Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

đồ án kiến trúc cảnh quan NHỮNG GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, VĂN HÓA CỦA HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.97 MB, 25 trang )

Báo cáo môn học văn hóa dân gian
MỤC LỤC
Hoàng Thị Hằng
B -K17
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
PHẦN I
GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, VĂN HÓA CỦA
HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
I.GIỚI THIỆU CHUNG
Một trong những dấu tích nổi tiếng hiện nay có từ thời tiền Thăng Long
qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà
Nội dưới triều Nguyễn đó là khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long, Hà
Nội. Nơi đây là trung tâm quan trọng nhất còn lại của một tòa thành được xây
dựng cách đây 1000 năm. Hoàng Thành Thăng Long được xây dựng vào năm
1010. Trải qua bao biến thiên thăng trầm của lịch sử, thành Thăng Long chỉ
còn lại phần trung tâm quan trọng nhất đó là một trục chính tâm từ hướng
Nam chạy thẳng xuống hướng Bắc.
Hoàng Thành Thăng Long là một công trình kiến trúc đồ sộ qua nhiều
giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong di tích Việt
Nam. Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội có diện tích 18.395
m2, bao gồm Khu di tích Thành cổ Hà Nội và di tích khảo cổ học 18 Hoàng
Diệu phường Điện Biên, phường Quán Thánh, quận Ba Đình. Vùng bảo tồn
của trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội có quy mô lớn là toàn bộ
diện tích của khu vực khảo cổ học 18 Hoàng Diệu rộng hơn 18 ha, cùng với
khu Thành cổ được bao bọc bởi 4 con đường: phía Bắc là đường Phan Đình
Phùng, phía Nam là đường Điện Biên Phủ, phía Đông là đường Nguyễn Tri
Phương, phía Tây là đường Hoàng Diệu.
Qua hơn nhiều năm nghiên cứu, các nhà khảo cổ học và các nhà nghiên
cứu văn hoá - lịch sử đã khẳng định sâu sắc về qui mô và các giá trị nổi bật
của khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long.
.


Hoàng Thị Hằng
B -K17
1
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
II. NHỮNG GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, VĂN HÓA CỦA HOÀNG
THÀNH THĂNG LONG
Trục trung tâm của cấm thành : Bắc Môn - Hậu Lâu – Kính Thiên –
Đoan Môn –Cột Cờ.
Trục trung tâm của Cấm Thành: Bắc Môn - Hậu Lâu- Kính Thiên-
Đoan Môn - Cột cờ. đường viền đỏ là phạm vi cấm thành
Điểm di tích đầu tiên trước khi nói đến hoàng thành đó là cột cờ Hà
Nội nhưng đây không phải dấu tích của tòa thành thăng long được xây dựng
vào năm 1010. Cột cờ Hà Nội là dấu tích của tòa thành Hà Nội được xây
dựng vào năm 1802 khi vị vua đầu tiên của triều Nguyễn lên ngôi đó là vua
Gia Long cùng lúc xây thành Hà Nội. Cột cờ Hà Nội xây dựng trên một công
trình lịch sử đó là cổng Tam môn. Đây là hệ thống cửa đầu tiên để tiến vào
khu vực cấm thành Thăng Long. Sau đó tiến vào khu Đoan Môn – một công
trình uy nghi, đồ sộ đã tồn tai từ thế kỉ XV. Đoan Môn là cửa vòm cuốn dẫn
vào điện Kính Thiên. Đoan Môn gồm năm cổng xây bằng đá. Cửa ở giữa đó
là cửa Đoan Môn được dành cho các vua, chúa , các quan thần văn võ sẽ đi
qua bốn của ở hai bên của Đoan Môn.
Hoàng Thị Hằng
B -K17
2
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
Tiếp đến trung tâm của cấm thành là điện kính thiên của thời Lê Sơ xưa
là điện Càn Nguyên, Thiên An thời Lý, Trần. Đó cung điện quan trọng bậc
nhất, nơi tiến hành các nghi lễ long trọng nhất của triều đình, nơi tiếp sứ giả
nước ngoài, nơi thiết triều bàn những việc quốc gia đại sự. Nền điện Kính
Thiên với dấu tích còn lại là bậc thềm và lan can đá chạm rồng mang đặc

trưng nghệ thuật trang trí thế kỷ XV ở cả phía trước và phía sau. Thềm đá
chạm khắc này là đường dành cho vua đi sau khi bàn xong việc nước đi về
phía nơi sinh sống của mình mà trước đây có tên gọi là Tĩnh Bắc Lâu ( tức là
Lầu nằm ở hướng chính Bắc so với các tòa chính điện) hay còn gọi là khu
Hậu Lâu – là nơi sinh sống và nghỉ ngơi của vua cùng vợ vua và các cung tần
mỹ nữ. Trong sử sách có ghi lại một câu rằng: “khu vực Hậu Lâu là nơi nghỉ
ngơi,chơi,ngắm của các đấng trí tôn”. Và phía đằng sau Hậu Lâu là khu Bắc
Môn - một trong số ít phần còn lại của thành xưa quách cũ Thăng Long – vẫn
sừng sững, uy nghi, trầm mặc với hai vết đạn thần công Pháp ghi dấu một thời
Hoàng thành chìm trong lửa đạn quân xâm lăng. Bắc Môn (Cửa Bắc) được
nhà Nguyễn xây dựng năm 1805 trên nền Cửa Bắc thời Lê theo lối vọng lâu –
phần lầu ở trên còn phần thành ở dưới, cao 8,71m, rộng 17,08m, tường dày
2,48m.Phần lầu được dựng bằng khung gỗ theo lối chồng diêm tám mái, lợp
ngói ta, trổ cửa ra bốn hướng. Nước mưa trên vọng lâu được dẫn thoát xuống
dưới qua hai ống máng bằng đá.và phía ngoài Bắc Môn vẫn còn lưu dấu 2 vết
đạn thần công của Pháp sâu 80cm khi chúng dùng chiến thuyền tấn công
thành Hà Nội từ phía bờ sông Hồng năm 1882. Và hiện nay ở lầu trên cổng
thành mới được phục dựng một phần và được dành làm nơi thờ hai vị quan
Tổng đốc thành Hà Nội - Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu - hai vị anh
hùng lẫm liệt bảo vệ cấm thành– những người được hậu thế kính cẩn đặt
tên cho hai con đường hiện đại chạy hai bên tả hữu vòng thành cổ năm xưa.
Hoàng Thị Hằng
B -K17
3
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
Trong Thành cổ Hà Nội, cùng với điện Kính Thiên, Cửa Bắc, Đoan
Môn, Hậu Lâu, còn có một di tích tiêu biểu cho cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước: nhà D67.
Nhà D67 được xây dựng năm 1967, một tầng có diện tích 604m2. Móng,
tường, mái nhà đều bằng bêtông cốt thép nguyên khối. Tường ngoài dày

0,6m, tường ngăn dày 0,28m. mái có ba lớp: trần dày 0,15m, giữa đệm cát dày
từ 0,7 đến 1,15m, lớp trên dày 0,35m. Chính giữa ngôi nhà là phòng họp của
Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, bên cạnh là phòng
nghỉ giải lao. Căn phòng nhỏ phía đông là nơi làm việc của Đại tướng Võ
Nguyên Giáp, căn phòng nhỏ phía tây là nơi làm việc của Đại tướng Văn Tiến
Dũng. Từ nhà D67 có hai cầu thang nối thẳng xuống hầm. Khu hầm lớn nhất
nằm dưới khoảng sân nối giữa điện Kính Thiên và nhà D67 dành cho Bộ
Chính trị và Quân ủy trung ương gọi là hầm D67. Hai đường dẫn xuống hầm
bắt nguồn từ hai phòng làm việc của tướng Giáp và tướng Dũng trong nhà
D67, đường hầm rộng 1, 2m, có 45 bậc thang bêtông, trát đá granite. Đi sâu
xuống 10m là hệ thống văn phòng của tổng hành dinh ngầm gồm bốn phòng
rộng 50m2, chung một hành lang bên phải. Phòng họp hình chữ nhật toàn
khối, nền lát gạch, có một cửa ra vào. Các phòng bên dành cho ban thư ký và
phòng để máy móc, điện đài. Cuối cùng là phòng chứa hệ thống thông hơi,
lọc khí đồ sộ chạy điện được chế tạo tại Liên Xô. Các lối lên xuống của hai
đường hầm và cửa ra vào có tới sáu cửa thép sơn xanh dày 12cm, có nhiều tay
nắm và hệ thống gioăng cao su có thể ngăn nước và khí độc.
Hoàng Thị Hằng
B -K17
4
Báo cáo môn học văn hóa dân gian

Phòng họp nhà D67
Nhà D67 đã trở thành di tích cách mạng đặc biệt quan trong trong Khu di
tích Thành cổ Hà Nội. Nhà D67 nơi đã từng diễn ra nhiều cuộc họp cơ mật
của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương và đưa ra các quyết định sáng suốt
để đấu tranh giành thắng lợi. Khi đến đây được chứng kiến tận mắt các vật
dụng được các Bộ chính trị dùng trong chiến tranh chỉ là những tấm bản đồ,
vài chiếc điện thoại, cây bút, bàn ghế… đều gợi dậy niềm tự hào và hãnh diện
về những vị lãnh đạo cấp cao có công với đất nước.

Hoàng thành thăng long gồm hai bộ phận được UNESCO công nhận là
“Di Sản Văn Hóa Thế Giới”. Thứ nhất, là khu trục chính tâm Nam Bắc với
năm điểm di tích nói trên và phía tây của cấm thành đã được các nhà khảo cổ
và nhà nghiên cứu phát hiện hàng triệu các hiện vật được trưng bày trong các
phong trưng bày và được sắp xếp theo thứ tự từ sớm tới muộn.
Nhà trưng bày "Hoàng thành Thăng Long", trưng bày 150 di vật tiêu
biểu được khai quật tại Hoàng thành và các ảnh, bản vẽ giới thiệu khu di sản.
Bộ sưu tập gốm Bát Tràng cổ được trưng bày tại Hoàng Thành những cổ
vật của Hoàng Thành trước hết là những cổ vật có giá trị tinh thần hết sức linh
thiêng, về mặt mỹ quan đó là những tạo tác tuyệt mỹ và về mặt văn hóa đó là
những đỉnh cao.
Đầu tiên là các cổ vật ở thời sớm nhất là thời Đại La, các nhà khoa học
Hoàng Thị Hằng
B -K17
5
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
đã tìm thấy rất nhiều các dấu tích khảo cổ mới, các cột gỗ, các hạt cột gỗ….kế
tiếp là thời Đinh – Tiền Lê như các dấu tích về ngói úp nóc,chim uyên ương
và dấu tích thể hiện rõ nhất ở thời Đinh Tiền Lê đó là trong những viên gạch
có ghi: “ Đại Việt quốc quân thành khiêm tức là gạch chuyên xây thành Đại
Việt thời đó. Tiếp theo đó là khu trưng bày những cổ vật của thời nhà Lý. Các
cổ vật của thời Lý đều có đặc điểm chung là được trang trí hình rồng, rồng
tượng trưng cho quyền lực của vua. Và còn phát hiện ra rất nhiều các cổ vật
của thời Trần, thời hậu Lê, thời Nguyễn…
Một số cổ vật tồn tại ở các thời
Ngói chữ nhật trang trí mặt linh thú thời Đại ngói úp nóc gắn lá đề
trang trí hình chim Phượng thời Lý
Hoàng Thị Hằng
B -K17
6

Báo cáo môn học văn hóa dân gian
Gạch ngói thời Lý
III. KẾT LUẬN
Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, ghi dấu những giá trị lịch sử, văn
hóa, kiến trúc của biết bao triều đại, được UNESCO công nhận là Di sản
Văn hóa thế giới
Hoàng thành Thăng Long chứng tích qua 1000 năm lịch sử, từ các thời
Đại La, Đinh tiền Lê, thời Lý, Trần, Lê Sơ, Mạc, Nguyễn cho đến thời đại Hồ
Chí Minh. và là nơi chứa đựng hơn 150 di vật tiêu biểu về thành Thăng Long.
Với 8 khu vực tham quan trọng Hoàng thành Thăng Long:
1. Cột Cờ: Di tích của thành Hà Nội thời Nguyễn được xây dựng vào
năm 1804.
2. Đoan Môn: Cửa chính của Cấm thành thời Lê Sơ (thế kỷ 15) được xây
dựng trên cơ sở Đoan Môn thời Lý và thời Trần. Tại đây còn có hố thám sát
khảo cổ học phát hiện dấu tích sân nền lát gạch vồ thời Lê và móng kiến trúc
có dải trang trí "hoa chanh" thời Trần.
3. Hậu Lâu: Kiến trúc được xây dựng đầu thế kỷ 20, trước đó ở đây có
lầu Tĩnh Bắc (còn gọi là lầu Công Chúa).
4. Nền điện Kính Thiên: Chính điện thiết triều của nhà Lê Sơ được xây dựng
trên cơ sở điện Càn Nguyên (đầu thời Lý), điện Thiên An (thời Lý và thời Trần).
Trước nền điện có bậc thềm đá và lan can đá chạm rồng có niên đại năm 1467.
5. Bắc Môn: Cửa bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn.
6. Nhà D67 và hầm D67: Được xây dựng năm 1967, nơi làm việc của
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng, nơi diễn ra một số
cuộc họp quan trọng trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
7. Nhà trưng bày "Hoàng thành Thăng Long", trưng bày 150 di vật tiêu
biểu được khai quật tại Hoàng thành và các ảnh, bản vẽ giới thiệu khu di sản.
8. Nhà N32 và N32 trưng bày theo chuyên đề hơn 700 di vật được khai
Hoàng Thị Hằng
B -K17

7
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
quật tại Hoàng thành Thăng Long bao gồm một số vật liệu xây dựng, trang trí
kiến trúc, một số vật dụng sinh hoạt hằng ngày từ thời Đại La cho đến các
thời Lý, Trần, Lê.
Hoàng thành đã trở thành một trong những di tích đặc biệt tiêu biểu ở
Việt Nam ẩn chứa những điều bí ẩn của Việt Nam qua nhiều thời đại. Hoàng
thành Thăng Long - Phát hiện khảo cổ học có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn -
niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, được mọi người Việt Nam trong và ngoài
nước cũng như bạn bè quốc tế quan tâm.
Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội mang trong mình
những giá trị nổi bật toàn cầu bởi nơi đây đã liên tục trong hơn một thiên niên
kỷ là nơi giao thoa các giá trị nhân văn, nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật kiến
trúc, kỹ thuật xây dựng, quy hoạch đô thị và nghệ thuật tạo dựng cảnh quan
hết sức độc đáo. Hoàng thành thăng long thể hiện là trung tâm quyền lực nối
tiếp nhau của Việt Nam trong hơn một ngàn năm lịch sử và là minh chứng có
một không hai về sự tiến hóa của nền văn minh dân tộc Việt Nam trong lịch
sử phát triển của đất nước.Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là
nơi ghi đậm dấu ấn những giá trị biểu đạt văn hóa và những sự kiện mang tầm
vóc ý nghĩa toàn cầu. Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản được ghi
nhận bởi 03 đặc điểm nổi bật: Chiều dài lịch sử văn hóa; Tính liên tục của tài
sản với tư cách là một trung tâm quyền lực, và Các tầng di tích di vật đa dạng,
phong phú.
Chuyến đi này đã đem lại cho chúng tôi rất nhiều những trải nghiệm mới
và thu thập được rất nhiều những thông tin về điểm đến mới mẻ này. Đây là
cơ hội cho chúng tôi tiếp thu học hỏi và đòi hỏi sự khám phá tìm tòi và áp
dụng vào thực tế. Điểm đến Hoàng Thành Thăng Long là một điểm đến rất
thú vị và nhiều điều bất ngời đối với du khác quốc tế. Chúng ta đáng tự hào
về những thành tựu mà đất nước chúng ta có được và hãnh diện khi giới thiệu
Hoàng Thị Hằng

B -K17
8
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
với bạn bè quốc tế.
PHẦN II
ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC VÀ HỆ THỐNG
TƯỢNG PHẬT CHÙA BÚT THÁP – BẮC NINH
I.GIỚI THIỆU CHUN G VỀ CHÙA BÚT THÁP
Chùa Bút Tháp tọa lạc ở phía tây nằm trên địa phận xã Đình Tổ, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Bút Tháp có nghệ thuật kiến trúc và điêu
khắc cổ độc đáo tài tình, có nhiều tượng Phật và cổ vật quý .Ðây là một ngôi
chùa cổ, mặc dù đã trải qua những lần trùng tu, sửa chữa nhưng chùa vẫn giữ
được những nét nguyên sơ hấp dẫn của nó.
Chùa được xây dựng từ thời hậu Lê (thế kỷ 17). Theo lịch sử, chùa được
bà Trinh Thị Ngọc Trúc (vợ vua Lê Thánh Tông) cùng hai nhà sư người Việt
gốc Hoa thiết kế. Chùa có tên chữ là "Ninh Phúc Thiền Tự"được xây dựng
theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Ngoài cùng là Tam Quan, tiếp đến là gác
chuông rồi đến Tiền Ðường, tiếp theo là Thượng điện - gian đẹp nhất cả kiến
trúc lẫn điêu khắc.
Lịch sử
Ngôi chùa cổ Bút Tháp có tên chữ Hán là Ninh Phúc Thiền Tự còn có
biệt danh là Thiếu Lâm Tự. Thời nhà Lê chúa Trịnh thế kỉ 16 đã xây dựng và
cắt băng khánh thành vào thế kỉ 17 công bố trên toàn quốc gọi là chùa Nhạn
Tháp Tự. Và vào thời nhà Nguyễn vua Tự Đức đổi tên là chùa Bút Tháp vì
vua Tự Đức thấy tháp Báo Nghiêng có hình cái bút.
Người ta thường gọi chùa Bút Tháp là chùa quí tộc bởi toàn bộ kinh phí xây
dựng tu bổ chùa đều là do những người trong giới hoàng tộc đóng góp như Hoàng
Hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, các lão Cung tần, Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên…
Giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII chùa Bút Tháp được coi là Quốc Tự, đây
là nơi tu hành của Hoàng Hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc _con gái của Chúa Trịnh

Hoàng Thị Hằng
B -K17
9
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
Tráng, vợ Vua Lê Thần Tông và con gái là Công Chúa Lê Thị Ngọc Duyên.
Sang thế kỷ 20, Tổng đốc Ninh Thái là Hoàng Trọng Phu đi qua vùng
Thuận Thành thấy chùa hoang vắng tàn lụi nên bàn bạc cùng quan lại thu thập
tiền của mà trùng tu "từ ngày 1 tháng 10 năm Quý Mão khởi công tu sửa
chùa, tới ngày 15 tháng 3 năm Giáp Thìn (1905) thì hoàn thành". Từ đó tới
nay đã 100 năm, chùa lại mấy lần được sửa sang, như các năm 1937, 1940,
1957 và gần đây là đợt có quy mô lớn vào các năm 1990-1993.
Chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào
năm 1992-1996. Đây là ngôi chùa có kiến trúc quy mô hoàn chỉnh nhất còn
lại ở Việt Nam.
Chùa Bút Tháp là một trong ít các ngôi chùa còn giữ được khá nguyên
vẹn các bố cục kiến trú, hệ thống tượng pháp, đồ thờ tự và các văn minh trên
gỗ, đá từ thời Lê.
II. ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC CHÙA
Chùa Bút Tháp là ngôi chùa có kiến trúc tổng thể độc đáo, bố cục gọn
gàng, chặt chẽ và sinh động là một khuôn mẫu về sự kết hợp hài hòa kiến trúc
của các chất liệu gạch, gỗ, của sự hòa nhập giữa kiến trúc và môi trường thiên
nhiên bao quanh. Toàn bộ kiến trúc của Chùa quay theo hướng Nam, một
hướng truyền thống của người Việt. Người Việt xưa có câu: “ lấy vợ hiền hòa
làm nhà hướng nam”, và đối với đạo Phật hướng Nam là hướng của trí tuệ,
của bát nhã, nhờ có trí tuệ chúng sinh mới đến bến bờ giải thoát- niết bàn.
Chùa chính với 3 dãy nhà Tiền đường - Thiên hương - Thượng điện tạo
thành chữ "công". Cách bố trí như vậy làm nổi bật điện thờ bên trong với các
pho tượng. Các đơn nguyên kiến trúc được bố trí cân xứng, chặt chẽ ở khu
vực trung tâm, chùa đã được thiết kế rất tốt về tỷ lệ, độ giãn cách, độ cao của
tầng nền và nhịp điệu cao thấp của các công trình. Ngoài cùng là tam quan,

tiếp đó là gác chuông hai tầng tám mái nằm giữa hai dãy hành lang (mỗi dãy
Hoàng Thị Hằng
B -K17
10
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
dài 26 gian) là 7 tòa nhà nối tiếp nhau: Nhà Tiền Đường, nhà Thiên Hương,
nhà Thượng điện, nhà Tích Thiện Am, nhà Trung, phủ thờ, hậu đường , trong
đó có tháp đá Tôn Đức năm tầng, cao 10m là nơi đặt xá lị Thiền sư Minh
Hành, vị tổ thứ hai của chùa. Bên trái chùa có nhà thờ tổ Chuyết Chuyết và
ngôi tháp đá tám mặt, năm tầng cao 13m là nơi táng xá lị của Thiền sư Chuyết
Chuyết. Ngoài ra, còn có tháp Ly Chân, tháp Tâm Hoa, thấp hơn nhưng tất cả
đều được dựng bằng đá, được trạm trổ tinh xảo và điều đặc biệt là các ngọn
tháp ở đây đều được ghép đá lại với nhau chứ không dùng chất kết dính. Kiến
trúc chùa được bố trí đăng đối trên một đường “ thần đạo” một cách chặt chẽ
tạo nên vẻ thâm nghiêm, u tịch cho cảnh chùa và thể hiện tư tưởng về giáo lý
của đạo Phật.
Chùa Bút Tháp có kiến trúc hoà nhập với môi trường thiên nhiên bao
quanh, bên trái chùa có dòng sông Đuống, trước cửa chùa là đồng ruộng
mênh mông, xa xa ở phía trái và phía phải chùa có núi Tam Đảo, núi Phật
Tích bao bọc. Chùa không vươn lên theo chiều cao mà các đơn nguyên kiến
trúc đều được trải dài theo mặt bằng. Kiến trúc chùa với những bộ mái lớn với
chiều rộng của mái chiếm gần 2/3 chiều cao khiến cho chùa không khí đầm
ấm, thanh tịnh.
Chùa Bút Tháp có một hệ thống các mảng chạm khắc rất đep và độc
đáo,Trang trí được thể hiện ở mọi nơi trên các chất liệu gỗ và đá, ở kiến trúc
và ở các đồ thờ. Đặc biệt, phía ngoài Thượng điện có lan can bằng đá xanh bao
quanh có 26 bức chạm khắc đá, chạm khắc các hình động vật, điểm xuyết thêm
mây, trời, hoa, lá , trên lan can cầu đá nối với Tòa Thích Thiện Am có 12 bức và
ở lan can quanh chân tháp Báo Nghiêm có 13 bức. Tổng cộng các bức trạm khắc
đá ở chùa Bút Tháp là 51 với những đề tài khác nhau, nhưng đều thống nhất với

nhau ở mặt chất liệu, phong cách và thống nhất về niên đại. Hình ảnh chạm khắc
ở đây sống động tươi vui hàm chứa ý nghĩa Phật đạo và đặc biệt mang đậm nét
Hoàng Thị Hằng
B -K17
11
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
tính chất nghệ thuật thiền. Các bức chạm đều tập trung về đề tài thiên nhiên phong
phú sinh động như Tứ Linh Quý, các động vật như : ngựa, dê, trâu, khỉ, hổ,cá, cò
và những linh vật: long mã, kì lân………
Nối giữa Thượng điện và Tích thiên Am là một ngôi nhà có ba tầng
mái là chiếc Cầu đá cong bắc ngang qua hồ nước trồng sen tinh khiết. Cầu
dài 4m gồm 3 nhịp uốn cong vồng, mặt cầu lát đá xanh trơn nhẵn, hai bên cầu
có 12 bức phù điêu đá chạm chim muông hoa lá đã được chạm khắc rất công
phu, tinh xảo và bố trí rất hợp lý: đầu cầu là hai con sư tử và thành cầu là
những kiểu chạm trổ cổ quen thuộc, rất hài hoà.
Kiến trúc cầu mang đậm nét kiến trúc Trung Hoa. Cầu được tạo dáng
cong vồng lên. Đường thông thủy phía dưới được xây dựng theo hình vòm
cốm bằng đá hình múi bưởi, đây là nghệ thuật xây cất Trung Hoa giống như
kỹ thuật xây mộ cổ Trung Quốc. Mảng kiến trúc ở phần cuối chót lan can của
hai bên cầu giống với bộ phận có chức năng tương ứng với bộ phận đi vào
Đạt Ma Động trong chùa Thiếu Lâm Tự (Nam Trung Hoa).
Ngoài ra, chùa Bút Tháp còn có những kiến trúc rất giá trị và nổi bật
trong chùa như : tòa cửu phẩm liên hoa, tháp Báo Nghiêng…
Tháp quay Cửu phẩm liên hoa – Hoa sen chín tầng đặt trong Tích thiện
Am – Tháp cao chín tầng như 9 đài sen, 8 mặt đều đặn thể hiện 8 phương của
nhà Phật, ngăn cách các tầng là một bức gỗ chạm cánh sen nở xoà bốn phía,
đầu nhọn khối nổi phồng. Tòa cửu phẩm liên hoa với 32 bức chạm khắc tỉ mỉ
và công phu về nghệ thuật và hàm ý đạo giáo thể hiện mỗi tầng là một cảnh
giới siêu thoát. Điều đặc biệt là nó có thể quay được và không hề phát ra tiếng
kêu dù được làm từ mấy thế kỷ, mỗi vòng quay của tháp ứng với 3.542.400

câu niệm phật thì vãng sanh tịnh độ được siêu thoát lên thế giới cực lạc, cõi
vô sinh vô tử siêu thoát Niết bàn.
Tháp Báo Nghiêng là nơi thờ Hòa thượng Chiết Chiết, tháp cao 13m05,
Hoàng Thị Hằng
B -K17
12
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh, ngoài tầng đáy rộng hơn, bốn
tầng trên gần giống nhau, rộng 2m. Tháp trông giống như cây bút khổng lồ
vươn thẳng tới trời cao thanh vắng. Lòng tháp có một khoanh tròn đường kính
2,29m, năm góc của năm tầng có năm quả chuông nhỏ. Tầng dưới cùng của
tòa tháp có 13 bức chạm đá với đề tài chủ yếu là các con thú. Tháp thể hiện
tài nghệ ghép đá và nghệ thuật điêu khắc của nhà điêu khắc Việt Nam.
Tháp Báo Nghiêng
Trong chùa còn lưu giữ được rất nhiều cổ vật: Bia đá, lô nhang, am thờ,
án giao,…Chùa BútTháp có một hệ thống tượng tròn rất đặc sắc so với những
ngôi chùa khác. Tượng Phật giáo ở đây có nhiều loại, như tượng các vị Bồ
Tát, tượng Hộ Pháp, tượng các vị La Hán trong đó có những pho rất quý,
nổi tiếng cả nước và được giới nghiên cứu xem là khuôn mẫu của tượng Phật
giáo Việt Nam, như tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, tượng Tuyết Sơn,
bộ tượng Tam thế Phật, Ngoài ra, trong chùa có hơn 70 pho tượng gỗ được
tạc trong tư thế quỳ, đứng, ngồi với nét mặt thành kính trông rất sinh động
như pho tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ, còn tượng La Hán lại thể hiện cảm
Hoàng Thị Hằng
B -K17
13
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
xúc nội tâm, mang nặng ý tưởng Phật giáo. Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ
thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam, ngoài ra còn có bộ tượng tam thế,
tượng Quan âm tọa sơn, tượng Văn Phù và Phổ Hiền Bồ Tát, các pho tượng

hậu bằng gỗ như tượng Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, tượng Công
chúa Lê Thị Ngọc Duyên, tượng Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ và rất nhiều
các pho tượng cổ khác, là những tác phẩm nghệ thuật vô giá.
Chùa Bút Tháp không chỉ có bố cục kiến trúc chặt chẽ mang nguyên vẹn
nét tiêu biểu của kiến trúc thời Lê mà ngôi chùa cổ này còn lưu giữ một hệ
thống tượng rất phong phú, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc tạo tượng
Phật giáo với phong cách truyền thống một cách sáng tạo để tạo dấu ấn riêng.
III. HỆ THỐNG TƯỢNG PHẬT CHÙA BÚT THÁP
Đến chùa Bút Tháp mà tĩnh tại chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những pho
tượng, rồi ra vườn ngước nhìn ngọn tháp Bảo Nghiêm sừng sững in dấu lên
nền trời xanh thẳm, thật thanh bình và yên tĩnh.
Trong chùa lưu giữ được rất nhiều cổ vật: Bia đá, lô nhang, am thờ, án
giao,…Chùa BútTháp có một hệ thống tượng tròn rất đặc sắc so với những
ngôi chùa khác. Tượng Phật giáo ở đây có nhiều loại, như tượng các vị Bồ
Tát, tượng Hộ Pháp, tượng các vị La Hán trong đó có những pho rất quý,
nổi tiếng và được xem là khuôn mẫu của tượng Phật giáo Việt Nam, như
tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, tượng Tuyết Sơn, bộ tượng Tam thế
Phật, Ngoài ra, trong chùa có hơn 70 pho tượng gỗ được tạc trong tư thế
quỳ, đứng, ngồi với nét mặt thành kính trông rất sinh động như pho
tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ, còn tượng La Hán lại thể hiện cảm xúc nội
tâm, mang nặng ý tưởng Phật giáo. Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn
bằng gỗ lớn nhất Việt Nam, ngoài ra còn có bộ tượng tam thế, tượng Quan âm
tọa sơn, tượng Văn Phù và Phổ Hiền Bồ Tát, các pho tượng hậu bằng gỗ như
tượng Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, tượng Công chúa Lê Thị Ngọc
Duyên, tượng Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ và rất nhiều các pho tượng cổ
Hoàng Thị Hằng
B -K17
14
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
khác, là những tác phẩm nghệ thuật vô giá:

Bắt đầu vào thăm chùa từ Tam Quan. Nhà Tam Quan dài 9m, rộng
5m25, riêng gian giữa rộng 2m80 – tượng trưng cho ba điều xem của Phật:
Không quan tức mọi sự vật đều không có
Giải quan tức mọi sự vật đều biến hóa vô thường
Trung gian ở giữa không gian và giả quan.
Bước tới nhà Tiền Đường dài 25m, rộng 10m60 gồm 7 gian. ở đây
chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng hai pho tượng hộ pháp cưỡi sư tử với một
bên là người anh La- Đắc khuôn mặt hiền từ độ lượng, một bên là người em
Ma-Pha-La khuôn mặt giận dữ với ý nghĩa khuyến thiên, trừng ác.
Hai anh em Ma – Pha – La và La- Đắc
Qua nhà Thiêu Hương chúng ta bước tới nhà Thượng Điện có điểm nền
cao nhất
dài 19m, rộng 10m60 gồm 5 gian, 24 cột lớn. Đây là tòa nhà quan trọng
Hoàng Thị Hằng
B -K17
15
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
nhất của chùa Bút Tháp gồm các tượng phật:
+ Ngự ở giữa là phật tam thế gồm Phật Adi Đà chủ trì quá khứ, phật
Thích ca Mâu Ni chủ trì hiện tại, Phật Di Lặc chủ trì tương lai.
+ Pháp tam thanh gồm Pháp thân là hình thể chung của các chư phật
trong cả ba thế. Bảo thân là cơ thể có cảm xúc, có sinh có tử mà người thế hệ
với Đức Phật có thể thấy được. Hóa thân là ngoại hình không sinh, không
diệt, chư phật là bồ tát có thể hiện ra để giúp đỡ chúng sinh.
+ Ngự bên phải là Phật thiên thủ thiên nhãn mà vẫn thường gọi là Phật
quan âm nghìn mắt nghìn tay
+ Ngự bên trái là tượng phật Tuyết Sơn
Nhà Thích thiện Am hai tầng lien hoa 9 tầng cao 7m80 8 mặt, kiến trúc
theo kiểu hoa sen thể hiện 9 kiếp tu hành của Đức Thích Ca Mâu Ni. Nhà
Thích Thiện Am là nơi thờ hai Pho tượng và bia đá.

Bước tiếp tới Nhà Trung là nơi hội họp của các chư tăng.
Đi tiếp chúng ta sẽ dừng chân ở Nhà Phủ Thờ. Nhà Phủ thờ dài 16m5,
rộng 9m gồm 5 gian, có 1 nhanh an, 4 khám thờ, 1 bia đá. Đây là nơi thờ
những nhà quý tộc có công tu sửa, xây dựng chùa : ở giữa là pho tượng chân
dung hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc cao 0.95m khoác áo tu hành, bên phải
là pho tượng về công chúa Lê Thị Ngọc Duyên, bên trái là quận chúa Trịnh
Thị Ngọc Cơ. Hai pho tượng đều cao 1m20, đội mũ phượng, xiên y lộng lẫy.
Bên cạnh đó còn 1 pho tượng nam là Thái tử Lê Đình Tứ cao 1m07.
Hoàng Thị Hằng
B -K17
16
Báo cáo môn học văn hóa dân gian

Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ

Tượng Thái tử Lê Đình Tứ
Cuối cùng là Hậu Đường dài 13 gian là nơi thờ đạo mẫu có đủ toa thánh
mẫu với tứ phủ và tứ vị ở hai bên và tượng các vị sư trụ trì nối tiếp nhau đã
qua đời.
Và khi đến thăm chùa Bút Tháp- bắc ninh chúng ta không thể không ghé
thăm pho tượng cổ Quan Âm nghìn mắt nghìn tay đẹp nhất Việt Nam được
tạc từ 350 năm trước.
Hoàng Thị Hằng
B -K17
17
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay
Tượng Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay hết sức điêu luyện, do
Trương Thọ Nam tạc và hoàn thành vào năm 1656, thời Hậu Lê. Tượng cao
3,7 m, ngang 2,1m, dày 1,15 m. Cánh tay xa nhất có chiều dài là 200 cm,

tượng có 11 đầu, 42 tay lớn và 958 tay dài ngắn khác nhau. Tính từ đài sen
lên, tượng cao 235 cm. Đầu rồng đội tòa sen cao 30 cm, bệ tượng cao 54 cm.
Đây được coi là một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc
tượng - nghệ thuật làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng thứ ngôn ngữ tạo hình
hàm súc. Tượng được đặt trên toà sen Rồng đội với dáng hành đạo, thư thái,
đôi mắt quảng đại như bao quát cả không gian vũ trụ, đằng sau là vầng hào
quang toả sáng, bên dưới là các hình trang trí sóng nước sống động như một
thuỷ cung. Trên bệ tượng có khắc dòng chữ Hán: Nam Đông Giao,
Thọ Nam - Trương tiên sinh - phụng khắc (tạm hiểu: Nam Đông Giao là địa
chỉ, Thọ Nam là tên hiệu, Trương là họ, tiên sinh là bậc trí giả, phụng khắc là
phụng mệnh trời đất dựng tượng để thờ). Tượng Quan Âm hai tay chắp trước
ngực, hai tay để trên đùi với những ngón tay đan chéo biểu tượng cho dáng
Hoàng Thị Hằng
B -K17
18
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
hành đạo và nhập định; các chùm tay để trần từ sườn, vai, lưng, trên người; những
tay được xếp vòng tròn từ lớn đến nhỏ hướng vào tâm (ngay sau gáy Phật). Ðiều
kỳ lạ là mỗi bàn tay lại hiện lên một con mắt mi dài, đen láy, độc đáo hơn nữa là
nhịp điệu mỗi cánh tay không giống nhau. Nhìn tổng thể tượng Quan Âm nghìn
mắt nghìn tay như những vòng hào quang toả ra từ tâm điểm.
Pho Quan Âm thiên thủ thiên nhãn được gọi là "Tập đại thành của nền
điêu khắc Việt Nam", vì dường như hội tụ đủ cả trời đất. Đại Bồ Tát ngồi trên
tòa sen do một con rồng đỡ lên từ mặt biển nổi sóng, sâu bên dưới là bốn bức
tượng nhỏ tượng trưng cho tầng địa ngục. Giữa lòng đức Bồ Tát là hình tượng
mặt trăng tròn vẹn, hai tay chắp trước ngực thể hiện hạnh nguyện vô lượng.
Ngang hai bên mặt chính của tượng là hai mặt khác, tượng trưng cho quá khứ,
tương lai. Phía trên đầu là các pho tượng phật ngồi cao dần, và trên cùng là
Phật A Di Đà, đức Phật của cõi Tây Phương cực lạc.
Một trong những vẻ đẹp riêng của pho tượng là các cánh tay lớn hoàn

toàn trong tư thế tự do thanh thoát. Thường những pho tượng thế này thì các
tay lớn sẽ cầm các pháp khí như kim cương chử, vòng, chuỗi hạt, hạt châu
Nhưng ở đây tay tượng hoàn toàn thoải mái với những động tác mềm mại.
Những cánh tay tỏa ra sau lưng như vầng hào quang rộng mở, trong mỗi lòng
lòng bàn tay có một con mắt.
Tượng Quan Thế Âm bồ tát thiên thủ thiên nhãn có thể xem là một vũ
trụ thu nhỏ, được sáng tác theo hệ thống quy luật rất chặt chẽ. Đó là những
quy luật âm dương ngũ hành và bát quái, luôn bao hàm các cặp phạm trù đối
lập nhưng thống nhất: Dương - Âm (thiện - ác, đỏ - đen, sáng - tối, trời - đất) :
Hoàng Thị Hằng
B -K17
19
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
+ Tượng Quan Âm được làm theo thế tam tài giả, tức là vòng tròn phía
sau tượng được gắn gần một nghìn bàn tay, trong mỗi bàn tay được khắc một
con mắt, đó là biểu tượng của Trời. Trời theo quan niệm ở đây là vũ trụ thu
nhỏ. Trong vũ trụ, cái thiện được biểu tượng ở
thế "tam quang giả" tức là 3 cái sáng bao gồm: mặt
trời, mặt trăng và các vì sao. Mặt trời là mặt Phật
Quan Âm nổi bật nhất, sáng ngời, đầy vẻ từ bi ,
đưa cái thiện đi khắp trần gian xua tan bong tối.
+ Trên đã có trời, hình tròn, động, thuộc
dương, nên dưới hệ tượng được biểu hiện cho đất,
tĩnh, thuộc âm; hình vuông, nối giữa trời và đất là
người - nhân vật Quan Âm. Trời, đất, người là 3 thế lực siêu nhiên trong vũ
trụ, có sức sáng tạo không ngừng. Con rồng đen dưới tòa sen là Hắc Long
dưới Biển Đông, tượng trưng cho cái Ác. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn
tay ngồi trên tòa sen, cả tòa sen lại đặt trên đầu con rồng đen, tượng trưng cho
cái thiện bao giờ cũng ngự trị cái ác.
Trên mũ của Quan Âm có 3 tầng đầu, mỗi tầng có 3 đầu, đầu thứ 9 là

Phật A Di Đà - tượng trưng cho cõi Niết bàn. Như vậy, mỗi cái đầu là biểu
tượng của một tầng trời. Điều thú vị là A Di Đà cùng với con chim Thiên
Đường ở phía sau được gắn với hai cái đầu (số 2 thuộc âm, biểu tượng cho
linh hồn của người đã chết siêu thoát ở cực lạc). 3 cái đầu đó chụm lại gợi cho
ta về cõi tam thế "quá khứ - hiện tại - tương lai".
+ Ý nghĩa của các thế tay của tượng Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay
: hai bàn tay chắp trước ngực, đó là ý chí của con người, tâm niệm làm điều
thiện. 42 cánh tay gắn ở hai bên hông tượng tỏa ra nhiều hướng hàm ý muốn
thắng được cái ác phải sử dụng cả văn lẫn võ (những cánh tay bên phải biểu
tượng cho văn, những cánh tay bên trái biểu tượng cho võ). Thế tay của Quan
Hoàng Thị Hằng
B -K17
20
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
Âm nâng niu mặt trăng trước tâm của mình, tượng trưng cho sự soi xét tự
kiểm. Để tu hành đắc đạo, chúng sinh phải có lòng kiên nhẫn, tu hết đời này
truyền sang đời khác, cây đức trồng càng lâu thì phúc càng dày. Hai cánh tay
để trên đùi của Phật biểu tượng cho ý chí kiên định tạo nên thành quả.
Bên cạnh tuyệt tác Quan Âm nghìn mắt nghìn tay , những pho tượng
khác trong chùa cũng là các tác phẩm rất giá trị: pho tượng tạc một vị sư
Thiên Trúc với đặc trưng là mái tóc xoăn tròn, dáng vẻ khắc khổ nhưng an
định. Pho tượng đại diện cho các vị tổ sư Phật giáo từng đến Việt Nam từ hai
hướng tây sang và Trung Hoa đến.
Pho tượng Tây Thiên Đông Độ lịch đại tổ sư
Tượng phật trong chùa còn có đặc biệt là hai bộ Tam Thế và Tam Thân.
Ở nhiều chùa thường không có đủ cả hai bộ này nhưng ở chùa Bút Tháp lại là
nơi có đủ cả hai bộ.
Chùa Bút Tháp có hệ thống tượng phật rất độc đáo và rất giá trị. Đây là
nơi lưu giữ rất nhiều các pho tượng có giá trị từ lâu đời, những pho tượng thể
hiện ý nghĩa phật giáo Việt Nam.

IV. KẾT LUẬN
Sau khi ghé thăm và khám phá ở Chùa Bút Tháp, tôi đã cảm thấy rất
ngạc nhiên và đã khám phá được rất nhiều thông tin thú vị về chùa và hệ
Hoàng Thị Hằng
B -K17
21
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
thống tượng phật có giá trị. Ngôi chùa đất Bắc với mái chùa không cao, cửa
điện không rộng khiến mọi người phải cúi mình, nhấc chân cẩn thận trong
từng bước đi, cử chỉ, ánh mắt, lời nói. Đây là cõi linh thiêng cũ kỹ nhưng tâm
linh , xuống mầu tàn sắc nhưng thâm sâu vô lượng. Nơi chứa ẩn rất nhiều các
pho tượng bí ẩn và rất giá trị của giới Phật giáo Việt Nam.
Khi đến chùa, ngoài việc các bạn lễ phật, các bạn nên dành một chút thời
gian thăm quan và khám phá kiến trúc và hệ thống tượng phật ở các chùa.
Điều đó đem lại cho mọi người những kiến thức và thông tin rất cần thiết về
chùa- nơi linh thiêng hơn nữa bạn còn cảm thấy tâm hồn thanh thản khi biết
về chùa và biết cách hành lễ…khi đến chùa.
Với môn học này, chúng tôi đã có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn về kiến trúc
chùa và hệ thống tượng phật trong chùa. Đó là một sự trải nghiệm rất tốt và
cần thiết để áp dụng vào ngành nghề sau này. Chúng tôi có cái nhìn tổng quát
về chùa, những giá trị tượng phật.
Nhóm thực tế chùa Bút Tháp - Bắc Ninh
Hoàng Thị Hằng
B -K17
22
Báo cáo môn học văn hóa dân gian
Sơ đồ chùa Bút Tháp Bắc Ninh
Hoàng Thị Hằng
B -K17
23

Báo cáo môn học văn hóa dân gian
TÀI LIỆU THAM KHẢO
/> />thanh-Thang-Long-va-nhung-gia-tri-noi-bat-toan-cau/20098/4478.vgp.
/> />siteid=1&sitepageid=3&articleid=406.
/>g-thanh-thang-longdi-san-van-hoa-the-gioi.htm.
Hoàng Thị Hằng
B -K17
24

×