Tải bản đầy đủ (.pdf) (41 trang)

Giá trị thông báo của cử chỉ tay và nét mặt trong hệ thống giao tiếp phi lời của người Việt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 41 trang )

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Giá trị thơng báo của cử chỉ tay và nét mặt trong hệ thống giao tiếp phi lời
ở người việt

LỜI NÓI ĐẦU
Việc thực hiện và hoàn thành niên luận đối với mỗi sinh viên là vơ cùng
quan trọng. Để hồn thành niên luận này, trước hết em xin chân thành cảm ơn sự
dạy dỗ tận tình của các thầy cơ giáo trong Khoa Ngơn ngữ. Đặc biệt em xin chân
thành cảm ơn sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn: Thầy
Nguyễn Văn Khang, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành niên luận này.
Do hạn chế về thời gian và giới hạn về kiến thức, niên luận này không
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến nhận
xét, đóng góp của các thấy cơ giáo và các bạn để niên luận được hồn chỉnh
hơn.

1


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Hàng ngàn năm qua, ngôn ngữ đã trở thành công cụ tư duy và phương
tiện giao tiếp đặc biệt quan trọng, giúp con người biểu đạt nội dung thông tin,
chia sẻ suy nghĩ, tình cảm…Vì thế, quan niệm truyền thống ln coi ngơn ngữ
đóng vai trị độc tơn trong giao tiếp mà lãng quên vai trò của cử chỉ, điệu bộ
(ngôn ngữ phi lời). Tuy nhiên, thực tế cho thấy thơng điệp mà người nói chuyển
tải bằng ngơn từ chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, trong khi giao tiếp bằng ngôn ngữ
không lời chiếm tỉ lớn hơn nhiêù. Càng quan tâm đến vấn đề giao tiếp, người ta
càng thấy là khơng thể bỏ qua vai trị của cử chỉ, điệu bộ. Sự hiểu biết thấu đáo
về ngôn ngữ cử chỉ rất cần thiết cho việc giao tiếp trong đời sống cộng đồng.
Với mn vàn tình huống khác nhau trong sinh hoạt đời thường, không phải ai


và không phải bất cứ lúc nào người ta cũng biết cách sử dụng cử chỉ điệu bộ
đúng mực và hợp phong cách. Biết biểu hiện bằng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ đúng
lúc, đúng tình huống sẽ nâng cao hiệu quả giao tiếp, có khi cịn hơn cả ngơn ngữ
có lời.
Trong giao tiếp phi lời, cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt đóng vai trị
quan trọng hơn cả, bởi chúng có tấn số xuất hiện cao, giá trị thơng báo lớn hơn
nhiều so với các bộ phận khác trên cơ thể. Đó là những hành vi quen thuộc, gần
gũi xung quanh, dễ dàng bắt gặp tuy nhiên lại ít khi được mọi người lưu tâm mà
thường chỉ coi chúng như bản năng tự nhiên. Vì niềm hứng thú tìm hiểu của bản
thân và nhận thấy vị trí quan trọng của cử chỉ, điệu bộ tay và nét mặt trong giao
tiếp, chúng tôi đã nảy ra ý định thực hiện đề tài nghiên cứu: “Giá trị thông báo
của tay và nét mặt trong hệ thống giao tiếp phi lời ở người Việt”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Ngược lại lịch sử xa xưa của lồi người, ta thấy vai trị của cử chỉ điệu bộ
trong giao tiếp là vô cùng to lớn. Bởi vì, trước khi “ngơn ngữ thính giác” bắt đầu
được hình thành (khoảng 5000 hay 4000 năm trước cơng ngun) thì cử chỉ điệu
bộ chính là ngơn ngữ cổ xưa nhất của loài người. Những khai quật khảo cổ học
đã chứng minh điều đó. Ở Mêhicơ, người ta đã tìm thấy những bức tranh tường,
2


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
những đồ gốm, trên đó, có thể hình dung được cách đây hàng ngàn năm, những
người Indien Maia đã “nói với nhau bằng điệu bộ”như thế nào:ngón trỏ của tay
phải chỉ ra phía trước để hỏi “mấy?”.Bàn tay trái chỉ vào tai để bảo “hãy cẩn
thận”, “hãy chú ý” hoặc là “hãy nghe”.Tuy nhiên, ngôn ngữ cử chỉ khi ấy chưa
thực sự được nghiên cứu. Một nhà nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ sửng sốt nhận ra
rằng: “Tưởng chừng như vô lý là trong một triệu năm tiến hóa của lồi người,
vấn đề giao tiếp không lời chỉ mới bắt đầu được nghiên cứu nghiêm túc, mang
tính hệ thống, khoa học từ đầu những năm sáu mươi (của thế kỉ này), và “Thậm

chí ngày nay, số đơng vẫn cịn chưa biết đến sự tồn tại của ngơn ngữ cử chỉ, dù
nó rất quan trọng đối với đời sống của họ”.Vì thế, người ta cùng khơng khỏi
ngạc nhiên về “sự phát triển bỗng nhiên” của những nghiên cứu dành cho vấn đề
này trong những năm gần đây.
Ở Việt Nam, ngôn ngữ phi lời mới được một số ít người nghiên cứu như:
Nguyễn Quang, Phi Tuyết Hinh, Đỗ Thanh, Mai Xuân Huy, Thục Khánh…Phần
lớn là những bài viết mang tính khái quát, đăng trên các tạp chí, chưa đi vào
nghiên cứu một cách cụ thể, chuyên sâu.
3. Đối tượng nghiên cứu
Cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt trong giao tiếp phi lời ở người Việt.
4. Phạm vi nghiên cứu
Ngôn ngữ phi lời bao gồm các phương tiện giao tiếp không dùng đến âm
thanh (không được tiếp nhận qua thính giác) như: cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, điệu
mặt (gọi chung là ngôn ngữ cử chỉ hay ngôn ngữ thân thể), như khoảng cách
trong giao tiếp, các tín hiệu màu sắc, mùi vị…
Như vậy, ngơn ngữ phi lời là phạm trù rộng. Trong phạm vi bài niên luận
này, chúng tôi chỉ đề cập đến một phần của ngôn ngữ thân thể là cử chỉ điệu bộ
của tay và nét mặt.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
- Quan sát các hành vi cử chỉ, điệu bộ của tay và nét mặt trong thực tế
3


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Nghiên cứu tài liệu liên quan
- Ghi chép, thu thập, thống kê, phân loại (theo hình thức, giá trị biểu
đạt…) các cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt cả trong thực tế và trong tài liệu.
- Miêu tả, so sánh các cử chỉ điệu bộ đã thu thập

- Phân tích, đánh giá ý nghĩa thơng báo của từng cử chỉ đó, xem xét trong
thực tiễn hoạt động giao tiếp.

4


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
II. NỘI DUNG
1. Tổng quan về ngôn ngữ cử chỉ
1.1. Quan niệm về ngôn ngữ cử chỉ
Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi cử chỉ, điệu bộ của chúng ta đều mang
theo nó một vài nét của tâm lý cá nhân, đó là sự thể hiện ra bên ngồi những tình
cảm bên trong. Loại giao tiếp phi văn tự này có tên là “ngơn ngữ cơ thể” hay
“ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ” (gọi tắt là ngôn ngữ cử chỉ).
Qua các nghiên cứu của về loại ngôn ngữ cử chỉ này, các nhà tâm lý coi
cơ thể con người như là một “trạm thu phát thông tin”, nó “phát đi” các động
tác, cử chỉ, nét mặt và các loaị ngơn ngữ vơ thanh khác, thường có tác dụng rất
lớn trong việc bổ sung ý nghĩa cho ngôn ngữ của âm thanh, hoặc bộc lộ rõ
những ý đồ giả tạo, không trung thực. Điều này cho chúng ta diễn đạt chính xác
và hồn chỉnh tư tưởng của mình, đồng thời hiểu rõ được người khác. Có nhà
nghiên cứu đã đánh giá một cách hình ảnh rằng: “Thân thể của con người là một
quyển sách của tâm hồn và quyển sách ấy đã lật ra, chỉ còn việc nhìn vào đấy”,
“Tiếng nói của thân thể bao giờ cũng là tiếng nói thật, dù cho người nào đó có
khéo léo che đậy sự thật bản chất của mình, thì trước sau người đó cũng bị lật
tẩy qua những trang sách thân thể của mình”( Nguyễn Văn Lê, [3], tr. 144, 145).
Trong tất cả các bài phát biểu và khoa học tâm lý, khái niệm mà người ta
thường được gán cho ngôn ngữ cử chỉ là những hành vi vô thức của cơ thể, biểu
hiện một dạng thông điệp. Mặc dù sự phân cách giữa hai loại: ngôn cử chỉ vơ
thức và có ý thức vẫn cịn đang tranh cãi (Chẳng hạn, một nụ cười có thể tạo ra
một các có chủ định hoặc khơng).

Có thể hiểu một cách chung nhất, ngôn ngữ cử chỉ là sự pha trộn của các
cử chỉ, điệu bộ, động tác, tư thế, dáng điệu và ngữ điệu giọng nói. Đây là một
dạng giao tiếp sử dụng cử chỉ, điệu bộ của cơ thể để thay cho âm thanh, tiếng
nói và các dạng giao tiếp khác.
Ngôn ngữ cử chỉ là một bộ phận quan trọng của ngơn ngữ giao tiếp phi
lời, nó bao gồm ngơn ngữ của đầu, mặt , mày , chân, tay,…Và cũng có thể nói
hầu hết các bộ phận trên cơ thể chúng ta đều có khả năng truyền tải thơng tin.
5


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trong giới hạn bài niên luận này, chúng tơi chỉ đi vào tìm hiểu giá trị
thông báo của cử chỉ tay và nét mặt.
1.2. Cơ sở chung về ngôn ngữ cử chỉ
Vào thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, “Thuyết ngôn ngữ cử chỉ” trở nên thịnh
hành. Những người chủ trương thuyết này cho rằng ban đầu con người chưa có
ngơn ngữ thành tiếng, để giao tiếp với nhau, người ta dùng tư thế của thân thể và
của tay. Vuntơ (thế kỉ XIX) cho rằng điệu bộ về nguyên tắc cũng giống như âm
thanh, dù là điệu bộ tay hay âm thanh cũng là động tác biểu hiện. Marr (Đầu thế
kỉ XX) khẳng định ngôn ngữ cử chỉ tồn tại cách đây 1 triệu đến 1 triệu rưỡi năm
cịn ngơn ngữ âm thanh chỉ tồn tại cách đây 5 vạn đến 50 vạn năm. Theo ơng,
ngơn ngữ cử chỉ có thể biểu thị tư tưởng, khái niệm hình tượng hố, có thể dùng
làm cơng cụ giao tiếp giữa các thành viên trong cùng một bộ lạc, với các bộ lạc
khác, có thể dùng làm cơng cụ phát triển khái nịêm của mình.
Phải đến thế kỉ XX giao tiếp phi ngôn ngữ mới được quan tâm một cách
thực sự. Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp thông qua các cử chỉ hoạt động của
cơ thể như nét mặt, cách nhìn, điệu bộ và khoảng cách giao tiếp. Có rất nhiều
học thuyết nghiên cứu về loại hình giao tiếp này nhưng nổi bật nhất vẫn là “Học
thuyết tâm lý tinh thần” và “Học thuyết hành vi cư xử”.
Trong “Học thuyết tâm lý tinh thần”, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng

con người dù ở bất cứ một nền văn hố nào cũng đều có sáu trạng thái tâm lý (
hạnh phúc, buồn khổ, giận giữ, sợ hãi, ghét, ngạc nhiên ) và tất cả các trạng thái
tâm lý đó do sự chi phối của não tạo ra những thay đổi trên mặt nhưng theo hai
dạng là tự nhiên và xã giao có mục đích. Trong một thử nghiệm về ảnh hưởng
của não đến các nét mặt của con người, thực nghiệm đã cho thấy khi các nét mặt
bị tê liệt, người ta không thể cười có mục đích (như để tạo ra sự thân mật )
nhưng vẫn có thể cười một cách tự nhiên khi có điều làm họ bất ngờ. Và ngược
lại cũng có trường hợp, một người có thể cười một cách xã giao nhưng lại không
thể cười một cách thoải mái được. Tuy nhiên, học thuyết này lại lại nêu ra nhiều
điều tranh cãi. Ngôn ngữ cử chỉ là những từ ngữ được quy ước để chỉ các trạng
thái tâm lý, bản thân các trạng thái tâm lý này lại không được định nghĩa một
6


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
cách rõ ràng, chính thức thơng qua bất cứ loại hình sách vở nào.
Trong “Học thuyết hành vi cư xử”, các nhà khoa học lại cho thấy khơng
có mối cảm xúc cơ bản cũng như khơng có biểu hiện cơ bản mà đơn giản chỉ là
các hành vi cư xử mang mục đích xã hội. Nét mặt chính là biểu hiện của những
việc chúng ta muốn làm hay có ý định làm. Có thể lấy ví dụ trạng thái tức giận
(như Học thuyết tâm lý tinh thần đã nêu ) chính là sự mơ tả về hành vi sẵn sàng
để tấn công đối thủ. Nhưng nói một cách khác, khơng phải lúc nào cử chỉ của
con người cúng mang thơng điệp hay chủ đích như vậy. Giả sử như chúng ta
ngáp, điều này lại khiến cho ban tổ chức nghĩ rằng chúng ta cảm thấy chán,
buồn ngủ với nội dung chương trình.
Có rất nhiều ý kiến cho rằng ngôn ngữ cơ thể bắt nguồn từ giao tiếp động
vật .Mối liên quan giữa ngôn ngữ cơ thể và sự giao tiếp của động vật đã được
bàn đến từ lâu. Ngôn ngữ cơ thể là sản phẩm của cả gen (Những đứa trẻ mù
cũng mỉm cười và cười to ngay cả khi chúng không bao giờ biết đến nụ cười )
và ảnh hưởng của môi trường. Nhà phong tục học người Iran, Eibl-Eibesfeldt

khẳng định rằng một trong số yếu tố cơ bản của loại ngôn ngữ này là đặc điểm
chung của nền văn hố và vì thế gắn với những hành động bản năng. Một số
dạng ngôn ngữ cơ thể người có tính kế thừa từ cử chỉ giao tiếp của các loài linh
trưởng khác, mặc dù thường mang những thay đổi về ý nghĩa. Nhiều cử chỉ tinh
tế hơn thay đổi theo các nền văn hoá (chẳng hạn điệu bộ diễn tả “Có” hoặc
“Khơng” ) bắt buộc phải được học hoặc thay đổi trong quá trình học hỏi, thường
do quan sát vô thức từ môi trường.
2. Hệ thống cử chỉ, điệu bộ của tay và nét mặt trong giao tiếp ở người Việt
2.1. Phân loại
Trong giao tiếp, do bị chi phối bởi các yếu tố tâm lý, dân tộc, xã hội nên
những biểu hiện cụ thể của cử chỉ, điệu bộ rất phong phú đa dạng. Tuy nhiên có
thể quy lại và phân thành 4 loại chính:
1. Cử chỉ mơ phỏng
2. Cử chỉ tượng trưng
3. Cử chỉ thuyết minh
7


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4. Cử chỉ hàm chỉ
Đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ chỉ là cử chỉ thuyết minh và
cử chỉ hàm chỉ.
2.1.1. Cử chỉ thuyết minh
Là cử chỉ đi kèm với các hành vi lời nói biểu thị sự khẳng định, phủ định,
ngạc nhiên, nghi ngờ, giễu cợt… Loại cử chỉ này làm nên sức biểu hiện của nội
dung được thông báo bằng lời. Tuy vậy, khi viết trên văn bản, nếu loại ra các
yếu tố cử chỉ, điệu bộ thuyết minh thì nội dung từng lời nói vẫn được đảm bảo,
sự nối kết vẫn được duy trì. Như vậy, loại cử chỉ thuyết minh này khơng có giá
trị liên kết lời nói mà chỉ có giá trị bổ sung, làm rõ ý nghĩa và sắc thái cho ngôn
từ.

VD: - (Xua tay). Không phải nói nữa, tơi biết hết rồi!
- (Bẻ đốt ngón tay). Em… em không biết ạ.
- (Lắc đầu). không, không phải nó.
- (Bĩu mơi). Gớm, tơi chả thiết
- ….
2.1.2. Cử chỉ hàm chỉ (cử chỉ thay lời)
Là cử chỉ có khả năng tồn tại độc lập trong giao tiếp và có giá trị tương
đương với một hành vi bằng lời.
Cử chỉ hàm chỉ bắt đầu từ cử chỉ kèm lời. Sau đó dẫn đến thiết lập một
mối quan hệ ổn định giữa hành vi lời nói và các kiểu cử chỉ đi kèm. Đến một lúc
nào đó, trong những tình huống cụ thể, người này chỉ cần thể hiện cử chỉ, điệu
bộ tương ứng đó là người kia hiểu được giá trị bằng lời..
Trên cơ sở chức năng và hoạt động của loại cử chỉ này có thể chia làm ba
loại:
a, Loại cử chỉ biểu thị hành vi tiếp nhận giao tiếp
VD: Trong giờ học, An gọi Bình:
- Này Bình.
Bình ngồi bàn trên, quay đầu lại
An thì thầm:
8


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Chiều nay học xong đi đá bóng nhé!
Cơ giáo nhắc:
- An!
An ngẩng đầu lên.

Ở các trường hợp loại trên, cử chỉ: quay đầu lại, ngẩng đầu lên, dừng
lại, nhìn, … đều là kết quả của một hành vi hơ gọi, kích thích ban đầu. Chúng

thể hiện rằng người nghe đã chuẩn bị một thế giao tiếp mới, sẵn sàng đón nhận
thơng tin mới. Có thể thể hiện hiển ngơn hố các cử chỉ trên bằng các phát ngơn:
“ gì thế ? ’’ , “ có chuyện gì đấy ? ’’, … Người phát tin hiểu được ý nghĩa của
các cử chỉ của người kia sẽ tiếp tục thực hiện hành vi nói của họ
b. Loại cử chỉ tương ứng với một hàm ý.
Trong giao tiếp, hàm ý là một hiện tượng thường gặp. Ở một số trường
hợp, cùng với tiền giả định, nó trở thành phương tiện liên kết hàm ngơn giữa các
lời nói. Tuy nhiên, do là phương tiện hàm ngôn nên nội dung của nó khơng phải
lúc nào cũng được hiển ngơn một cách đúng đắn, chính xác.
VD1 : A – Tối nay đi chơi nhé ?
B- Sáng mai tớ phải nộp bài tiểu luận rồi
Lời nói của B chứa hàm ý, muốn hiểu được A phải suy luận:
Sáng mai B phải nộp bài tiểu luận  B vẫn chưa làm xong  B khơng có
thời gian  B khơng thể đi chơi vào chiều nay được.
Tuy nhiên, nếu đi kèm với lời nói của B một cử chỉ thì q trình lý giải sẽ
đơn giản hơn:
A: Tối nay đi chơi nhé ?
B: ( Lắc đầu ) . Sáng mai tớ phải nộp bài tiểu luận rồi.
Ở ví dụ trên, cử chỉ của B mang thơng tin chính trả lời trực tiếp cho lời đề
nghị của A, cịn lời nói thêm của B mang tính chất giải thích.
VD2: A : Dạo này cậu vẫn ăn cơm ở quán, không tự nấu à ?
B : ( Gật đầu ). Nhưng dạo này giá cơm tăng cao lắm, không như trước
đâu.
9


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trong lời B, từ nối “ nhưng ’’ biểu đạt một quan hệ ngữ nghĩa hoặc với
một phát ngơn nào đó trước nó hoặc với một bộ phận trong cùng nột phát ngôn
nhưng bị tỉnh lược đi theo cấu trúc : “ Tuy … nhưng …” . Vế trước trong lời nói

của B khơng được hiển ngôn mà được thay thế bằng một cử chỉ có ý nghĩa
tương ứng ( “ gật đầu ” = “ ừ ” ).
Hiển ngôn cử chỉ câu trả lời của B sẽ là: “ Ừ.Nhưng dạo này giá cơm tăng
cao lắm, không như trước đâu ”.
Cử chỉ lúc này đóng vai trị quan trọng, đảm bảo sự tồn tại lời nói của B,
làm lời nói của B tương ứng với câu hỏi của A. Nếu bỏ các cử chỉ đi kèm thì
mối quan hệ giữa các lời nói sẽ trở nên rời rạc.
c. Loại cử chỉ tương ứng với một hành vi giao tiếp độc lập.
Các cử chỉ này tồn tại độc lập, hồn tồn giữ vai trị là một phản ứng,
khơng cần phải kèm thêm lời nói. Loại cử chỉ này được thể hiện cả trong hoàn
cảnh giao tiếp đặc biệt cả trong hồn cảnh giao tiếp bình thường. Chúng thường
khơng có chức năng lên kết, ví dụ :
- Nó về chưa?
- (Lắc đầu)
Trong một số trường hợp, các cử chỉ điệu bộ này vừa tương ứng với một
hành vi giao tiếp độc lập vừa tồn tại như một yếu tố nối kết giữa hai lời nói của
cùng một chủ thể, ví dụ:
- Mày đi thăm lăng Bác chưa? Tao tưởng lên đây chúng mày phải đến đó
rồi chứ?
Lời nói thứ nhất là câu hỏi khi chưa biết người được hỏi đã đi thăm lăng
Bác chưa. Lời nói thứ hai “Tưởng A” với tiền giả định: A không đúng nên có
nghĩa là : “Bọn mày chưa đi lăng Bác”
Nếu tình huống này tồn tại cử chỉ điệu bộ (Lắc đầu) của người đối thoai
thay cho hành vi trả lời thì sự tồn tại của hai phát ngơn này phi logic.
Ngồi ra người ta cịn có thể phân chia thành hai loại:
* Cử chỉ tán đồng: gật đầu, cười, vỗ tay, vỗ vai…
*Cử chỉ không tán đồng: lắc đầu, bĩu môi, lè lưỡi…
10



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Tuy nhiên, cách phân chia này tỏ ra hạn chế trong những trường hợp mà
cùng một cử chỉ nhưng laị biểu lộ hai ý nghĩa trái ngược.
2.2. Bảng giá trị thông báo của tay và nét mặt
Cho đến nay các nhà ngôn ngữ học chưa thống kê hết xem có bao nhiêu
cử chỉ ngơn ngữ trên thế giới cũng như chưa phân biệt được hết các ý nghĩa của
chúng, bởi lẽ, mỗi dân tộc, mỗi tộc người đều có một hệ thống ngơn ngữ cử chỉ
cùng ý nghĩa riêng của họ. Và ở Việt Nam cũng vậy, ngôn ngữ cử chỉ cũng rất
phong phú và đa dạng. Dưới đây, chúng tơi xin trình bày kết quả thống kê những
cử chỉ thường gặp ở tay và nét mặt trong giao tiếp của người Việt.
2.2.1. Giá trị thông báo của tay
STT CỬ CHỈ CỦA TAY
1
2
3
4
5

Phẩy tay

GIÁ TRỊ THƠNG BÁO
Sự việc nói đến qua nhỏ mọn khơng
đáng để ý hoặc buộc phải đồng ý.

Vẫy tay (các ngón hướng về “Lại đây!”
phía người nói)
Vẫy tay (các ngón hướng ra “Đi đi!”, khơng chấp nhận, muốn
ngồi)

tống khứ


Vẫy vẫy bằng một tay (tay Dấu hiệu để người khác biết, để ý
chuyển động nhẹ)

(sang đường)

Hai tay vẫy cuống quýt

Mong muốn được để ý

Hất tay (đầu ngón tay hướng Thể hiện phá bỏ ý kiến của người
6

lên trên, khép chặt, lòng bàn khác, tất cả vẫn như trước, bày tỏ sức
tay hướng ra ngoài hất hất)

mạnh và sự kiên quyết.

Chặt tay (bàn tay để thẳng, các Thể hiện sự quyết đốn, kiên quyết,
7.

ngón tay khép chặt với nhau nhanh chóng gỡ rối mọi việc.
như một chiếc búa đang chém
xuống)

8

Lật tay (lòng bàn tay hướng -Tư thế nhắc nhở người nói cẩn thận,

11



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
xuống dưới, ngón tay cái x cần kiềm chế tình cảm nhằm mục
ra, các ngón cịn lại hơi cong đích khống chế cuộc nói chuyện.
cong)

-Tư thế phủ nhận, phản đối …
- Khen ngợi, xin xỏ, khẩn cầu (giơ

Ngửa tay (lịng bàn tay hướng
9

lên trên, ngón tay cái x ra,
các ngón cịn lại hơi cong
cong)

tay cao)
- Động tác ăn xin thể hiện chân thành
lắng nghe ý kiến của mọi người,
giành được sử ủng hộ. (tay để ngang)
-Khơng biết phải làm sao (tay hạ
thấp).
-Thể hiện tình cảm bị kích động, uy

10

Nắm tay (năm ngón khép chăt, quyền, báo thù.
bàn tay nắm chắc)


-Thể hiện thái độ kiên quyết, nguyện
vọng muốn thực hiện điều gì đó …

11

Hai tay nắm vào nhau

Ý chí, niềm tin

12

Hai tay giang ra

Thể hiện sự chào đón.
-Thể hiện tinh thần lo lắng, sốt ruột.

12

Hai tay đan vào nhau

-Thể hiện sự trịnh trọng hoặc muốn
điều khiển cuộc đàm phán

13

Các ngón tay chạm vào nhau Thể hiện sự tự tin
thành hình tháp
-Thể hiện sự chào hỏi, thưa gửi (ở trẻ
em, nhất là ngày xưa)
-Trạng thái trầm tư, suy nghĩ


14

Khoanh tay

-Tư thế chờ đợi trong sự nhàn rỗi, sốt
ruột, bất lực
-Tư thế cơ lập, phịng ngự, khơng
hồ nhập hoặc khơng đồng tình
-Thách thức, đương đầu

12


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-Người nói cảm thấy hồ nghi

15

Bàn tay xoè năm ngón

16

Tay bắt chéo lên ngực

Phản ánh sự tự vệ

17

Giơ tay


Dấu hiệu xin phát biểu, đưa ra ý kiến

18

Lấy tay che miệng

Ngượng ngùng e thẹn thiếu tự tin

19

Tay xoa cằm

Thể hiện sự thơng minh lão luyện

20

Tay vị đầu

21

Vung nắm đấm lên

Hăm họa

22

Vặn vẹo bàn tay

Lúng túng, bối rối


23

Bẻ đốt ngón tay

Lúng túng, bối rối

24

Vân vê gấu áo

Lúng túng, bối rối

25

Gãi tai

Lúng túng, bối rối

26

-Thể hiện sự thẳng thắn, chân thành

Lúng túng, bối rối, chưa đưa ra giải
pháp hoặc khơng có ý kiến

Vị nát hoặc xé nhỏ cái gì đó
trong tay

Lúng túng, bối rối


Đưa ngón tay trỏ thẳngn lên
27

mơi

(thường

kèm

tiếng Ra hiệu bí mật khơng tiếp lộ

“suỵt!”)
-Răn đe chỉ mặt vạch tội (động tác
mạnh, ngón tay căng)
28

Giơ ngón tay trỏ

-Hướng người nghe tập trung vào
điều mình đang nói, tách rõ ràng vấn
đề,ý tứ khúc triết hơn (tay lia theo
từng câu nói).

29

Vỗ vai

Động viên, khích lệ


30

Vỗ lưng

Động viên, khích lệ

31

Vỗ chán

Suy nghĩ

32

Vỗ đầu

Suy nghĩ

33

Đập tay xuống

Tỏ ý chấm dứt, cắt ngang trước môt

13


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
vấn đề nào đó
34


Đứng chống tay vào hơng

35

Tay tì vào má

Đã sẵn sàng, thể hiện sự hung hăng
-Đang nghĩ, ước lượng điều gì đó
-Thể hiện sự chán ngán
-Phản đối, nghi ngại, nối dối

36

Sờ hoặc xoa nhẹ tay lên mũi

-Không muốn đề cập đến chủ đề đó
nữa

37

Đấm vào lịng bàn tay

Biểu kộ cảm xúc vui, mừng rỡ khi
hồn thành một cơng việc nào đó
- Chuẩn bị làm việc gì đó

38

Xoa tay vào nhau


-Chứng tỏ biết cách giải quyết việc
gì đó.
-Tự tạo cảm giác thoải mái khi mệt

39

Hai tay quàng sau gáy(Hoặc mỏi.
hai tay vòng ra sau đầu)

-Tư thế suy nghĩ một điều gì đó.
-Phản ứng lại vấn đề đang bàn tới

40

Gõ tay vào cằm

41

Tay gõ gõ thành nhịp (trên mặt
bàn)

42

Tay cầm điếu thuốc run run

43

Vung tay (động tác mạnh)


Người đó đang sắp sửa ra quyết định
Sốt ruột, hết kiên nhẫn rồi.
Căng thẳng, hưng phấn.
Sự dứt khoát khơng chấp nhận,
khơng muốn.
-Thể hiện sự chào đón trang trọng,

44

Bắt tay

lịch sự,tình hữu nghị.
-Chúc mừng
-Tin tưởng, tin cậy đối tác.

45
46

Vơ tình phủi bụi trên quần áo
hoặc cậy móng tay…

Lơ đãng, không chú ý.

Cử chỉ đưa tay vẽ một mặt Dấu hiệu thẻ hiện sự kiên quyết, chắc

14


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
phẳng nằm ngang

47
48
49

Khua tay

chắn, tập trung.
Việc nhắc tới được coi trọng (khua
tay múa chân)

Cánh tay gập căng lại (ở mức Cử chỉ khen ngợi, bày tỏ sự ủng hộ,
ngang vai), bàn tay nắm chặt

đoàn kết, tán thưởng.

Siết chặt tay người khác (tay Bày tỏ niềm tin, tình đồn kết.
cao q đầu)
-Niềm tin tưởng vào đối phương,

50

Bàn tay nắm lấy một bàn tay

tình bạn.
-Tìng cảm thương u, trìu mến, cảm
thơng, chia sẻ, an ủi, khích lệ…
-Thể hiện sự đắc chí, lão luyện, kinh

51


Tay vuốt râu

nghiệm.
-Thư thái, thoải mái.

52
53
54
55

Giơ một ngón tay cái lên

Khen ngợi, tin tưởng

Giơ ngón trỏ và ngón giữa lên Thể hiện sự chiến thắng
hình chữ V
Đưa ngón tay cái chống dưới Biểu lộ thái độ chỉ trích, tiêu cực
cằm
Cắn móng tay

Bối rối, sợ sệt, đắn đo
-Tán đồng, tâm đắc một ý kiến, một

56

Vỗ tay

hành vi nào đó
-Khen ngợi, khích lệ


57

Vỗ đùi

Tâm đắc, tán đồng

58

Tỳ tay lên trán

Thể hiện sự suy nghĩ, cân nhắc

59

Đặt lòng bàn tay lên ngực

Biểu thị cảm xúc thật thà, chân thật

60

Tay chống hông

Sự sẵn sàng hay sự hung hăng

61

Xua tay

-Không đồng ý,ra hiệu cho đối tác
không cần tiếp tục nói nữa.


15


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
62

Tay nghịch tóc (vuốt tóc)

63

Phủi tay

-Biểu thị sự bối rối, suy nghĩ vẩn vơ
-Sự làm dáng (thường ở nữ giới).
Giũ bỏ và kết thúc một việc gì đó

2.2.2. Giá trị thơng báo của mặt
STT

CỬ CHỈ CỦA MẶT

GIÁ TRỊ THÔNG BÁO

1

Gật đầu

-Sự tán đồng, chấp thuận
- Hài lịng.


2

Lắc đầu

-Tỏ ý phủ nhận, khơng tán đồng
-Chê trách, phê phán, khơng hài lịng
-Kinh hãi hoặc thán phục trước một sự
việc ngồi sức tưởng tượng
-Sự cảm thơng, thương cảm trước một
tình cảnh mà mình đành chịu bất lực,
khơng biết làm gì
-Tâm trạng buồn chán, thất vọng, bi
quan.

3

Xoa đầu

Hành vi thân thiện, biểu thị thái độ bề
trên với dưới

4

Cúi đầu

Băn khoăn suy nghĩ

5


Ngả đầu vào tay

Tỏ ý buồn rầu

6

Nghiêng đầu

Thích thú lắng nghe và tơn trọng người
khác nói .

7

Nhăn trán

-Ngạc nhiên
-Phẫn nộ, bất mãn.

8

Nhăn mặt (cau mặt)

Bực dọc, khó chịu, khơng hài lịng

9

Mặt hầm hầm

Tức giận, tình cảm bị dồn nén


10

Mặt cúi gằm

Xấu hổ, ngại ngùng, ăn năn, nhận lỗi

16


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11

Mặt đỏ lựng

Xấu hổ, ngại ngùng, nhút nhát.

12

Quay mặt đi

Khơng hài lịng, phủ nhận hoặc e ngại

13

Ngẩng đầu

Sẵn sàng lắng nghe, tiếp nhận điêu gì
đó.

14


Hất hàm

Thách thức, khiêu khích.

15

Cằm ngửa cao

Kiêu ngạo, cho mình giỏi, lòng tự trọng
cao.

16

Tặc lưỡi

-Sự cho qua mọi chuyện, miễn cưỡng
tiếp nhận hành vi và gián tiếp thể hiện
tính bề trên của người phát ngơn
-Nhắc nhở phải giữ kín điều gì đó.

17

Lè lưỡi

-Chế giễu, trêu đùa
-Lúng túng, xấu hổ
-Khơng đồng ý hẳn
-Ngạc nhiên, thán phục, kinh sợ.


18

Cắn chặt môi

-Sốt ruột, băn khoăn, suy nghĩ
-Tự kiểm điểm, chế giễu, trách móc bản
thân.

19

Liếm môi

Sự hưng phấn,căng thẳng, không muốn
người khác biết hoặc khi nói dối điều gì
hay trong lịng có sự dao động

20

Nhếch mép

Thể hiện sự mỉa mai, khinh thường

21

Bĩu môi

Mỉa mai, coi thường

22


Phát ra tiếng “xì”ở mũi

-Coi thường người khác
-Thở dài ngao ngán.

23

Mũi nở to

Tình cảm bị kìm nén khi khơng hài lịng
hoặc đắc ý.

24

Mũi ra mồ hơi

Tâm lý lo lắng, căng thẳng

17


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
25

Lỗ mũi hướng về đối Thể hiện sự coi thường
phương

26

Một bên lông mày dương Sự không hiểu hoặc nghi ngờ

lên

27

Hai lông mày nhướn lên -Hứng thú, vui vẻ, phấn khởi, ngạc
(dương mày)

nhiên
-Cố nhìn rõ mọi vật xung quanh khi
nguy cơ đe doạ giảm xuống.

28

Nhún

mày (lông

mày -Ngạc nhiên

dương lên rồi ngừng một -Buồn phiền
lát sau đố hạ xuống)
29

Lông mày giữ thẳng

Biểu lộ thái độ nghiêm túc, thận trọng
hoặc bàng quan.

30


Nhíu mày (chau mày)

Sốt ruột, khó chịu, tức giận, băn khoăn,
suy nghĩ, khơng đồng tình, hồi nghi.

31

Lơng mày dựng nghiêng -Tâm lý nghi ngờ
(một bên hạ xuống, một -Sự phấn khích, nỗi lo sợ.
bên dương lên)

32

Lơng
(dương

mày

lay

lên

rồi

động -Bày tỏ sự chào đón thân thiện
nhanh -Nhấn mạnh giọng điệu.

chóng hạ xuống)
33


Mí mắt mở to

Sự chăm chú

34

Mí mắt sẽ nhắm

Khơng hiểu hoặc ác cảm

35

Đồng tử mắt mở to

Thái độ yêu quý, chăm chú

36

Đồng tử mắt thu nhỏ

Tức giận, chán ghét, lạnh nhạt.

37

Mắt nhìn ngó lung tung, -Sốt ruột
khơng nhìn trực diện vào -Suy nghĩ phức tạp.
người đối diện

-Sự lừa dối
-Lúng túng, băn khoăn


18


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
-Khơng quan tâm
-Nhút nhát, khép kín.
38

Mắt nhìn ngang ngửa khi Nóng ruột, bất an, khơng tập trung.
nói

39

Mắt chăm chăm nhìn xa

Khơng chú ý tới lời người khác nói,
trong lịng đang tính tốn việc khác.

40

Mắt nhìn chằm chằm

Tập trung chú ý, hứng thú.

41

Chớp chớp mắt

Dồn nén tình cảm, lúng túng, bối rối.


42

Chaỷ nước mắt

-Buồn, tủi thân
-Vui sướng, cảm động

43

Quắc mắt

Thái độ bực tức, giận giữ

44

Mắt thẫn thờ

Đang suy nghĩ hoặc mệt mỏi.

45

Cụp mắt xuống

Bối rối, sợ sệt

46

Nháy mắt


-Dấu hiệu tán tỉnh, làm quen với ai
-Ra hiệu cho người khác đồng ý với
mình,đứng về phía mình để cùng thực
hiện một điều gì đó
-Ra hiệu (thường kèm cử chỉ hất hàm)
để chỉ cho một người về ai đó.

47

Mắt long sòng sọc

Hăm doạ, tức giận, hung hãn

48

Mắt long lanh

Hạnh phúc, chân thành, nhạy bén, nhiệt
tình.

49

Ánh mắt khơng chuyển Bộc lộ sự gây hấn, căm tức.
dờ, vẻ u tối

50

Ánh mắt láo liên

Trạng thái cá nhân gian xảo, lừa dối


51

Ánh mắt quét từ đầu đến Kiêu ngạo, dò xét.
chân đối phương

52

Ánh mắt chân thành, hiền Sự khoan dung, tơn trọng, có giáo dục
hoà

19


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
53

Đơi mắt vẩn đục, bng Người có ý định xấu
thả

54

Ánh mắt ngời sáng

Người có tấm lịng ngay thẳng

55

Ánh mắt trìu mến


Tình cảm thân thiết, gần gũi

56

Ánh mắt tinh nghịch

Người vui tươi, nhí nhảnh.

57

Ánh mắt thiết tha

Tình cảm chan chứa, cháy bỏng

58

Ánh mắt tập trung, khơng Sự kiên định, quan tâm tới vấn đề đang
chuyển dời

được đề cập tới, hoặc quan tâm tới
người đối diện.

59

Mắt trừng trừng

60

Mắt lơ đãng, nhìn chỗ -Chán ngán
khác


Nghiêm nghị, hà khắc
-Bối rối
-Sợ sệt

61
62

Nhắm mắt (trừ trạng thái Say sưa, tập trung, có hứng thú (nghe
ngủ)

nhac…)

Mắt lim dim

-Buồn ngủ, mỏi mệt
-Chán ngán, khơng có hứng thú.

63

Nheo mắt

Tập trung nhìn khi có ánh sáng quá
mạnh hoặc ánh sáng quá yếu.

64

Lườm

Bực tức, tỏ thái độ khơng hài lịng


65

Một mắt nhắm chặt, một Tập trung nhìn
mắt mở

66

Nghiến răng

Bực dọc, giận dữ, ấm ức, đay nghiến.

67

Giọng hơi dài, nũng nịu

Sự vòi vĩnh, yêu chiều

68

Giọng nhỏ nhẹ

-Người tính dịu hiền, hồ nhã, dễ gần
-Nhắc nhở, động viên, an ủi ai
-Mong muốn, u cầu ai làm điêù gì
đó…

20




×