Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Phân tích sự thay đổi điển nhìn của nhà văn Nam Cao trong các truyện ngắn: Đời thừa, Đón khách, Trăng sáng, Bài học quét nhà, Nước mắt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (118.88 KB, 10 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phân tích sự thay đổi điển nhìn của nhà văn Nam Cao trong các truyện
ngắn: Đời thừa, Đón khách, Trăng sáng, Bài học quét nhà, Nước mắt
I. MỞ ĐẦU
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Trí (1915 – 1951), sinh ra ở làng Đại
Hoàng thuộc tổng cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay
thuộc xã Hoà Hậu – Lý Nhân – Hà Nam). Nam Cao có sáng tác đăng báo từ
1936, những sự nghiệp văn học của ông chỉ thực sự bắt đầu từ truyện ngắn “Chí
Phèo” (1941). Sáng tác trước cách mạng của Nam Cao tập trung vào hai đề tài
chính: Cuộc sống người trí thức tiểu t sản nghèo và cuộc sống ngời nông dân ở
quê hương. Ở bài viết nhỏ này, em xin làm ở mảng đề tài cuộc sống trí thức tiểu
tư sản nghèo của Nam Cao trong đó có các truyện ngắn như:
1. Đời thừa.
2. Đón khách.
3. Trăng sáng.
4. Bài học quét nhà.
5. Nước mắt.
Đây là những truyện ngắn của Nam Cao viết về ngời trí thức tiểu t sản
nghèo. Trong những sáng tác này Nam Cao đã miêu tả hết sức chân thực tình
cảm nghèo khổ, dở sống, dở chết của những nhà văn nghèo, những “giáo khổ tr-
ờng tủ” học sinh thất nghiệp ... nhà văn đặc biệt đi sâu vào những bi kịch tâm
hồn của họ, qua đó đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, v ợt khỏi phạm
vi của đề tài. Đó là tấm bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của ngời trí thức
có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão lớn về một sự
nghiệp tinh thần, nhng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt
làm cho “chết mòn” phải sống cuộc sống “đời thừa”. Những tác phẩm đó đã phê
phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con ngời,
đồng thời đã thể hiện sự tự đấu tranh bên trong của ngời trí thức tiểu t sản trung
thực cố vơn tới một cuộc sống đẹp đẽ, thực sự có ý nghĩa xứng đáng là cuộc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sống con ngời.


Có thể nói, dù viết về ngời trí thức nghèo hay về ngời nông dân cùng khổ.
Nam Cao luôn day dứt tới đau đớn trớc tình trạng con ngời bị sói mòn về nhân
phẩm thậm chí bị huỷ diệt cả nhân tính, trong cái xã hội phi nhân đạo đơng thời.
Truyện ngắn “Trăng sáng” (1943) đợc coi là tuyên ngôn nghệ thuật của
Nam Cao trớc cách mạng, ông viết “chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh
trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp
lầm than ... ”. Theo Nam Cao, ngời cầm bút không đợc “trốn tránh sự thực, mà
cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời”.
Còn trong truyện ngắn “Đời thừa” (1943) Nam Cao cho rằng một tác
phẩm “thật giá trị” thì phải có một nội dung sâu sắc: “Nó phải chứa đựng đợc
một cái gì lớn lao, mạng mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng th-
ơng, tình bác ái, sự công bình ... ”. Nó làm cho ngời gần ngời hơn.
Trong ba truyện ngắn còn lại: “Đón khách”, “Bài học quét nhà”, “Nớc
mắt”, tuy rằng những truyện ngắn này không đi sâu vào cuộc sống của ngời trí
thức nhng cũng phần nào nói lên cuộc sống khổ cực về cơm áo, gạo tiền, day
dứt trăn trở về cuộc sống.
Từ đầu đến cuối truyện (trong chuyện trên) tác giả Nam Cao đã có sự thay
đổi điểm nhìn của các truyện nói chung, mỗi truyện nói riêng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. NỘI DUNG
1. Trăng sáng
Truyện ngắn “Trăng sáng” đợc viết năm 1943, truyện viết về ngời trí thức
nghèo Điền là nhân vật chính xuyên suốt tác phẩm. Điền là nhân vật đại diện
cho anh trí thức nghèo trong các truyện ngắn viết về ngời trí thức của Nam Cao.
Điền là anh giáo khổ trờng t, nhng nay đã thất nghiệp tiền dạy học tháng
cuối cha thu đợc của học sinh, lai bị ông hiệu trởng nợ mất nửa tháng lơng
không có tiền trả Điền, ông bảo Điền mang bộ ghế mây của ông về dùng. Bất
đắc dĩ Điền phải cầm bốn chiếc ghế mây vì Điền rất nể ông hiệu trởng. Đoạn
đầu truyện Nam Cao đã diễn tả cuộc sống của Điền rất êm đẹp, đầy lãng mạn
với bốn chiếc ghế mây bắt ra sân ngồi ngắm trăng. Điền luôn suy nghĩ và mơ

mộng, Điền yêu trăng, anh cho rằng trăng và cái gì đó rất cao đẹp và thơ mộng.
Điền không ân hận vì bố mẹ đã mất nhiều tiền của cho anh ăn học giờ anh chẳng
làm đợc gì, nhng có một điều anh luôn tin rằng cái việc hoc của anh đã giúp ích
cho anh nhiều lắm, nhờ nó mà anh đọc nổi văn thơ và nhờ văn thơ mà anh hiểu
đợc cái đẹp của gió của trăng. Anh cảm thấy cuộc đời nh vậy là anh toại nguyện,
anh hơn ngời, anh vui vẻ, nhng ngợc lại với ngời vợ thì lúc này Nam Cao lại có
cái nhìn khác, tác giả nh hoá thân vào chính nhân vật để nhân vật ấy tức Điền có
một cách nhìn nhận về vợ anh, anh phàn nàn cho những tâm hồn cằn cỗi nh tâm
hồn của vợ Điền. Đối với thị trăng chỉ là ... đỡ tốn 2 xu dầu mỗi tối. Hai xu dầu
chẳng là bao nhng thị nghĩ mời cái hai xu cũng là khá nhiều. “những kẻ chỉ suốt
đời tính toán là những kẻ tự làm khổ thân suốt đời” anh vẫn trách vợ anh nh vậy.
Nhng chính lúc này đây anh lại có những suy nghĩ và cách nhìn nhận khác anh
lúc ban đầu. Và ngay lúc này lúc ngồi ngắm trăng để tạm quên đi những lo toan
thờng ngày, lo toan cho cuộc sống, cái lo nhỏ nhen của kiếp ngời, Điền cũng còn
tính vẩn vơ, Điền ớc có một thật thanh bình, đơn giản, để cho anh không còn
phải lo tính kế nữa và anh có thể rảnh rang theo đuổi cái mộng của anh ... đó là
cái mộng văn chơng. Nhng đó chỉ là ớc mơ Điền không bao giờ thực hiện đợc
bởi cuộc sống cơm áo không cho phép anh theo đuổi sự nghiệp mà anh từng mơ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ớc, anh phải tạm quên nó đi và phải nghĩ đến gia đình, nghĩ đến việc kiếm tiền.
Đến phần này Nam Cao miêu tả cảnh gia đình Điền thật nheo nhóc khổ
sở, lúc này tác giả có cái nhìn khác hẳn so với lúc ban đầu, vì vậy mà ngôn ngữ
của Nam Cao cũng thay đổi: “con bé khóc hết hơi. Con lớn thì lem luốc, mũi dãi
nghếch ngoác bôi đầy mặt ... thị thấy lòng nổi lên sôi sục, thị giậm chân bành
bạch lên kêu trời. Thị đánh con lớn, chửi con nhỏ, quẳng cái chổi, đá cái thùng
và càu nhàu trống không”. Nét mặt cau có, ngôn ngữ cục cằn và nhất là cái lời
yêu quá đơn sơ của vợ Điền làm Điền khổ. Anh cảm thấy thiếu thốn tình cảm,
nếu cứ sống trong cái cảnh này, trong cái gia đình này, với những cái lo lắng nhỏ
nhen sẽ làm cho anh chết dần và cạn kiệt nguồn văn thơ quý báu của anh ta, lúc
này anh ta lại nghĩ đến những ngời đàn bà nhàn hạ, suốt ngày chỉ ăn chơi nhàn

hạ. Chính cuộc đời anh cảm thấy khổ cực quá nên anh luôn ao ớc và nghĩ đến
những điều xa sôi và đẹp đẽ về những ngời đàn bà vợ anh, anh cảm thấy cha bao
giờ có, và anh cho là thị chẳng đáng đợc yêu quý, chẳng đáng đợc cho Điền th-
ơng hại. Vì cuộc sống gia đình nên Điền có cái nhìn về ngời vợ trở nên xấu xí
méo mó.
Trong các tác phẩm lúc thì tác giả nhập vào vai Điền, lúc thì nhập vào vai
vợ Điền lúc đứng là ngời ngoài để nói lên nhng cuộc sống xã hội thời phong
kiến. Ngôn ngữ của Nam Cáo lúc thì nhẹ nhàng, lúc thì cay độc tất cả những cái
đó làm cho văn ông trở nên là những tác phẩm bất hủ.
2. Đời Thừa
Truyện ngắn Đời thùa là truyện ngắn tập trung đi sâu vào tấm bi kịch tinh
thần đau đớn ,dai dẳng của nguơì trí thúc nghèo khao khát một cuộc sống có ý
nghĩa ,ôm ấp một hoài bão lớn về sụ nghiệp văn chuơng có ích cho xã hội
,nhung rút cục chỉ vì ghánh nặng cơm áo gia đình mà phải sống một cuộc sống
vô nghĩa ,vô ích ,một đời thùa chẳng nhũng thế ,trong tâm trạng bế tắc đau
khổ ,con nguời có tấm lòng vô cùng nhân hậu và coi tình thuơng là trên hết ấy
đã nhiều lần có thái độ phũ phàng thô bạo với vợ con ,vi phạm vào lẽ sông tình
thuơng của chính mình .Trong cả tác phẩm Nam Cao đã có một cách nhìn ,một
cái nhìn rất thông cảm cho nhũng nhân vật trong tác phẩm của ông .Nhung nhân
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vật trong truyện của ông đều rất đáng thuơng ,là nhũng số phận đau khổ ,điển
hinh là nhân vật Tù và Hộ .Hộ là đại diên cho tầng lớp trí thúc nghèo trung thục
sống trong một hoàn cảnh bế tắc ,cố vuơn lên để giũ ũng lẽ sống nhân đạo .
Hộ là nhà văn nghèo vì thuơng nguời nên anh đã lấy Tù sau một thời gian
sống hạnh phúc ,Hộ chỉ sung suớng đuợc it lâu thôi ,sau nhũng hanh vi tốt đẹp
hắn giành cho Tù ,và cái hành vi ấy đuợc trả công bằng một tinh yêu rất êm
đềm, nhưng do ghánh nặng gia đình trĩu xuống đôi vai gầy của hắn ,hăn trở nên
phũ phàng thô bạo với vợ con .
Nam Cao đã hoá vào nhân vật Hộ để an ủi và chia sẻ ,giúp đỡ Tù lúc khó
khăn nhất mà Tù gặp phải ,lúc mà gã tình nhân bỏ Tù với đúa con mới đẻ à Tù

phải nuôi một bà mẹ già .Hộ giang tay ra cúu giúp Tù nhu một ân nhân .Hộ là
đại diện cho tầng lớp trí thúc nghèo sống cuộc sống ''Đời thừa''
Qua đây Nam Cao cho ta thấy đuợc cách nhìn của ông đối đối với con
nguời sông trong xã hội phong kiến ,xã hội ngột ngạt bóp chết mọi uớc mơ,
cuớp đi ý nghĩa cuộc sống chân chính của con nguời ,đồng thời đã đầu độc tâm
hồn con nguời ,làm cho quan hệ tốt đẹp giũa con nguơì với con nguời bị mất đi.
Mặt khác Nam Cao cho ta thấy sụ đấu tranh tu tuởng của nguời trí thúc trung
thục sông trong hoàn cảnh bế tắc cố vuơn lên. Qua Hộ Nam Cao đã phát biểu
trục tiếp nhiều ý kiến tiến bộ sâu sắc về quan điểm nghệ thuật của ông.
3. Đón khách
Truyện đón khách kể về anh chàng Sinh, Sinh là một công chức nhỏ
mới ra, anh ta là người hay nói và có vẻ ăn nói rất tốt, chỉ vì những câu
nói chêu đùa vô tình của anh mà làm cho gia đình ông bà đồ Cảnh cùng cô
con gái tên Na tưởng thật, chỉ là những câu đùa cửa miệng của Sinh mà
làm cả nhà Na hụt hẫng buồn rầu.
Sinh quen ông bà đồ Cảnh và cô Na là từ quán nước nhà cô, mỗi lần
vào nhà ông Hàn Phong chơi thì y phải đi qua quán nước nhà cô Na thành
ra quen gia đình cô và cô. Sinh thường hay chêu ghẹo Na, làm Na và bà
đồ tưởng đâu là Sinh thực lòng thích Na thật, một chò đùa thật tai ác mà
ngay chính Sinh cũng không nghĩ là thật, Nam Cao miêu tả ngôn ngữ của

×