Tải bản đầy đủ (.doc) (4 trang)

thủ tục giải thể và phá sản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (104.51 KB, 4 trang )

BÀI LÀM
Phá sản và giải thể đều dẫn đến sự chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp. Tuy
nhiên xét về bản chất, phá sản và giải thể lại rất khác nhau. Vậy thủ tục giải
thể và phá sản có những điểm khác nhau cơ bản như thế nào, trong bài làm
của mình em sẽ đi làm rõ vấn đề trên.
1, Khái quát chung:
a. Giải thể doanh nghiệp
Giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại, hoạt động của
doanh nghiệp. Giải thể doanh nghiệp trước hết là quyền của các chủ doanh
nghiệp( chủ doanh nghiệp với công ty tư nhân; thành viên hợp danh với công
ti hợp danh; Hội đồng thành viên, chủ sở hữu với công ty trách nhiệm hữu
hạn; Đại hội đồng cổ đông với công ty cổ phần). Mặt khác doanh nghiệp còn
bị giải thể trong những trường hợp do pháp luật qui định cụ thể trong Điều
157 Luật doanh nghiệp 2005 như: công ty không đủ số lượng thành viên tối
thiểu trong thời hạn 6 tháng liên tục; bị thu hồi giấy phép kinh doanh.
Giải thể là một thủ tục hành chính là giải pháp mang tính tổ chức, người
chủ doanh nghiệp tự mình quyết định hoặc do cơ quan có thẩm quyền cho
phép thành lập quyết định. Theo Luật doanh nghiệp 2005 thì việc giải thể
doanh nghiệp được thực hiện theo qui định sau: 1/Thông qua quyết định giải
thể doanh nghiệp; 2/Thanh lí tài sản và các khoản nợ của công ti.Công ty
chấm dứt sự tồn tại với tư cách là một doanh nghiệp từ khi bị xóa tên trong Sổ
đăng kí kimh doanh.
b. Phá sản doanh nghiệp
Phá sản là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, nó hiện
hữu như là một sản phẩm của cạnh tranh, chọn lọc và đào thải tự nhiên của
nền kinh tế thị trường.Theo qui định của pháp luật Việt Nam, phá sản là khái
niệm để chỉ doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với dấu hiệu đặc trưng
nhất là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Tuy nhiên doanh nghiệp bị lâm
vào tình trạng phá sản chưa hẳn là bị phá sản bởi vì chỉ khi tiến hành thủ tục
tuyên bố phá sản thì mới được coi là bị phá sản.
Thủ tục phá sản là một thủ tục tư pháp, là hoạt động do một cơ quan nhà


nước duy nhất là Tòa án có thẩm quyền tiến hành theo những qui định chặt
chẽ của Luật phá sản. Theo đó, thủ tục phá sản áp dụng đối với doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản bao gồm: 1/Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá
sản; 2/Phục hồi hoạt động kinh doanh; 3/Thanh lí tài sản, thanh toán các
khoản nợ; 4/Tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản.
2, Những điểm khác nhau cơ bản giữa thủ tục giải thể và thủ tục phá
sản doanh nghiệp.
Thứ nhất, sự khác biệt về bản chất pháp lý của thủ tục giải thể
và thủ tục phá sản.
Thủ tục giải thể là một thủ tục hành chính . Luật doanh nghiệp qui định khi
rơi vào một trong những trường hợp bị giải thể thể (điều 157 khoản 1), để
tiến hành giải thể công ti phải thông qua quyết định giải thể của công ti. Luật
doanh nghiệp qui định quyền của chủ doanh nghiêp đối với doanh nghiệp tư
1
nhân; thành viên hợp danh; Hội đồng thành viên; chủ sở hữu với công ty trách
nhiệm hữu hạn; Đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần trong việc giải thể
doanh nghiệp. Theo khoản 2 điều 157: doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo
đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Quyết định giải
thể của công ty phải có đầy đủ các nội dung chủ yếu theo qui định tại điều
158 khoản 1 Luật DN và được gửi đến cơ quan đăng kí kinh doanh. Còn thủ
tục phá sản là một thủ tục tư pháp. Luật phá sản năm 2004 qui định những
người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản tại các
điều 13, điều 14, điều 15, điều 16, điều 17, điều 18 bao gồm những người sau:
Chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần; công đoàn hoặc
người đại diện cho người lao động; chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước; cổ
đông các công ty cổ phần; thành viên hợp danh ; chủ sở hữu hoặc đại diện hợp
pháp của doanh nghiệp. Người yêu cầu mở thủ tục phá sản phải làm đơn nộp
cho tòa án có thẩm quyền. Đồng thời người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản phải nộp một khoản tiền tạm ứng phí phá sản theo quyết định của tòa trừ
trường hợp người nộp đơn là đại diện của người lao động. Mặt khác, thủ tục

phá sản được mở ra trong hoàn cảnh các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản tức là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn khác hẳn với điều kiện đảm
bảo của giải thể doanh nghiệp.
Thứ hai, về quy trình thực hiện có sự khác nhau rõ rệt.
• Thủ tục giải thể doanh nghiệp gồm 2 qui định chính về: thông qua
quyết định giải thể doanh nghiệp; thanh lí tài sản và thanh toán các khoản nợ
của công ty. Trong khi đó với thủ tục phá sản, được thực hiện theo trình tự
sau: 1/ Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; 2/ Phục hồi hoạt động kinh
doanh hoặc thanh lí tài sản và các khoản nợ; 3/ Tuyên bố doanh nghiệp bị phá
sản. Một doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại với tư cách là một doanh nghiệp từ
khi bị xóa tên trong Sổ đăng kí kinh doanh nhưng một doanh nghiệp bị coi là
phá sản khi tòa án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản( trong đó quyết định giải
quyết khiếu nại, kháng nghị của tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối
cùng và có hiệu lực pháp luật pháp luật kể từ ngày ra quyết định- doanh
nghiệp chấm dứt sự tồn tại)
• Sau khi quyết định giải thể doanh nghiệp đã đầy đủ nội dung thì doanh
nghiệp gửi quyết định giải thể cho cơ quan đăng kí kinh doanh, các chủ nợ
kèm theo thông báo về phương án giải quyết nợ, người lao động, người có
quyền và nghĩa vụ liên quan. Với đặc thù là một thủ tục tư pháp, thủ tục phá
sản doanh nghiệp có những qui định chặt chẽ và phức tạp hơn thủ tục giải thể
doanh nghiệp.
Cụ thể, sau khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì tòa án sẽ thụ lí đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản kể từ ngày người nộp đơn xuất trình biên lai nộp
tiền tạm ứng phí phá sản và phải cấp cho người nộp đơn giấy báo đã thụ lí
đơn. Trường hợp người nộp đơn không phải là chủ doanh nghiệp hoặc người
đại diện hợp pháp của doanh nghiệp thì trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày
thụ lí đơn, Tòa án phải thông báo cho doanh nghiệp biết. Đồng thời tòa án có
thể trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo các trường hợp Luật phá sản
qui định. Sau khi thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tòa án phải xem xét
2

và ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản trong thời hạn 30 ngày kể
từ ngày thụ lí đơn. Theo đó, kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá
sản, doanh nghiệp bị cấm hoặc hạn chế các hoạt động nhất định. Đối với các
chủ nợ thì phải gửi giấy đòi nợ cho Tòa án.
Trong bước đầu tiên của thủ tục phá sản, điểm khác biệt rõ nét với thủ
tục giải thể là việc: thành lập Tổ quản lý, thanh lí tài sản và Hội nghị chủ nợ.
Khoản 2 điều 158 qui định: chủ doanh nghiệp tư nhân, hội đồng thành viên
hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lí tài sản,
trừ trường hợp Điều lệ công ty qui định thành lập tổ chức thanh lí riêng;
nhưng thủ tục phá sản thì thẩm phán ra quyết định thành lập tổ quản lí, thanh
lí tài sản. Tổ quản lí, thanh lí tài sản thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn qui định
tại điều 10 Luật phá sản.
Hội nghị chủ nợ (từ Điều 61 đến Điều 67 Luật Phá sản) : Theo qui định
của Luật phá sản đây không phải là thủ tục bắt buộc. Khi tiến hành thủ tục phá
sản, Thẩm phán có thể không cần triệu tập hội nghị chủ nợ nếu thuộc các
trường hợp qui định tại Điều 78 Luật phá sản. Hội nghị chủ nợ có thể được
tiến hành nhiều lần, tổ chức một cách linh hoạt trong thủ tục phục hồi hoặc
thanh lí tài sản với các chương trình nội dung do thẩm phán phụ trách tiến
hành thủ tục phá sản quyết định. Các hội nghị này được tổ chức khi cần thiết
tùy thuộc vào từng vụ phá sản và đều nhằm mục đích tối đa hóa việc thu hồi
nợ cho các doanh nghiệp.
• Bên cạnh đó, một doanh nghiệp giải thể thì sẽ không có thủ tục
phục hồi doanh nghiệp nhưng thủ tục phá sản thì có. Phục hồi hoạt động kinh
doanh là một nội dung quan trọng trong thủ tục phá sản. Thủ tục phục hồi
hoạt động kinh doanh có thể đem lại cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản những điều kiện và cơ hội để tái tổ chức lại hoạt động kinh doanh, vượt ra
khỏi nguy cơ phá sản. Nếu doanh nghiệp mặc dù đã áp dụng các biện pháp
phục hồi doanh nghiệp nhưng không phục hồi được và không thanh toán được
các khoản nợ đến hạn thì tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lí tài sản của
doanh nghiệp( điều 78 Luật Phá sản). Việc qui định thanh lí tài sản và các

khoản nợ giữa hai thủ tục có sự khác nhau. Với giải thể doanh nghiệp thì chắc
chắn doanh nghiệp có tài sản để phân chia và thanh toán khoản nợ; nhưng phá
sản thì có thể xảy ra trường hợp doanh nghiệp hết tài sản thì thẩm phán sẽ ra
quyết định đình chỉ thủ tục thanh lí tài sản.
Điểm nổi bật khác trong thủ tục phá sản là: khi tòa án ra quyết định trả
lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì người làn đơn có quyền khiếu nại với
chánh án tòa án đã trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hay là khi doanh
nghiệp bị tuyên bố phá sản các chủ nợ, những người mắc nợ doanh nghiệp có
quyền khiếu nại, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết
định tuyên bố phá sản. Như vậy, có mối quan hệ tác động giữa doanh nghiệp
lâm vào phá sản và Tòa án. Mặt khác, thời gian giải quyết một vụ phá sản
thường kéo dài và tốn kém hơn so với giải thể doanh nghiệp.
Tóm lại, nếu thủ tục giải thể thực hiện với sự chủ động nhiều hơn của
doanh nghiệp thì thủ tục phá sản, doanh nghiệp phải chịu sự điều chỉnh giám
3
sát của Tòa án. Đồng thời nhận thấy pháp luật về phá sản của nước ta những
năm gần đây đã có những biến chuyển phù hợp hơn với thực tế trong việc giải
thoát cho doanh nghiệp và đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ, người lao động
và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật thương mại, tập I và tập II, Trường đại học Luật
Hà Nội,
NXB Công an nhân dân, Hà Nội - 2006.
2. Giáo trình Pháp luật kinh tế, TS.Nguyễn Hợp Toàn (chủ biên),
NXB Kinh tế quốc dân, Hà Nội - 2008.
3. Luật Doanh nghiệp( sửa đổi bổ sung năm 2009), NXB Lao Động.
4. Luật Phá sản năm 2004, NXB Lao Động.
4

×