ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
ĐỀ TÀI
CUNG CẤP DỊCH VỤ
TRÊN ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Phi Khứ
Học viên thực hiện: Trần Văn Cường
MSHV : CH1301083
Lớp cao học khóa 8
TP.HCM 6/2014
LỜI CẢM ƠN
Trong thời lượng 8 buổi học, tuy thời gian ngắn nhưng qua sự truyền đạt tận tình
cùng với kinh nghiệm giảng dạy lâu năm của thầy PGS TS Nguyễn Phi Khứ đã truyền
đạt cho Em cũng như các bạn trong lớp những kiến thức quý báu.
Em xin chân thành cám ơn Thầy về những kiến thức và những kinh nghiệm quý
báu mà Thầy đã truyền đạt cho lớp trong phạm vi môn học Điện toán đám mây thuộc
chương trình đào tạo cao học ngành Khoa học máy tính tại trường Đại học Công Nghệ
Thông Tin – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Với khả năng và thời gian có hạn, bài tiểu luận chắc chắn còn những thiếu sót trong
phần trình bày và nội dung, kính mong Thầy góp ý để tác giả hoàn thiện hơn.
Chúc Thầy sức khỏe, hạnh phúc và thành công!
Em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2
I. TỔNG QUAN VỀ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 2
II. MÔ HÌNH KIẾN TRÚC 6
III. CÁC MÔ HÌNH TRIỂN KHAI 10
CHƯƠNG 2. HIỆN THỰC CỦA CLOUD COMPUTING 13
I. HIỆN THỰC CLOUD COMPUTING 13
II. MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ CÁCH TÍNH CHI PHÍ TRONG CLOUD 16
III. MARKET ORIENTED CLOUD COMPUTING 16
IV. MÔ PHỎNG CLOUD 18
CHƯƠNG 3. CUNG CẤP DỊCH VỤ TRÊN NỀN ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 23
I. CUNG CẤP DỊCH VỤ TRÊN NỀN ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 23
II. ĐÁNH GIÁ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH 25
CHƯƠNG 4. TRIỂN KHAI CUNG CẤP DỊCH VỤ HẠ TẦNG TRÊN NỀN ĐIỆN TOÁN
ĐÁM MÂY 28
I. KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH NHU CẦU 28
II. THIẾT KẾ MÔ HÌNH HỆ THỐNG 28
III. TRIỂN KHAI MÔ HÌNH HỆ THỐNG 32
IV. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 50
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN 54
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
MỞ ĐẦU
Ngày nay, đối với các công ty, doanh nghiệp, việc quản lý tốt, hiệu quả dữ liệu của
riêng công ty cũng như dữ liệu khách hàng, đối tác là một trong những bài toán được ưu
tiên hàng đầu và đang không ngừng gây khó khăn cho họ. Để có thể quản lý được nguồn
dữ liệu đó, ban đầu các doanh nghiệp phải đầu tư, tính toán rất nhiều loại chi phí như chi
phí cho phần cứng, phần mềm, mạng, chi phí cho quản trị viên, chi phí bảo trì, sửa chữa,
… Ngoài ra họ còn phải tính toán khả năng mở rộng, nâng cấp thiết bị; phải kiểm soát
việc bảo mật dữ liệu cũng như tính sẵn sàng cao của dữ liệu.
Từ một bài toán điển hình như vậy, chúng ta thấy được rằng nếu có một nơi tin cậy
giúp các doanh nghiệp quản lý tốt nguồn dữ liệu đó, các doanh nghiệp sẽ không còn quan
tâm đến cơ sở hạ tầng, công nghệ mà chỉ tập trung chính vào công việc kinh doanh của họ
thì sẽ mang lại cho họ hiệu quả và lợi nhuận ngày càng cao hơn.
Thuật ngữ “cloud computing” ra đời bắt nguồn từ một trong những hoàn cảnh như
vậy.
Trên thế giới ngày càng có nhiều công ty đang chuyển dịch theo hướng các giải pháp
công nghệ thông tin bao gồm điện toán đám mây. Trước hết, điện toán đám mây có thể cắt
giảm các chi phí liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ công nghệ thông tin. Có thể giảm
cả vốn và chi phí vận hành bằng cách nhận được tài nguyên chỉ khi sử dụng chúng và chỉ trả
tiền cho những gì sử dụng.
Ngoài ra điện toán đám mây, làm giảm một số các khoản chi tiêu bắt buộc kết hợp
với việc quản lý nguồn tài nguyên khác nhau trên toàn doanh nghiệp. Cuối cùng, các mô
hình điện toán đám mây cung cấp sự linh hoạt trong kinh doanh. Nhờ khả năng điều chỉnh
hoặc mở rộng các doanh nghiệp có thể đáp ứng dễ dàng hơn khi nhu cầu về hạ tầng thay
đổi.
Hiểu theo cách khác, điện toán đám mây là sự thực hiện kết hợp nhiều công nghệ
hiện có (SOA-Service Oriented Architecture, ảo hóa) với những ý tưởng mới để tạo ra một
giải pháp công nghệ thông tin đầy đủ.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 1
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I. TỔNG QUAN VỀ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
1. Định nghĩa
Theo Wikipedia:
“Điện toán đám mây (cloud computing) là một mô hình điện toán có khả năng co
giãn (scalable) linh động và các tài nguyên thường được ảo hóa được cung cấp như
một dịch vụ trên mạng Internet”.
Theo Gartner (ht t
p: /
/w w
w.build i
n g the c loud.co.u k
/
) :
“Một mô hình điện toán nơi mà khả năng mở rộng và linh hoạt về công nghệ thông
tin được cung cấp như một dịch vụ cho nhiều khách hàng đang sử dụng các công
nghệ trên Internet”.
Theo Ian Foster:
“Một mô hình điện toán phân tán có tính co giãn lớn mà hướng theo co giãn về mặt
kinh tế, là nơi chứa các sức mạnh tính toán, kho lưu trữ, các nền tảng (platform) và
các dịch vụ được trực quan, ảo hóa và co giãn linh động, sẽ được phân phối theo
nhu cầu cho các khách hàng bên ngoài thông qua Internet”.
Hình 1: Mọi thứ đều tập trung vào đám mây
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 2
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Điện toán đám mây (Thuật ngữ tiếng Anh: Cloud Computing, hay còn biết đến với
tên gọi “Điện toán máy chủ ảo”) là mô hình máy tính dựa trên nền tảng phát triển của
Internet.
Điện toán đám mây là sự nâng cấp từ mô hình máy chủ mainframe sang mô hình
client-server. Khách hàng sẽ không còn lo ngại về các kiến thức chuyên môn để điều khiển
công nghệ, máy móc và cơ sở hạ tầng, mà tại đây các chuyên gia trong “đám mây” của các
nhà cung cấp sẽ giúp thực hiện điều đó.
Thuật ngữ "đám mây" ở đây là lối nói ẩn dụ chỉ mạng Internet và liên tưởng về độ
phức tạp của các cơ sở hạ tầng ở bên trong. Ở mô hình điện toán, mọi lĩnh vực liên quan đến
công nghệ thông tin đều được cung cấp dưới dạng các "dịch vụ", nó cho phép khác hàng
truy cập vào các dịch vụ của một nhà cung cấp nào đó "trong đám mây" mà không cần phải
có các kiến thức, kinh nghiệm về công nghệ, cũng như không cần quan tâm đến các cơ sở hạ
tầng bên trong.
Tài nguyên, dữ liệu, phần mềm và các thông tin liên quan đều được quản lý trên các
máy chủ (chính là các “đám mây”).
“Ứng dụng điện toán đám mây” là những ứng dụng trực tuyến trên Internet. Trình
duyệt là nơi ứng dụng hiện hữu và vận hành còn dữ liệu được lưu trữ và xử lý ở máy chủ
của nhà cung cấp ứng dụng đó.
Điện toán đám mây tính toán, sử dụng phần mềm, truy cập dữ liệu và dịch vụ lưu trữ
mà khách hàng không cần biết vị trí địa lý và cấu hình của hệ thống cung cấp dịch vụ.
Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ (NIST) đã đưa ra nghĩa định nghĩa cụ thể:
“Điện toán đám mây là một mô hình cho phép ở một vị trí thuận tiện, khách hàng có
thể truy cập mạng theo yêu cầu và được chia sẻ tài nguyên máy tính (mạng, máy chủ, lưu
trữ, ứng dụng và dịch vụ) được nhanh chóng từ nhà cung cấp. Trong trường hợp xấu nhất
thì cũng phải cung cấp dịch vụ hoạt động ở mức tương tác”.
2. Quá trình phát triển
Khái niệm về điện toán đám mây xuất hiện từ những năm 1960 trở lại đây, khi John
McCarthy phát biểu rằng “một ngày nào đó tính toán được tổ chức như một tiện ích công
cộng”. Các đặc điểm của điện toán đám mây tạo ra như khả năng co giản, cung cấp như một
tiện ích trực tuyến, với khả năng xem như vô hạn.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 3
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Thuật ngữ “đám mây” lấy trong kỹ thuật điện thoại tại các công ty viễn thông. Các
học giả đầu tiên sử dụng thuật ngữ ‘điện toán đám mây” là thuật ngữ trong một bài giảng
năm 1997 bởi Ramnath Chellappa.
Amazon đã góp vai trò quan trọng trong sự phát triển của điện toán đám mây bằng
cách hiện đại hóa trung tâm dữ liệu. Hầu hết các mạng máy tính được tạo ra khi sử dụng ít
nhất là 10% năng lực của nó tại một thời điểm. Với kiến trúc điện toán đám mây giúp tối ưu
năng lực làm việc của máy chủ. Amazon bắt đầu phát triển sản phẩm để cung cấp điện toán
đám mây cho khách hàng và tung ra dịch vụ Web Amazon (AWS) như một tiện ích máy
tính trong năm 2006.
Trong năm 2007, Google, IBM và một số trường đại học bắt tay vào nghiên cứu dự
án điện toán đám mây với quy mô lớn. Vào đầu năm 2008, Eucalyptus đã trở thành mã
nguồn mở đầu tiên cho AWS API, nên tảng tương thích cho việc triển khai các đám mây
riêng tư. Đầu năm 2008, OpenNebula tài trợ dự án kho lưu trữ và trở thành phần mềm mã
nguồn mở đầu tiên triển khai đám mây riêng, đám mây lai và liên đoàn các đám mây. Trong
năm đó, những nỗ lực đã được tập trung vào việc cung cấp chất lượng dịch vụ (QoS) để
đảm bảo đám mây hoạt động, thuộc dự án của ủy ban IRMOS tài trợ. Đến giữa năm 2008,
Gartner nhận thấy tiềm năng của điện toán đám mây có thể được đưa ra làm dịch vụ cung
cấp cho khách hàng.
3. Đặc điểm của cloud computing
- Nhanh chóng cải thiện với người dùng có khả năng cung cấp sẵn các tài nguyên cơ
sở hạ tầng công nghệ một cách nhanh chóng và ít tốn kém.
- Chi phí được giảm đáng kể và chi phí vốn đầu tư được chuyển sang hoạt động chi
tiêu. Điều này làm giảm rào cản cho việc tiếp nhận, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng
được cung cấp bởi đối tác thứ 3 và không cần phải mua để dùng cho các tác vụ tính
toán thực hiện 1 lần hay chuyên sâu mà không thường xuyên. Việc định giá dựa trên
cơ sở tính toán theo nhu cầu thì tốt đối với những tùy chọn dựa trên việc sử dụng và
các kỹ năng IT được đòi hỏi tối thiểu (hay không được đòi hỏi) cho việc thực thi.
- Sự độc lập giữa thiết bị và vị trí làm cho người dùng có thể truy cập hệ thống bằng
cách sử dụng trình duyệt web mà không quan tâm đến vị trí của họ hay thiết bị nào
mà họ đang dùng, ví dụ như PC, mobile. Vì cơ sở hạ tầng off-site (được cung cấp bởi
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 4
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
đối tác thứ 3) và được truy cập thông qua Internet, do đó người dùng có thể kết nối từ
bất kỳ nơi nào.
- Việc cho thuê nhiều để có thể chia sẻ tài nguyên và chi phí giữa một phạm vi lớn
người dùng, cho phép:
o Tập trung hóa cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực với chi phí thấp hơn (chẳng
hạn như bất động sản, điện, v.v.)
o Khả năng chịu tải nâng cao (người dùng không cần kỹ sư cho các mức tải cao
nhất có thể).
o Cải thiện việc sử dụng và hiệu quả cho các hệ thống mà thường chỉ 10-20%
được sử dụng.
- Độ tin cậy cải thiện thông qua việc sử dụng các site có nhiều dư thừa, làm nó thích
hợp cho tính liên tục trong kinh doanh và khôi phục thất bại. Tuy nhiên, phần lớn các
dịch vụ của cloud computing có những lúc thiếu hụt và người giám đốc kinh doanh,
IT phải làm cho nó ít đi.
- Tính co giãn linh động (“theo nhu cầu”) cung cấp tài nguyên trên một cơ sở mịn, tự
bản thân dịch vụ và gần thời gian thực, không cần người dùng phải có kỹ sư cho chịu
tải. Hiệu suất hoạt động được quan sát và các kiến trúc nhất quán, kết nối lỏng lẽo
được cấu trúc dùng web service như giao tiếp hệ thống.
- Việc bảo mật cải thiện nhờ vào tập trung hóa dữ liệu, các tài nguyên chú trọng bảo
mật, v.v… nhưng cũng nâng cao mối quan tâm về việc mất quyền điều khiển dữ liệu
nhạy cảm. Bảo mật thường thì tốt hay tốt hơn các hệ thống truyền thống, một phần
bởi các nhà cung cấp có thể dành nhiều nguồn lực cho việc giải quyết các vấn đề bảo
mật mà nhiều khách hàng không có đủ chi phí để thực hiện. Các nhà cung cấp sẽ ghi
nhớ (log) các truy cập, nhưng việc truy cập vào chính bản thân các audit log có thể
khó khăn hay không thể.
- Khả năng chịu đựng xảy ra thông qua việc tận dụng tài nguyên đã được cải thiện, các
hệ thống hiệu quả hơn. Tuy nhiên, các máy tính và cơ sở hạ tầng kết hợp là những
thứ tiêu thụ năng lượng chủ yếu.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 5
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
II.MÔ HÌNH KIẾN TRÚC
1. Thành phần
Hai thành phần quan trọng của kiến trúc điện toán đám mây được biết đến là front
end và back end.
Front end là phần phía khách hàng dùng máy tính. Nó bao gồm hệ thống mạng của
khách hàng (hoặc máy tính) và các ứng dụng được sử dụng để truy cập vào đám mây thông
qua giao diện người dùng có thể là một trình duyệt web.
Back end chính là đám mây, bao gồm các máy tính khác nhau, máy chủ và các thiết
bị lưu trữ dữ liệu.
2. Mô hình kiến trúc
Mạng Internet như hiện nay thì các tổ chức đã được lập ra để quản lí và cùng thống
nhất với nhau về các giao thức, các mô hình. Các thiết bị hoạt động trong Internet được thiết
kế sao cho phù hợp. Trong điện toán đám mây cũng hình thành nên mô hình cho chính nó.
Bao gồm các thành phần sau:
Hình 1.1 Mô hình kiến trúc.
3. Ứng dụng
Ứng dụng các dịch vụ đám mây hay “Software as a service -SaaS” cung cấp phần
mềm như một dịch vụ trên Internet, không cần cài đặt hay chạy chương trình trên máy tính
phía khách hàng. Những ứng dụng cung cấp cho khách hàng được cài đặt, cấu hình trên
máy chủ từ xa. Đồng thời công việc bảo trì đơn giản và được hướng dẫn từ nhà cung cấp.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 6
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Hình 1.2 SaaS cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Thuật ngữ “SaaS” và “cloud” có thể thay thế được cho nhau, nhưng thực tế đó là hai
khái niệm khác nhau. Chúng bao gồm các đặc điểm sau:
Dựa vào mạng khách hàng truy cập, quản lý và thương mại
Các hoạt động được xử lý tại trung tâm và cho phép khách hàng truy cập từ xa
thông qua trình duyệt web.
SaaS có thể được chia thành hai loại chính:
Cung cấp cho doanh nghiệp: Đây là những giải pháp kinh doanh được cung
cấp cho các công ty và doanh nghiệp. Chúng được cung cấp thông qua doanh
nghiệp đăng ký dịch vụ. Các ứng dụng được cung cấp thông qua hình thức
trên bao gồm các quá trình kinh doanh như quản lý dây chuyền cung cấp,
quan hệ khách hàng và các công cụ hướng kinh doanh.
Cung cấp cho cá nhân: Các dịch vụ này được cung cấp cho công chúng trên
cơ sở thuê bao đăng ký. Tuy nhiên, họ được cung cấp miễn phí và hỗ trợ
thông qua quảng cáo. Ví dụ trong loại hình này gồm có dịch vụ web mail,
chơi game trực tuyến, và ngân hàng của người tiêu dùng, và nhiều kiểu khách
hàng khác.
Những ưu điểm khi sử dụng SaaS mang lại cho khách hàng là chi phí sẽ thấp hơn các
phần mềm cấp phép, các dịch vụ SaaS có tính năng tiết kiệm chi phí lớn nhất bởi khi sử
dụng SaaS khách hàng sẽ loại bỏ những công việc thực sự không cần thiết cho các doanh
nghiệp như cài đặt và duy trì phần cứng, trả công cho nhân viên, và duy trì các ứng dụng.
Đồng thời các nhà cung cấp SaaS thường có kiểm tra an ninh rất tỉ mỉ.
Bên cạnh nhưng ưu điểm thì sẽ có những nhược điểm gây trở ngại kỹ thuật để xây
dựng một SaaS hiệu quả với mô hình nhiều khách hàng. Điều này đã trở nên dễ dành hơn và
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 7
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
dễ dành hơn so với vấn đề ảo hóa, nhưng thiết kế một ứng dụng có hiệu quả cung cấp cho
hàng ngàn khách hàng qua Internet là công việc khó khăn.
4. Nên tảng
Đây là tầng cung cấp dịch vụ nền tảng để chạy các ứng dụng. Các ứng dụng này có
thể đang chạy trong đám mây hay chạy trong một trung tâm dữ liệu truyền thống. Để đạt
được khả năng mở rộng cần thiết trong một đám mây, các dịch vụ thường được ảo hóa. Việc
ảo hóa được các nhà sản xuất lớn giới thiệu như IBM® WebSphere® Application Server
virtual images, Amazon Web Services, Boomi, Cast Iron, và Google App Engine. Các dịch
vụ nền tảng cho phép khách hàng chạy các ứng dụng dựa trên cơ sở hạ tầng dịch vụ được
bên thứ ba cung cấp.
Nền tảng là nơi cung cấp tất cả các nguồn lực cần thiết để xây dựng các ứng dụng và
dịch vụ hoàn toàn từ Internet, mà không cần phải tải về hay cài đặt phần mềm.
Hình 1.3 PaaS cho phép khách hàng truy cập vào một nền tảng trên nên điện toán đám
mây.
Dịch vụ nền tảng bao gồm thiết kế ứng dụng, phát triển, thử nghiệm, triển khai, và
hosting. Các dịch vụ khác bao gồm khả năng tích hợp dịch vụ web, cơ sở dữ liệu tích hợp,
bảo mật, khả năng mở rộng, lưu trữ, quản lý và phiên bản.
Một lỗi phía nhà cung cấp nên tảng dẫn tới không còn khả năng tương tác với khách
hành, buộc phải chuyển qua nhà cung cấp khác. Trường hợp người dùng tạo một ứng dụng
với một nhà cung cấp điện toán đám mây và quyết định chuyển đến một nhà cung cấp khác,
có thể ứng dụng không hoạt động được hoặc sẽ phải trả một mức giá cao để ứng dụng có thể
hoạt động lại. Nếu nhà cung cấp không còn cung cấp dịch vụ thì ứng dụng và dữ liệu của
khách hàng sẽ bị mất.
Nền tảng hướng dịch vụ thường cung cấp một giao diện người dùng dựa trên HTML
hoặc JavaScript.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 8
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Nền tảng hướng dịch vụ hỗ trợ phát triển giao diện web như Simple Object Access
Protocol (SOAP) và REST(Representational State Tranfer), cho phép xây dựng nhiều dịch
vụ web.
Tùy chọn PaaS có ba loại khác nhau:
Add-on development facilities Điều này cho phép các ứng dụng SaaS được
lựa chọn. Thông thường, các nhà phát triển PaaS và khách hàng
được yêu cầu đăng ký cho các tiện ích ứng dụng SaaS.
Stand-alone environments Những môi trường không cung cấp giấy phép, kỹ
thuật.
Application delivery-only environments Những môi trường hỗ trợ dịch vụ lưu
trữ theo cấp độ, như khả năng mở rộng theo nhu cầu bảo mật. Nhưng không
bao gồm nhiệm vụ phát triển, gỡ lỗi, và kiểm tra.
Một số yếu tố khác ảnh hưởng đến tiếp nhận công nghệ:
Khả năng làm việc của nhóm phát triển bị cô lập bởi vị trí địa lý.
Khả năng hợp nhất các dịch vụ web từ nhiều nguồn
Khả năng thực hiện tiết kiệm chi phí sử dụng, tích hợp các dịch vụ cơ sở hạ
tầng bảo mật, khả năng mở rộng, và chuyển đổi dự phòng.
Có hai trở ngại chính mà các nhà phát triển phải đối mặt khi xem xét
PaaS. Thứ nhất các nhà cung cấp sử dụng dịch vụ độc quyền hoặc các ngôn
ngữ phát triển, một số nhà phát triển sợ bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp
duy nhất. Hai là các nhà cung cấp có thể cho phép các ứng dụng sẽ được làm
việc với một nhà cung cấp khác, tuy nhiên chi phí thường cao hơn.
5. Cơ sở hạ tầng
Tầng dưới cùng của đám mây là tầng cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng. Ở đây là một
tập hợp các tài nguyên vật lí như các máy chủ, các thiết bị mạng và các đĩa cứng lưu trữ
được đưa ra như dịch vụ với mục đích cung cấp cho khách hàng. Cũng như với các dịch vụ
nền tảng, ảo hóa là một phương pháp thường được sử dụng để tạo ra bản phân phối các
nguồn tài nguyên theo yêu cầu. Các nhà sản xuất lớn cung cấp cơ sở hạ tầng bao gồm IBM
Bluehouse, VMware, Amazon EC2, Microsoft Azure Platform, Sun ParaScale Cloud
Storage.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 9
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Hình 1.4 IaaS cho phép nhà cung cấp dịch vụ thuê những tài nguyên phần cứng
Các dịch vụ cơ sở hạ tầng tập trung vào vấn đề trang bị cho các trung tâm dữ liệu
bằng cách đảm bảo công suất điện toán khi cần thiết. Trên thực tế các kỹ thuật ảo hóa
thường được sử dụng trong tầng này, nên có thể thấy rõ sự tiết kiệm chi phí khi sử dụng tài
nguyên hệ thống.
III. CÁC MÔ HÌNH TRIỂN KHAI
Hình 1.5 Các mô hình điện toán đám mây.
1. Đám mây công cộng
Là các dịch vụ đám mây được một bên thứ ba (người bán) cung cấp. Chúng tồn tại
bên ngoài hệ thống công ty và được nhà cung cấp đám mây quản lý.
Các đám mây công cộng cung cấp cho khách hàng các dịch vụ công nghệ thông tin
tốt nhất. Có thể là phần mềm, cơ sở hạ tầng ứng dụng hoặc cơ sở hạ tầng vật lý. Các nhà
cung cấp đám mây chịu trách nhiệm cài đặt, quản lý, cung cấp và bảo trì. Khách hàng tính
phí cho các tài nguyên nào mà họ sử dụng.
Các dịch vụ thường được cung cấp với các quy ước về cấu hình, chúng được cung
cấp với những trường hợp sử dụng phổ biến nhất. Khách hàng chỉ có quyền truy cập vào tài
nguyên được cấp phát.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 10
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
2. Đám mây riêng
Là các dịch vụ đám mây được cung cấp trong doanh nghiệp. Những đám mây này
tồn tại bên trong mô hình mạng công ty và chúng được doanh nghiệp quản lý.
Các đám mây riêng đưa ra nhiều lợi ích giống như các đám mây chung, điểm khác
biệt chính là doanh nghiệp chịu trách nhiệm thiết lập và bảo trì đám mây. Việc thiết lập đám
mây riêng đôi khi không còn chi phí cho việc sử dụng và duy trì hoạt động liên tục của đám
mây và có thể vượt quá chi phí khi sử dụng một đám mây chung.
Hình 1.6 Các thành phần trong đám mây riêng.
Các đám mây riêng có nhiều lợi thế hơn so với đám mây chung. Việc kiểm soát chi
tiết các tài nguyên khác nhau trên đám mây giúp công ty có các lựa chọn cấu hình phù hợp.
Các đám mây riêng sẽ rất lý tưởng khi công việc đang được thực hiện không cần đến một
đám mây chung và sẽ không lo ngại tới vấn đề an ninh, quản lý.
3. Đám mây lai
Là sự kết hợp của các đám mây công cộng và riêng. Những đám mây này thường do
doanh nghiệp tạo ra và chịu trách nhiệm quản lý. Nó được phân chia giữa doanh nghiệp và
nhà cung cấp đám mây công cộng. Đám mây lai sử dụng các dịch vụ có trong cả trong đám
mây công cộng và riêng.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 11
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Các đám mây lai được các công ty sử dụng dịch vụ trên đó. Công ty có thể đưa ra
những lợi ích khi sử dụng đám mây chung và riêng. Một đám mây lai được xây dựng tốt để
có thể phục vụ khách hàng tốt nhất, an toàn.
Hạn chế chính với đám mây lai là khó khăn trong việc tạo ra và quản lý chúng. Giải
pháp đặt ra là tiếp nhận và cung cấp các dịch vụ từ các nguồn khác nhau như thể chúng có
nguồn gốc từ một nơi và có thể tương tác giữa các đám mây riêng và chung.
4. Đám mây cộng đồng
Các đám mây cộng đồng là các đám mây được chia sẻ bởi một số tổ chức và hỗ trợ
một cộng đồng cụ thể có mối quan tâm chung như: chung mục đích, yêu cầu an ninh, chính
sách. Nó có thể được quản lý bởi các tổ chức hoặc một bên thứ ba.
Một đám mây cộng đồng có thể được thiết lập bởi một số tổ chức có yêu cầu tương
tự và tìm cách chia sẻ cơ sở hạ tầng để thực hiện một số lợi ích của điện toán đám mây.
Tùy chọn này là tốn kém hơn nhưng có thể đáp ứng về sự riêng tư, an ninh hoặc tuân
thủ các chính sách tốt hơn.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 12
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
CHƯƠNG 2. HIỆN THỰC CỦA CLOUD COMPUTING
I. HIỆN THỰC CLOUD COMPUTING
Các thông tin được tham khảo trên Wikipedia h t
t p
://en . wikip e dia.org/ w
iki
Cloud computing cung cấp hạ tầng, nền tảng và phần mềm như là dich vụ, mà có thể
được cung ứng như là một dich vụ cho thuê trong cách dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu đối với
người dùng.
Cloud computing được hiện thực theo 3 kiểu:
1. Infrastructure-as-a-Service (IaaS – Dịch vụ hạ tầng): Cung cấp cho người
dùng hạ tầng thô (thường là dưới hình thức các máy ảo) như là một dịch vụ.
Những kiến trúc ảo xếp chồng là một ví dụ của xu hướng mọi thứ là dịch vụ và có
cùng những điểm chung. Hơn hẳn một máy chủ cho thuê, không gian luu trử tập trung hay
thiết bị mạng, máy trạm thay vì đầu tư mua những nguyên thì có thể thuê đầy đủ dịch vụ
bên ngoài. Những dịch vụ này thông thường được tính chi phí trên cơ sở tính toán chức
năng và lượng tài nguyên sử dụng (và từ đó ra chi phí) sẽ phản ảnh được mức độ của hoạt
động. Đầy lầ một sự phát triển của những giải pháp lưu trữ web và máy chủ cá nhân ảo.
Tên ban đầu được sử dụng là dịch vụ phần cứng (HaaS) và được tạo ra bởi một nhà
kinh tế học Nichlas Car vào thang 3 năm 2006, nhưng điều này cần thiết. Nhưng từ này đã
dần bị thay thế bởi khái niệm dịch vụ hạ tầng vào khoảng cuối năm 2006.
Những đặc trưng tiêu biểu:
• Cung cấp tài nguyên như là dịch vụ: bao gồm cả máy chủ, thiết bị mạng, bộ
nhớ, CPU, không gian đĩa cứng, trang thiết bị trung tâm dữ liệu
• Khả năng mở rộng linh hoạt.
• Chi phí thay đổi tùy theo thực tế.
• Nhiều người thuê có thể cùng dùng chung trên một tài nguyên.
• Cấp độ doanh nghiệp: đem lại lợi ích cho công ty bởi một nguồn tài nguyên
tích toán tổng hợp
2. Platform-as-a-Service (PaaS – Dịch vụ nền tảng): Cung cấp API cho phát
triển ứng dụng trên mộtt nền tảng trừu tượng
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 13
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Cung cấp nền tảng tinh toán và một tập các giải pháp nhiều lớp. Nó hỗ trợ việc triển
khai ứng dụng mà không quan tâm đến chi phí hay sự phức tạp của việc trang bị và quản lý
các lớp phần cứng và phần mềm bên dưới, cung cấp tất cả các tính năng cần thiết để hỗ trợ
chu trình sống đầy đủ của việc xây dựng và cung cấp một ứng dụng và dịch vụ web sẵn
sàng trên Internet mà không cần bất kì thao tác tải hay cài đặt phần mềm cho những người
phát triển, quản lý tin học, hay người dùng cuối. Nó còn được biết đến với một tên khác là
cloudware.
Cung cấp dịch vụ nền tảng (PaaS) bao gồm những điều kiện cho qui trình thiết kế
ứng dụng, phát triển, kiểm thử, triển khai và lưu trữ ứng dụng có giá trị như là dịch vụ ứng
dụng như cộng tác nhón, săp xếp và tích hợp dịch vụ web, tích hợp cơ sở dữ liệu, bảo mật,
khả năng mở rộng, quản lý trạng thái, phiên bản ứng dụng, các lợi ích cho cộng đồng phát
triển và nghiên cứu ứng dụng. Những dịch vụ này được chuẩn bị như là một giải pháp tính
hợp trên nền web.
Những đặc trưng tiêu biểu:
• Phục vụ cho việc phát triển, kiêm thử, triển khai và vận hành ứng dụng giống
như là môi trường phát triển tích hợp
• Các công cụ khởi tạo với giao diện trên nền web. Kiến trúc đồng nhất
• Tích hợp dịch vụ web và cơ sở dữ liệu
• Hỗ trợ cộng tác nhóm phát triển
• Công cụ hỗ trợ tiện tích
Các yếu tố:
• Thuận lợi:
o Dịch vụ nền tảng (PaaS) đang ở thời kì đầu và được ưa chuộng ở những
tính năng vốn được ưa thích bơi dịch vụ phần mềm (đề cập sau), bên cạnh
đó có tích hợp các yếu tố về nền tảng hệ thống.
o Ưu điểm trong những dự án tập hợp những công việc nhóm có sự phân
tán về địa lý.
o Khả năng tích hợp nhiều nguồn của dich vụ web
o Giảm chi phí ngoài lề khi tích hợp các dịch vụ về bảo mật, khả năng mở
rộng, kiểm soát lỗi…
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 14
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
o Giảm chi phí khi trừu tượng hóa công việc lập trình ở mức cao để tạo dục
vụ, giao diện người dùng và các yếu tố ứng dụng khác.
o Mong đợi ở người dùng có kiến thức có thể tiếp tục hoàn thiện và hỗ trợ
tương tác với nhiều người để giúp xác định mức đô khó khăn của vấn đề
chúng ta gặp phải.
o Hướng việc sử dụng công nghệ để đạt được mục đích tạo điều kiện dễ
dàng hơn cho việc phát triển ứng dụng đa người dùng cho những người
không chỉ trong nhóm lập trình mà có thể kết hợp nhiều nhóm cùng làm
việc
• Khó khăn:
o Ràng buộc bởi nhà cung cấp: do giới hạn phụ thuộc và dịch vụ của nhà
cung cấp
o Giới hạn phát triển: độ phức tạp khiến nó không phù hợp với yêu cầu phá
triển nhanh vì những tính năng phức tạp khi hiện thực trên nền tảng web.
3. Software-as-a-Service (SaaS – Dịch vụ phần mềm): Cung cấp dịch vụ phần
mềm thực thi từ xa.
Dịch vụ phần mềm (SaaS) là một mô hình triển khai ứng dụng mà ở đó người cung
cấp cho phép người dụng sử dụng dịch vụ theo yêu cầu. Những nhà cung cấp SaaS có thể
lưu trữ ứng dụng trên máy chủ của họ hoặc tải ứng dụng xuống thiết bị khách hàng, vô hiệu
hóa nó sau khi kết thúc thời hạn. Các chức năng theo yêu cầu có thể được kiểm soát bên
trong để chia sẻ bản quyền của một nhà cung cấp ứng dụng thứ ba.
Những đặc trưng tiêu biểu
• Phần mềm sẵn có đòi hỏi việc truy xuất, quản lý qua mạng.
• Quản lý các hoạt dộng từ một vị trí tập trung hơn là tại mỗi nơi của khách
hàng, cho phép khác hàng truy xuất từ xa thông qua web.
• Cung cấp ứng dụng thông thường gần gũi với mô hình ánh xạ từ một đến
nhiều hơn là mô hình 1:1 bao gồm cả các đặc trưng kiến trúc, giá cả và quản
lý.
• Những tính năng tập trung nâng cấp, giải phóng người dùng khỏi việc tải các
bản vá lỗi và cập nhật.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 15
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
• Thường xuyên tích hợp những phần mềm giao tiếp trên mạng diện rộng
II. MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ CÁCH TÍNH CHI PHÍ TRONG CLOUD
Định giá cố định: nhà cung cấp sẽ xác định rõ đặc tả về khả năng tính toán cố
định(dung lượng bộ nhớ được cấp phát, loại CPU và tốc độ .v.v…).
Định giá theo đơn vị: được áp dụng phổ biến cho lượng dữ liệu truyền tải, dụng
lượng bộ nhớ được cấp phát và sử dụng,… cách này uyển chuyên hơn cách trên.
Định giá theo thuê bao: ứng dụng phần lớn trong mô hình dịch vụ phần mềm (SaaS)
người dùng sẽ tiên đoán trước định mức sử dụng ứng dụng cloud (cách tình này
thường khó đạt được độ chính xác cao)
III. MARKET ORIENTED CLOUD COMPUTING
Với những tiến bộ của xã hội con người hiện đại, những dịch vụ thiết yêu được cung
cấp rộng rãi để mọi người đều có thể tiếp cận như điện, nước, gá và điện thoại đã đong vai
trò quan trọng trong cuộc sống hằng ngày. Những dịch vụ tiện ích này có thể được sử dụng
thương xuyên cần được sẵn sàng ở mọi nơi mà người dùng mong muốn vào mọi lúc. Khác
hang sau đó có thể trả cho nhà cung cấp dịch vụ dựa trên lượng sử dụng các dịch vụ tiện ích
đó. Tương tự như các ví dụ trên, giữa nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng cần có những
thỏa thuận cụ thể được nêu trong SLA (Service Level Agreement) trong đó xác định vể yêu
cầu chất lượng dịch vụ QoS (Quality of Service)
Kiến trúc Market Oriented Cloud:
Khách hàng phụ thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ Cloud cung cấp tất cả năng lực tính
toán họ cần, họ yêu cầu về chất lượng dich vụ QoS phải được duy trì bởi nhà công cấp để
phù hợp với mục tiêu và đảm bảo hoạt động của họ. Nhà cung cấp Cloid se cẫn xem xét để
đáp ứng các yêu cầu về dịch vụ của mỗi khách hàng để thương lượng với SLA cụ thể. Để
đạt được điều này, nhà cung cấp dịch vụ Cloud không thể tiếp tục triển khai trên mô hình
quản lý tài nguyên tập trung mà ở đó không cung cấp cho họ khả năng chia sẻ tài nguyên
mà vẫn đáp ứng được tất cả các yêu cầu về dịch vụ. Thay vào đó, mô hình quản lý market-
oriented được đề cập để đạt được sự cân đối giữu nhà cung cấp và khách hàng.
Kiến trúc bao gồm 4 thành phàn chủ yếu:
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 16
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
User/Broker (Người dùng/ Nhà môi giới): người dùng hay nhà phân phối sử dụng
quền ủy thác để gửi yêu cầu dịch vụ từ bất kì đâu trên thế giới tới Data center (trung tâm dữ
liệu) hay Cloud để được xử lý
SLA Resource Allocator (Bộ phân phối tài nguyên SLA): đóng vai trò như một
trung gian giữa các nhà cung cấp Data center và Cloud với người dùng/ nhà môi giới bên
ngoài.
Kiến trúc Market-riented Cloud
- Service Request Examiner and Admission Control: khi một yêu cầu dịch vụ được
gửi lên lần đầu sẽ được phien dich thành các yêu cầu về chất lượng dịch vụ QoS
trước khi xác định xem nó sẽ được chấp nhận hay từ chối. Do vậy, điều đó đảm
bảo răng không có tình trạng quá tải dịch vụ khi mà các yêu cầu dịch vụ không
the được đáp ứng đầy đủ vì giới hạn tài nguyên hệ thống sẵn sàng. Nó cung cần
thông thin về trạng thái cuối cùng về tình trạng sẵn sàng của tài nguyên (từ cơ chế
VM Monitor) và khả năng xử lý tải (từ cơ chế Service Request Monitor) theo thứ
tự để quyết định việc phân phối tài nguyên một cách hiệu quả. Sau đó nó sẽ phân
yên cầu cho các máy ảo VM và xác định đặc tả tài nguyên cho máy ảo được phân.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 17
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
- Pricing: cung cấp cơ chế quyết định cách các yêu cầu service được tính tiền.
Ví dụ như yêu cầu có thê được tính tiền dựa theo thời gian các nhiệm vụ, tỷ lệ giá
cả (cố định/thay đổi) hay tính sẵn sàng của tài nguyên (sẵn có/yêu cầu). Cơ chế
định giá phục như nề tảng cho cung vâp và yêu cầu tài nguyên tính toán trong
Data center và các trang thiết bị trong việc cấp phát tài nguyên hiệu quả.
- Accounting: cung cấp cơ chế để thao tác trên lưu lượng dùng tài nguyên được yêu
cầu do đó chi phí cuối cùng có thể được tính toán và tính phí cho người dùng.
Thêm vào đó, lịch sử sử dụng có thể được dùng để tối ưu bởi Service Request
Examiner and Admission Control
- VM Monitor: cung cấp cơ chế lưu vết những máy ảo sẵn sàng và các thông tin về
tài nguyên của chúng.
- Dispatcher: cung cấp cơ chế bắt đầu thực thi việc cấp phát máy ảo VM của những
yêu cầu dịch vụ đã được chấp nhận.
- Service Request Monitor: cung cấp cơ chết lưu vết tiến trình của yêu cầu dịch vụ
VMs (các máy ảo): nhiều máy ảo có thê được mở và tắt dộng trên một máy vật lý để
phù hợp với yêu cầu dịch vụ, do đó việc chuẩn bị tối đa để có thể chia nhỏ tài nguyên để có
thể đáp ứng các yêu cầu cụ thể của yêu cầu dịch vụ. Thêm vào đó, nhiều máy ảo VM có thể
chạy động thời ứng dụng trên những môi trường hệ điều hanh khác nhau trên một máy vật
lý duy nhât do các máy ảo VM tách biệt hoàn toàn vói các máy khác trên cung máy vật lý
Physical Machines (các máy vật lý): Những trung tâm dữ liệu bao gồm nhiều máy
chủ có thể cung cấp tài nguyên phù hợp với yêu cầu.
IV. MÔ PHỎNG CLOUD
Kiến trúc CloudSim
Một cách tổng thể bao gồm 4 lớp:
SimJava: mức thấp nhất trong kiến trúc bao gồm những công cụ mô phỏng sự kiên
dùng để hiện thục những chức năng cốt lõi cần thiết cho việc mô phỏng ở lớp cao hơn như
sắp xếp và xử lý sự kiện, khởi tạo các thành phần, các thành phần giao tiếp và quản lý mô
phỏng đồng hồ .
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 18
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
GridSim: bộ công cụ hỗ trợ các thành phần phần mềm cấp cao hơn để mô hình hóa
nhiều nền tăng lưới, bao gồm cả hệ thống mạng và liên kết đồng bộ những thành phần cơ
bản của lưới như tài nguyên, tạp dữ liệu, lưu vết tải và dịch vụ thông tin.
CloudSim: là phần hiện thực ở mức thiếp theo bởi việc mở rộng tự đọng các tính
năng cơ bản được cung cấp bởi lớp GridSim. CloudSim cung cấp hỗ trợ lý thuyết cho việc
mô hình và mô phỏng hóa những môi trường tập trung dữ liệu dựa trên nền tảng Cloud. Lớp
CloudSim quản lý việc khởi tạo và thực thi các thực thể cốt lõi (máy ảo, máy chủ, trung
tâm dữ liệu, ứng dụng) trong suốt quá trình mô phỏng. Lớp này có khả năng khởi tạo đồng
thời và quản lý mở rộng trong suốt với những nề tảng Cloud bao gồm ngàng nghìn thành
phần hệ thống. Những vấn đề cơ bản như chuẩn bị triển khai máy ảo VM dựa trên yêu cầu
người dùng, quản lý quá trinh thực thi ứng dung và theo dõi dộng đều được quản lý bởi lớp
này. Người cung cấp Cloud có thể hiện thực những chiến lược của họ để tự đọng mở rộng
lõi của chức năng chuẩn bị triển khai máy ảo VM.
User-code: đây là lớp trên cùng của hệ thống mô phỏng cho phép cấu hình những
chức năng liên quan cho các máy chủ (số lượng, đặc tả cho chúng và những việc khá), ứng
dung (số lượng các tác vụ và yêu cầu của chúng), các máy ảo VM, số lượng người dùng và
các loại ứng dụng và chính sách định thời môi giới. Một người phát triển ứng dụng Cloud
có thể tạo ra nhiều sự phân tán yêu cầu người dung, cấu hình ứng dung, và những ngữ cảnh
ở lớp này.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 19
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Kiến trúc lớp của CloudSim
Mô hình Cloud
Kiến trúc dịch vụ nền tảng liên quan đến Cloud được mô hình hóa trong chương trình
mô phỏng bởi thành phần Datacenter cho việc quản lý yêu cầu dich vụ. Datacenter được tạo
bởi các tập hợp các Host, có trách nhiêm để quản lý các máy ảo VM trong chu kì sống của
chúng. Các Host là những thành phần biểu thị cho các nút trong Cloud: nó được cài đặt sẵn
khả năng xử lý (biểu diễn qua đơn vị MIPS = milion of instruction per second), bộ nhớ, khả
năng lưu trữ và chính sách định thời để xử lý việc cấp phân phát lõi tính toán cho các máy
ảo. Các thành phần máy Host thực giao diên hỗ trợ mô hình hóa và mô phỏng cho cả những
nút 1 nhân và đa nhân.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 20
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Việc phân phối máy ảo phục vụ cho ứng dụng cụ thể nào đó đến các thành phần Host
là trách nhiệm của thanh phần Virtual Machine Provisioner. Thành phần này cung cấp một
tập các phương thức cho người nghiên cứu, với những hỗ trợ trong việc hiện thực chính
sách mới dựa trên những mục tiêu về tối ưu. Những chính sách mặc định hiện có sẵn rất
giản đơn theo hướng ai đến trước sẽ được phục vụ trước.
Với mỗi thành phần Host, sư cấp phát các lõi tính toàn tới các máy ảo được thực hiện
dựa trên việc câp phát của hót. Những chính sách tìm xem trong tài khoản có bao nhiêu lõi
tính toán được giao cho mỗi máy ảo và bao nhiêu khả năng còn sẵn. Do vây, có thể cấp phát
lõi CPU cho máy ảo cụ thể hay là phân tán động giữa các máy ảo (chia sẻ theo thoi gian) và
gán lõi cho máy ảo theo yêu cầu hoặc là theo một chính sách cụ thể nào đó.
Mỗi thành phần Host khởi tạo một bộ định thời máy ảo hiện thực việc cấp phát theo
không gian hay thời gian. Những người nghiên cứu hay phát triển Cloud có thê mở rộng bộ
định thời máy ảo VM để thử nghiệm với một vài chính sách cáp phát. Kết đến chi tiết liên
quan đến chinh sách chia sẻ theo thời gian và không gian sẽ được để cập.
Mô hình cấp phát máy ảo VM
Một trong những ý tưởng khiến Cloud computing khác biệt với Grid computing là
việc triển khai tối đa công nghệ ảo hóa và các công cụ.
Mô hình ứng dụng cổ điển ánh xạ cá chính xác các nốt tính toán và các ứng dụng
riêng rẽ không còn phù hợp trong sự trừu tượng hóa tính toán trong môi trường Cloud. Ví
dụ như hai Datacenter chay tren mot Host co 1 nhân. Mặc dù có vẻ như có sự tách biệt
nhưng tổng lượng tài nguyên sẵn có bị rang buộc bơi năng lực của host. Những yếu tố quan
trọng này cần được xem xét trong tiến trình xem xet quyết định cấp phát tài nguyên.
Để cho phép giả lập những chính sách khác nhau, Cloud Sim hỗ trợ việc đinh thời
máy ảo VM ở hai mức: trước tiên taim mức Host và sau đó là mức máy ảo VM. Ở mức đầu
tiên, có thể xác định rõ tổng năng lực xử lý của mỗi nhân trong hót sẽ được gán cho mỗi
máy ảo. Tại mức tiếp theo, các máy ảo VM sẽ được phân rõ tổng năng lực xử lsy cu thể cho
mỗi tác vụ được thực thi. Tại mỗi mức, CloudSim hiện thực chính sách cấp phát tài nguyên
theo thời gian và không gian.
Mô hình chợ Cloud
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 21
Cung Cấp Dịch Vụ Trên Điện Toán Đám Mây
Hỗ trợ dịch vụ đóng vai trò như là người môi giới giữa nhà cung cấp dịch vụ Cloud
và khác hàng thông qua những dich vụ so trùng là điểm nhấn của Cloud computing. Hơn
thế, những dịch vụ này cần cơ chế để xác định chi phí dịch vụ và các chính sách về giá. Mô
hinh chính sách chi phí và giá cả la một ý tưởng caand được xem xét khi thiết kết chương
trình mô phỏng Cloud, bốn thuộc tính được xem xét đến cho một Datacenter:
- Chi phí mỗi bộ xử lý
- Chi phí mỗi đơn vị bộ nhớ
- Chi phí mỗi đơn vị lưu trữ
- Chi phí mỗi đơn vị băng thông sử dụng
Chi phí mỗi đơn vị bộ nhớ và lưu trữ được kèm theo trong quá trinh khởi tạo máy ảo
Chi phí mỗi đơn vị băng thông sử dụng có trong quá trình truyền dữ liệu. Bên cạnh đó, các
chi phí sử dụng bộ nhớ, lưu trữ, băng thông và các chi phí liên quan có mỗi liên hệ với việc
sử dụng tài nguyên tính toán. Do vậy, nếu máy ảo VM được tạo mà không có tác vụ nào
thực thi trên chúng, thì chỉ có chi phí về bộ nhớ và lưu trữ. Những vấn đề này có thể được
thay đổi bởi người dùng.
HV: Trần Văn Cường – MSHV: CH1301083 Trang 22