạn ha, diện tích đất trống,
đồi núi trọc chưa sử dụng trên 58 vạn ha, tài nguyên rừng và biển rất phong phú
với nhiều loại cây, con có giá trị kinh tế cao. Mặc dù thời tiết có phần khắc nghiệt, khi
nóng, khi bão lụt nhưng khí hậu ở đây lại thích hợp với nhiều loại cây trồng và vật nuôi
16
như: lúa, lạc, vừng, mía, dứa, chuối; một số cây công nghiệp, cây ăn quả như: cà phê,
cao su, cam, nhãn, xoài... Bên cạnh đó, nguồn nhân lực của tỉnh lại tương đối dồi dào,
có truyền thống cần cù, hiếu học, trình độ sản xuất ngày càng cao.
Tổng sản phẩm trong tỉnh qua các năm, so sánh với giá năm 1994 như sau:
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2002 2003 2004 2005 2006

GDP trong
tỉnh
Tỉ
đồng
7.654 8.524 9.386 10.282 11330
Cơ cấu GDP trong các ngành kinh tế từ năm 2002 đến năm 2006:
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2002 2003 2004 2005 2006
Công nghiệp
và Xây dựng
% 23,35 25,88 28,73 29,30 26,39
Nông - Lâm -
nghiệp và
Thuỷ sản
% 41,01 37,95 36,92 34,41 33,09
Dịch vụ % 35,65 36,18 34,35 36,29 37,52
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2007 - Chi cục thống kê Nghệ An
Tỷ lệ lao động nông - lâm nghiệp trong tổng số lao động xã hội giảm từ 73,5% năm
2005 xuống 67,3% năm 2008; Tỷ lệ sử dụng thời gian động khu vực nông thôn tăng từ
74,16% năm 2005 lên 80,65% năm 2008. Trong các năm từ năm 2006 – 2008, toàn tỉnh
đã tạo việc làm mới cho hơn 97 nghìn người, giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vực
thành thị xuống còn 3,55%. Riêng 10 tháng đầu năm 2009, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho
28.600 người, trong đó tạo việc làm mới tập trung 8500 người.Cơ cấu lao động tiếp tục
có sự chuyển dịch đúng hướng, với tỷ trọng giữa các khu vực: công nghiệp, xây dựng
15,4%; nông lâm, ngư nghiệp 63,6%; dịch vụ 20,9%. Phát triển nhanh mạng lưới cơ sở
dạy nghề, nhất là dạy nghề ngoài công lập. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 60 cơ sở dạy
nghề (với 25 cơ sở dạy nghề ngoài công lập), trong đó có 05 trường cao đẳng nghề và
có dạy nghề; 09 trường trung cấp nghề và có dạy nghề.

2.2 Chất lượng của lực lượng lao động
17
Trong những năm qua nhờ các chính sách đầu tư cho giáo dục và các vấn đề liên quan
đến phát triển con người nên trình độ học vấn nói riêng và chất lượng của lực lượng lao
động nói chung của tỉnh Nghệ An ngày càng được nâng cao. Cho đến nay, tất cả các
huyện, thị, thành phố trong tỉnh và 100% số xã, phường đã được công nhận phổ cập tiểu
học và chống mù chữ.Tỷ lệ lao động được đào tạo khoảng 15%. Toàn tỉnh hiện có 105
tiến sỹ, trên 400 thạc sỹ, gần 24.000 người có trình độ đại học, 14.000 người có trình độ
cao đẳng, 60.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp. Năm 2008, các cơ sở đào
tạo nghề tuyển mới 43.800 học viên thì đến năm 2009 con số đó là 66.900 học viên.
Cùng với sự phát triển về mạng lưới cơ sở đào tạo, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính
sách khuyến khích việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ, thu hút nhân lực có trình độ cao, hỗ
trợ học nghề cho người lao động, tăng ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm
trang thiết bị kỹ thuật cho các trường đào tạo nghề của tỉnh và các trung tâm dạy nghề ở
các địa phương. Đáng chú ý là theo đề án đào tạo công nhân kỹ thuật bậc cao, trong giai
đoạn 2007-2010 các trường dạy nghề sẽ bổ sung cho thị trường lao động khoảng 34.000
công nhân bậc 3, 4.Hằng năm toàn tỉnh đã đào tạo cho trên 5 vạn lao động, đưa tỷ lệ lao
động qua đào tạo đến nay lên gần 40 % trong tổng nguồn lao động, trong đó đào tạo
nghề 26,8%, cơ bản đáp ứng mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVI.
3. Thực trạng việc làm tỉnh Nghệ An
Trong những năm qua bên cạnh việc đầu tư phát triển kinh tế xã hội của tỉnh,Nghệ An
đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết việc làm,tích cực kêu gọi các nhà đầu tư trong
và ngoài nước.6 tháng đầu năm 2009, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 16.400 người, trong
đó tạo việc làm mới tập trung 4500 người; tỷ lệ thất nghiệp lao động khu vực thành thị
đến tháng 6/2009 là 3,18%.đến cuối 2009 toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 3,2 vạn lao
động. Trong đó, tạo việc làm mới tập trung 10.000 người. Giảm tỷ lệ thất nghiệp lao
động khu vực thành, thị xuống 2,8%; nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động khu vực
nông thôn lên trên 85%.
Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh giai đoạn 2004-2008.
Bảng 1. nông nghiệp

TT Nội dung
Đơn vị
tính
2004 2005 2006 2007 2008
18
1
Giá trị sản
xuất nông
nghiệp
Triệu
đồng
7.027.450 7.479.661 8.8485.675 9.740.793 13.111.956
2
Sản lượng
lương thực
có hạt
Nghìn
tấn
1.098 1.041 1.144 1.054 1.154

Lúa - 881 882 911 847 932

Ngô - 217 219 233 207 223
3



Sản lượng
chăn nuôi
gia súc gia

cầm
tấn

Thịt trâu - 3.634 4.240 4.139 4.437 5.324
Thịt bò - 4.333 5.512 6.126 6.694 8.701
Thịt lợn - 80.321 93.810 94.982 104.018 111.300
Thịt gia
cầm
- 17.506 18.512 17.835 18.522 24.078
Trứng
(nghìn quả)
- 277.033 288.313 290.601 297.459 325.021
Bảng 2. lâm nghiệp
Bảng 3. Thuỷ sản

Niêm giám thống kê năm 2008 tỉnh Nghệ An – Biên soạn Chi cục Thống kê Nghệ An
Bảng 4. Giá trị sản xuất công nghiệp Sản phẩm chủ yếu công nghiệp trong toàn tỉnh
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2007 2008
Giá trị sản xuất công nghiệp 5.049.032 6.722.022 7.936.511 9.921.143 13.216.488
Trong đó:

TT Nội dung
Đơn vị
tính
2004 2005 2006 2007 2008
1
Giá trị sản xuất

lâm nghiệp
Triệu
đồng
810.689 851.599 918.878 986.624 1.087.254
2
Sản lượng gỗ khai
thác
m
3
92.129 93.462 92.741 98.897 102.496
3 Diên tích rừng tự
nhiên
ha 620.398 643.120 643.020 641.960 641.373
4
Diện tích rừng
trồng
ha 87.628 74.785 84.640 93.013 101.850
TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2004 2005 2006 2007 2008
1
Gia trị sản xuất thuỷ
sản
Triệu đồng 624.747 799.575 901.908 1.050.256 1.239.309
2
Tổng sản lượng thuỷ
sản
Tấn 61.133 66.604 70.894 79.466 86.168
3 Sản lượng khai thác Tấn 41.362 44.503 45.785 50.835 54.855
4 Sản lượng nuôi trồng Tấn 19.771 22.101 25.109 28.631 31.313
5 Diện tích nuôi trồng ha 17.415 18.772 19.782
20.364

21.131
6 Nuôi nước ngọt ha 16.076 17.493 18.222 18.765 19.455
7 Nuôi nước măn, lợ ha 1.339 1.279 1.560 1.599 1.676
8 Số lượng tàu thuyền Cái 3.169 3.476 3.845
- -
9 Tổng công suất cv 153.190 154.680 153.570
- -
19
Công nghiệp quốc doanh
2.281.919
3.330.949 3.698.525 4.262.054 5.253.661
Công nghiệp ngoài quốc doanh; 2.049.964 2.557.682 3.376.798 4.800.728 6.744.664
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 717.149 833.391 861.188 858.361 1.218.163

Bảng 5. Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp
Đơn vị: %
Năm
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2007 2008
Giá trị sản xuất CN quốc doanh 45,2 49,55 46,6 42,96 39,75
Giá trị sản xuất CN ngoài quốc doanh 40,6 38,05 42,55 48,39 51,03
Giá trị sản xuất CN có vốn đầu tư NN 14,20 12,40 10,85 8,65 9,22

Bảng 6. Giá trị sản suất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp:
Đơn vị: Triệu đồng

Năm
Chỉ tiêu
2006 2007 2008
1 . Công nghiệp khai thác 463.074 544.945 650.150

2. Công nghiệp chế biến 5.103.603 6.125.483 7.473.114
3- Sản xuất và phân phối điện nước 24.457 58.610 69.336
Bảng 7. Sản phẩm chủ yếu công nghiệp trong toàn tỉnh
TT Tên sản phẩm Đơn vị
tính
2004 2005 2006 2007 2008
1 Than sạch 1000 tấn 17,0 16,5 16 16,0 15,5
2 Quặng tấn 210 791 868 470 520
3 Đá phiến 1000
tấn
166,37 42,18 150 214 270
4 Đá các loại 1.000
m3
867,39 890,97 1111,83 1279 1370
5 Cát sỏi các loại 100m3 1518,84 1465,23 1818,33 1661 1800
6 Muối 1000
Tấn
68,14 97,10 93,05 93 98
7 Thuỷ sản đông lạnh Tấn 914 1606 2583 2405 2540
8 Nước mắm 1000 lít 17910 20357 21097 23558 27000
9 Đường kính Tấn 147397 96651 87596 117019 140215
10 Bánh kẹo các loại Tấn 569 577 762 1246 1300
11 Bia các loại 1000 lít 29509 30801 30451 38709 47450
12 Vải lụa thành phẩm 1000 m 111 162 12 12 -
13 Quần áo dệt kim 1000 cái 2970 1713 1700 2400 2700
14 Quần áo may sẵn 1000 cái 3553 4404 4750 5169 5540
15 Da thuộc mềm Nghìn
bìa
745 512 467 181 182
16 Giầy, dép da Nghìn

đôi
43 38,9 40 38 40
17 Gỗ xẻ các loại 1000 m3 46,11 56,57 62,71 86 88
18 Trang in Triệu
trang
2155 2328 2267 2363 2603
19 Oxy 1000 m3 1047,38 1096,49 889,1 1343 1668
20 Phân bón hỗn hợp Nghìn
tấn
32,52 35,12 75 84 90
21 Lốp xe đạp 1000 cái 400 126 2 5 -
22 Xi măng các loại 1000
Tấn
1033,62 1327,21 1482,14 1582 1637
23 Gạch nung 1000
viên
267678 352519 377880 427063 510700
20
24 ngói nung 1000
viên
50895 64713 65600 72599 83500
25 Xe cải tiến Cái 2844 2760 3104 5226 5750
26 Nước máy sản xuát 1000 m3 7566 10402 1158 13583 15355
27 Máy tuốt lúa có động



550
611 1600 1810 2000
Niêm giám thống kê năm 2008 tỉnh Nghệ An – Biên soạn Chi cục Thống kê Nghệ An

Bảng 8.Dịch vụ du lịch
TT Nội dung
Đơn
vị
2004 2005 2006 2007
2008
2009
1
Số lượt
khách đến
trong đó:
Người 1.180.604 1.509.776 1.599.334 1.864.636
1.943.880

- Người Việt
Nam ;
- Người
nước ngoài:
Người
Người
1.148.110
26.758
1.465.416
44.360
1.546.124
53.210
1.814.205
50.431
1.878.380
165.500


2
Tổng số
doanh thu:
- Của cơ sở
lưu trú
- Của cơ sở
lữ hành

Triệu
đồng

153188
146549
6639
198101
188992
9109
253022
236985
16037
297988
277068
20920
355798
330148
25650


Thương mại - Dịch vụ

Bảng 9. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ.
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2007 2008
Tổng số

21
I -Phân theo thành phần kinh tế
1. Khu vực
kinh tế
trong nước

- Nhà nước 1.159.661 1.241.591 1.261.707 1.570.625 1.969.290

- Tập thể 33.208 34.756 38.968 42.387 73.260

- Cá thể 4.752.499 5.622.756 6.109.686 6.995.094 8.697.890

- Tư nhân 1.774.654 2.154.113 3.069.433 3.883.184 5.219.820

2. Khu vực
kinh tế có
vốn đầu tư
nước ngoài.

II Phân theo ngành hoạt động
- Thương
mại
6.582.873 7.723.201 8.873.420 12.491.290 15.960.260


- Du lịch 6.639 9.109 16.037 20.231 25.650

- Khách sạn
nhà hàng
832.540 87.887 1.163.772 10.417.636 13.136.120

- Dịch vụ 297.970 333.032 426.565 571.179 851.850

Bảng 10. Xuất nhập khẩu
22
Năm

Chỉ tiêu

Đơn vị
tính

2004


2005

2006 2007 2008
Xuất
khẩu
hàng
hoá



Giá trị
xuất
khẩu
1000
USD
54.483 86.589 98.547
114.416 146.694

Mặt hàng chủ yếu
1 - Lạc
nhân
Tấn 15.271 13.792 4.382 9.627 2.332

2- Thuỷ
sạn
đông
lạnh
Tấn 12 70 332,9 478 116

3-
đường
kính
Tấn 135 - - 936 120

4- Chè Tấn 4.363 5.041 6.713 5.390 5.940

5 - Cà
phê hạt
Tấn 593 4.439 9.173,9 5.522 743


6- Gạo
tẻ
Tán 10.069 15.467 6.862 6.570 17.060

7- Quần,
áo dệt
kim
1000 cái 1.445 1.246 777 745 995

8- Sản
phẩm
bằng gỗ
1000
USD
3.241 1.324 2.100 2.427 2.033

9- Tinh
bột sắn
Tấn 75.592 87.505 87.505 61.501 27.564

10-
Vừng
Tấn 30 - - 284 -

11-
Nhựa
thông
Tấn 3.358 2.765 1.818 691 -

12- đá

vôi
trắng
Tấn 59.249 138.098 150.744 254.876 227.809

13-
Khoáng
sản
Tấn 25.473 28.087 47.101 15.650 24.445

14- Thủ
công mỹ
nghệ
1000
USD
1.701 2.441 3.012 2.950 2.159

Nhập khẩu hàng hoá
- Giá trị
nhập
khẩu
1000USD 105.047 105.062 80.981
117.878 203.638

Mặt hàng chủ yếu
Xe ô tô
các loại
Cái 381 205 108
77 20

Xe máy Cái 24.983 9.511 11.257

33.161 23.308
Sắt thép Tấn 15.344 7.830 11.667
1.905 246
Linh
kiện
điện tử
1000
USD
2.031 1.606 2.423
4.055 3000
Phân
bón
Tấn 122.208 79.401 26.901
37.599 115.749
Nhựa
đường
Tấn 7.920 10.589 14.178
5.246 4.611
Gỗ tròn m3 39.139 46.188 70.669
174.171 336.058
Gỗ xẻ m3 5.610 - -
- 2.363
Phụ
tùng
máy
nông
nghiệp
1000
USD
17.000 851 989

3.281 3.240
Máy
móc
thiết bị
1000
USD
1.500 25.572 4.185
9.861 6.148
23
Niên giám thống kê năm 2008 tỉnh Nghệ An – Biên soạn Chi cục Thốnkê
Nghệ An
Bưu chính - Viễn thông
Bảng 11. Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết quả hoạt động của ngành bưu chính, viễn thông
24
25
ĐVT 2002
20
03
2004 2005 2006 2007 2008
Mạng lưới
điểm Bưu
cục
Đơn
vị
129
12
9 121 120 123 123 122
Bưu cục cấp
1
" 1

1
1 1 1 1 1
Bưu cục cấp
2
" 18
18
18 18 18 18 18
Bưu cục cấp
3
" 110
11
0
102 101 104 104 103
Số thuê bao
điện thoại
Thuê
bao
95916

163861 330214
49091
7
800818 1055989
Cố định
" 92624

150909
18682
1
23693

1
294480 399540
Di động
" 3292

1295
2
14339
3
25398
6
506338 656449
Số thuê bao
điện thoại
bình quân
100 dân
"


Số thuê bao
internet
(ADSL)
" 123

567 591 2080
1159
1
2858
7
Số cơ sở có

trang tin
điện tử
riêng

sở
...
...
... ... ... ... 15
Số máy vi
tính đang
sử dụng
Nghì
n cái
286

261 279 308 194 ...
Số đơn vị có
giao dịch
thương mại
điện tử
Đơn
vị
...
...
... ... ... ... ...
Sản lượng
Bưu phẩm
Nghì
n
bưu

phẩ
m
244

326 410 501 556 695
Bưu kiện Bưu
kiện
11729
2885
7
24912 27106
3118
7
3009
4
Thư và điện
chuyển tiền
Cái 87690
1377
01
28819
0
29293
4
3820
01
6737
0
Báo chí phát
hành

Nghì
n tờ
10767
1376
7
18932 14229
1628
1
1463
2
Điện báo
Nghì
n
tiếng
550

761 751 657 509 ...
Điện thoại
Nghì
n
phút
82320

1164
98
11689
2
13227
5
1191

45
...
Nội tỉnh
" 40826
6475
5
73423 80579
7348
3
...
Liên tỉnh
" 41267
5106
4
42836 50871
4488
2
...
Quốc tế " 227 679 633 825 780 ...
Doanh thu
bưu chính,
viễn thông
Tỷ
đồng
...

... 510 675 836 1100

×