Tải bản đầy đủ (.pdf) (55 trang)

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty TNHH sản xuất thương mại KOREA Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.05 MB, 55 trang )

1

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN
HẠN TẠI DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về tài sản ngắn hạn
1.1.1. Khái niệm tài sản ngắn hạn
Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền
kinh tế với nhiệm vụ chính là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra
các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Để tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tố là: đối tượng lao động, tư liệu lao
động và sức lao động. Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có các
tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn thường được luân chuyển trong quá trình sản xuất
kinh doanh, bao gồm tài sản bằng tiền, các chứng khoán có tính thanh khoản cao, các
khoản phải thu và dự trữ tồn kho. Tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở
hữu và quản lí của doanh nghiệp mà có thời gian sử dụng luân chuyển, thu hồi vốn
trong một chu kì kinh doanh (trong một năm). Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có
thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật, đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.
“Tài sản ngắn hạn hay còn gọi là tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng
cân đối kế toán gồm tất cả các loại tài sản có thẻ dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt
trong vòng một năm hay trong một chu kì sản xuất kinh doanh” (Nguồn: giáo trình
quản lí tài chính doanh nghiệp hiện đại).
1.1.2. Đặc điểm tài sản ngắn hạn
Những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì giá trị tài sản ngắn hạn thường
chiếm tỉ trọng lớn. Do vậy việc quản lí và sử dụng hợp lí tài sản ngắn hạn là vô cùng
quan trọng trong việc hoàn thành các nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Trong quá
trình hoạt động sản xuất doanh nghiệp cần phân bổ cụ thể rõ ràng số lượng, giá trị mỗi
tài sản ngắn hạn như thế nào cho hợp lí vừa để tiết kiệm cũng như đạt hiệu quả sử
dụng cao.
Trong quá trình hoạt động sản xuất thì tài sản ngắn hạn được phân bổ đều ở tất
các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra một cách liên tục
tránh lãng phí và không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng


sinh lời của tài sản.
2

Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên nó dễ dàng đáp ứng được khả
năng thanh toán của doanh nghiệp. Không chỉ vậy nó còn là một bộ phận của vốn sản
xuất nên luân chuyển không ngừng trong một giai đoạn của quá trình sản xuất kinh
doanh.
Tài sản ngắn hạn liên tục thay đổi hình thái biểu hiện trong suốt quá trình kinh
doanh đối với doanh nghiệp sản xuất. Tài sản ngắn hạn hình thành hình thái ban đầu là
tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng
hóa. Khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Tài sản ngắn
hạn không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kì kinh doanh: dự trữ - sản xuất
– lưu thông một cách liên tục và lặp đi lặp lại có tính chất chu kì tạo thành sự chu
chuyển của tài sản ngắn hạn
Kết thúc một chu kì sản xuất kinh doanh, giá trị tài sản ngắn hạn được chuyển
dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù dắp lại khi doanh nghiệp thu
được tiền bán hàng háo, dịch vụ.
Tài sản ngắn hạn theo một vòng tuần hoàn từ hình thái này sang hình thái khác
rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Toàn bộ gía trị tài
sản ngắn hạn được thu hồi sau khi kết thúc một chu kì kinh doanh.
1.1.3. Phân loại tài sản ngắn hạn
1.1.3.1. Phân loại tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện:
Tiền, các khoản tương đương tiền và khoản phải thu ngắn hạn: tiền bao gồm
tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, tiền trong thẻ tín dụng và trong
tài khoản ATM, tiền còn dưới dạng séc các loại. Tiền là một loại tài sản có tính thanh
khoản cao. Loại tài sản này dễ chuyển đổi thành các tài sản khác. Bởi vậy, nó cho phép
doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán.
Các khoản phải thu: đó là một phần của tài sản ngắn hạn có tầm quan trọng đối
với doanh nghiệp. Hoạt động mua bán chịu giữa các bên phát sinh các khoản tín dụng
thương mại. Các khoản phải thu chủ yếu gồm các khoản phải thu khách hàng, ngoài ra

còn có khoản ứng trước cho nhà cung cấp.
Đầu tư tài chính ngắn hạn: là các khoản đầu tư tài chính có thời hạn thu hồi vốn
không quá một năm tài chính hoặc một chu kì kinh doanh.
Thang Long University Library
3

Hàng tồn kho: là những tài sản hữu hình thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
được sử dụng vào sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ, hàng hóa để gửi
bán hoặc gửi đi bán trong kỳ kinh doanh. Ở doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho bao
gồm: nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, công cụ lao động, vật liệu bao bì đóng
gói,
Phân loại tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện cho phép doanh nghiệp xem
xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
1.1.3.2. Phân loại tài sản ngắn hạn với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: bao gồm nguyên vật liệu chính, nguyên vật
liệu phụ, nhiên liệu, công cụ dụng cụ nhỏ, vật liệu đóng gói để đảm bảo sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục.
Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước được dùng trong quá trình sản
xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất của các bộ phận sản xuất trong dây chuyền công
nghệ được liên tục, hợp lý.
Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông bao gồm: Thành phẩm là giá trị những sản
phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho; Vốn bằng
tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư ngắn hạn, ký cược,
ký quỹ ngắn hạn ; Vốn trong thanh toán là các khoản thu, tạm ứng phát sinh trong
quá trình mua bán vật tư hàng hóa hoặc thanh toán nội bộ.
Phân loại tài sản ngắn hạn với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giúp
doanh nghiệp thấy được kết cấu của tài sản ngắn hạn trong từng khâu sản xuất kinh
doanh. Nó còn giúp doanh nghiệp đánh giá được tình hình phân bổ tài sản ngắn hạn
trong từng khâu sản xuất.

1.1.4. Vai trò của tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Có tài
sản ngắn hạn các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm các
trang thiết bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai. Vậy yêu cầu đặt ra đối
với các doanh nghiệp là họ cần phải có sự quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản ngắn
hạn có hiệu quả nhằm bảo toàn và phát triển tài sản ngắn hạn, đảm bảo cho các doanh
nghiệp ngày càng phát triển và vững mạnh.
Tài sản ngắn hạn là công cụ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tư.
Tài sản ngắn hạn nhiều hay ít là phản ánh số lượng vật tư, hàng hóa dự trữ, sử dụng ở
các khâu dự trữ, sản xuất, lưu thông nhiều hay ít. Tài sản ngắn hạn luân chuyển nhanh
4

hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không. Bởi vậy, thông
qua tình hình vận chuyển tài sản ngắn hạn có thể kiểm tra đánh giá một chách kịp thời
với các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc
điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào gái trị sản phẩm. Giá trị hàng hóa bán ra được
tính toán tren cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận.
Do vậy, tài sản ngắn hạn đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra
Tài sản ngắn hạn đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiến
hành thường xuyên, liên tục. Không chỉ vậy, tài sản ngắn hạn còn có khả năng quyết
định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả theo nghĩa chung nhất được hiểu là những lợi ích về mặt kinh tế và xã
hội do một hoạt động nào đó mang lại hay nói cách khác hiệu quả gồm hai mặt: hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế (hiệu quả kinh doanh) là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc xã hội để đạt được
kết quả kinh doanh cao nhất với chi phí thấp nhất, hay nói cách khác: hiệu quả kinh tế

đó là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với yếu tố đầu vào hoặc giữa kết quả với chi phí
gắn liền với hoạt động kinh doanh nào đó:




Cách đánh giá này được hầu hết các nhà kinh tế công nhận và được sử dụng rộng
rãi trong thực tế. Nó cho phép đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, đồng thời còn so sánh được hiệu quả của các năm hoặc giữa các doanh
nghiệp với nhau.
Hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra
để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí
bỏ ra thì hiệu quả kinh tế càng cao.
Vậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ,
năng lực khai thác và sử dụng tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm mục tiêu tối đa háo lợi nhuận và mục tiêu tăng trưởng với chi phí tối
thiểu trong một khoảng thời gian nhất định.
Thang Long University Library
5

1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động kinh tế nhằm mang lại lợi nhuận
thông qua sản xuất kinh doanh, thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều
yếu tố trong đó quan trọng nhất là ba yếu tố khả năng cung ứng tích luỹ, đổi mới sử
dụng tài sản ngắn hạn, trình độ quản lý và thị trường. Kinh doanh hiện đại ngày nay là
sự tập hợp cả ba thế lực: Nhà kinh doanh, bán hàng - khách hàng và các nhà khoa học
gồm cả nhà làm luật về kinh doanh.
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sản xuất kinh doanh là một trong những
nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận, đến quyền lợi, đến mục đích cao nhất
của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cũng có nghĩa là nâng

cao lợi nhuận, chẳng có một lý do nào để doanh nghiệp có thể từ chối việc làm đó.
Như vậy, ta có thể nhận thấy nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sản xuất kinh
doanh là một việc làm thiết yếu của bất kỳ một doanh nghiệp nào, người ta không thể
từ chối thu một khoản lợi nhuận hay doanh thu nhiều hơn trên một đồng tài sản ngắn
hạn bỏ ra mà ngược lại họ muốn thu ngày càng nhiều từ việc bỏ ra một cùng một
lượng tài sản ngắn hạn ban đầu của mình hay với cùng một lượng tiền thu về từ hoạt
động sản xuất kinh doanh như năm trước nhưng năm nay doanh nghiệp phải bỏ ra cho
nó một lượng chi phí ít hơn. Có thể tổng quát một số lý do cơ bản, cụ thể làm nên sự
cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất, do sự tác động của cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự điều tiết của
nhà nước. Kinh tế thị trường theo đuổi một mục đích lớn và cốt yếu là lợi nhuận và lợi
nhuận ngày càng cao. Tiền đề của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong các
doanh nghiệp là tài sản ngắn hạn, đồng tài sản ngắn hạn sản xuất kinh doanh phải có
khả năng sinh lời mới là vấn đề cốt lõi liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp bởi thiếu tài sản ngắn hạn thì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp sẽ bị “chết”, bị ngưng trệ bởi bây giờ không còn có sự cứu trợ của Ngân
sách Nhà nước.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sản xuất kinh doanh có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Giờ đây người định đoạt số phận của doanh nghiệp chính là thị trường mà
6

không phải là ai khác, song nhà nước cũng có vai trò nhất định của nó. Nếu sử dụng
đồng tài sản ngắn hạn hiệu quả thì việc đáp ứng nhu cầu thị trường là điều không khó
khăn đối với doanh nghiệp nữa.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cũng là một nội dung cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp, trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay thì điều này
càng được khẳng định chắc chắn hơn. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được
thì điều kiện tiên quyết không thể thiếu được là doanh nghiệp phải xem xét vấn đề chất

lượng sản phẩm, mẫu mã sản phẩm và phải quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh, vấn đề này quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một tất yếu trong
cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt. Nó góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, tăng nhanh
tốc độ hoạt động của doanh nghiệp nhằm đem lại cho doanh nghiệp lợi nhuận và lợi
nhuận ngày càng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội.
1.2.3. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa các khoản
phải thanh toán trong kỳ với tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, bao gồm các chỉ
tiêu:
Khả năng thanh toán ngắn hạn: là năng lực tài chính mà doanh nghiệp có được
để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho
doanh nghiệp vay hoặc nợ. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả
năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Công thức tính khả năng thanh toán
ngắn hạn như sau:




Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo
bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Hệ số này bằng 1 cho thấy khả năng thanh toán
ngắn hạn đang ở mức an toàn. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 cho thấy rằng doanh nghiệp
đang mất khả năng thanh toán ngắn hạn.
Khả năng thanh toán nhanh: là khả năng doanh nghiệp dùng tài sản ngắn hạn
có thể chuyển đổi thành tiền không tính đến hàng tồn kho để trả nợ khi đến hạn. Công
thức như sau:
Thang Long University Library
7



 


Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng
tài sản ngắn hạn không bao gồm kho. Cũng như chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện
hành, độ lớn hay nhỏ của chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh
cụ thể để kết luận là có tích cực hay không tích cực. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá nhỏ,
doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ ngắn hạn.
Khả năng thanh toán tức thời: là khả năng doanh nghiệp dùng tiền và các khoản
tương đương tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn. Công thức như sau:




Khả năng thanh toán tức thời cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng
bao nhiêu đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Khả năng thanh toán tức thời
bằng 1 cho thấy mức độ an toàn khi thanh toán các khoản nợ đến hạn được đảm bảo.
Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp đang mất khả năng thanh toán.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản ngắn hạn
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp ta có thể dựa
vào các chỉ tiêu đánh giá để có sự phân tích, đánh giá một cách khách quan tình hình
sử dụng vốn qua các năm hoạt động của Công ty, cùng với đó là so sánh các chỉ tiêu
này với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để đưa ra những nhận định chính xác và
hiệu quả nhất.
Hiệu suất sử dụng TSNH (vòng quay TSNH): cho biết mỗi đơn vị TSNH
trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này được tính bằng công
thức sau:





Hệ số này càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng TSNH của doanh nghiệp vào
hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả.
Thời gian luân chuyển TSNH: cho biết số ngày thực hiện một vòng quay
TSNH.
Thời gian luân chuyển TSNH =



8

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày từ khi bỏ vốn đến khi thu hồi được TSNH, chỉ tiêu
này là nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSNH. Vì vậy, chỉ tiêu này càng thấp
chứng tỏ thời gian thu hồi vốn càng nhanh. Nếu cao chứng tỏ TSNH bị ứ đọng.
Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn
- Mức tiết kiệm TSNH là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được trong
kỳ kinh doanh. Mức tiết kiệm vốn lưu động được thể hiện như sau:












Trong đó:
V
tktđ
: Mức tiết kiệm TSNH tuyệt đối


, 

: Doanh thu thuần kỳ trước, kỳ này


, 

: Hiệu suất sử dụng TSNH kỳ trước, kỳ này
Điều kiện để có TSNH tiết kiệm tuyệt đối là tổng mức luân chuyển tài sản kỳ kế
hoạch phải không nhỏ hơn tổng mức luân chuyển tài sản kỳ báo cáo và TSNH kỳ kế
hoạch phải nhỏ hơn TSNH kỳ báo cáo.
- Mức tiết kiệm TSNH tương đối được biểu hiện bằng công thức:














Trong đó: 

 Mức tiết kiệm TSNH tương đối


, 

: Doanh thu thuần kỳ trước, kỳ này


, 

: Hiệu suất sử dụng TSNH kỳ trước, kỳ này
Điều kiện để có TSNH tiết kiệm là tổng mức luân chuyển tài sản kỳ kế hoạch
phải lớn hơn kỳ báo cáo và TSNH kỳ kế hoạch phải lớn hơn TSNH kỳ báo cáo.
Mức tiết kiệm là số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn
nên doanh nghiệp tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm vốn lưu động
hoặc tăng qui mô không đáng kể.
Vòng quay hàng tồn kho: là tiêu chuẩn đánh giá xem doanh nghiệp sử dụng
hàng tồn kho như thế nào và ra sao




Thang Long University Library
9

Hệ số vòng quay HTK càng cao cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và
HTK không bị ứ đọng kho nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản

mục HTK trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm.
Thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình:




Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay HTK. Hệ số này
càng nhỏ, số vòng quay HTK càng lớn, việc kinh doanh của doanh nghiệp càng hiệu
quả. Thời gian luân chuyển HTK ngắn thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt vì
doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho HTK thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao. Nhưng
ngược lại, nếu hệ số này cao doanh nghiệp sẽ tốn nhiều chi phí để đầu tư vào HTK nó
sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến doanh thu của doanh nghiệp.
Hệ số thu nợ: phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt đồng
thời cũng phản ánh lượng tiền doanh thu mà khách hàng còn đang chiếm dụng của
doanh nghiệp.




Hệ số thu nợ càng lớn minh chứng rằng tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp
càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao. Điều này
giúp doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt. Ngược lại, nếu hệ số này thấp thì số tiền
doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt giảm làm cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giảm.
Thời gian thu nợ trung bình:




Chỉ tiêu này phán ánh số ngày bình quân để doanh nghiệp thu hồi được các

khoản nợ phải thu. Thời gian thu nợ trung bình càng nhỏ thì doanh nghiệp không bị ứ
đọng tiền trong khâu thanh toán, không gặp phải các khoản nợ khó đòi.
Vòng quay các khoản phải trả: chỉ số này phản ánh khả năng chiếm dụng vốn
của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp.
10


  

 


Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm sau nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh
nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn. Việc chiếm dụng khoản vốn này sẽ
giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ
thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng. Ngược
lại, nếu chỉ số năm sau lớn hơn năm trước tức là doanh nghiệp thanh toán cho nhà
cung cấp nhanh hơn năm trước.
Thời gian trả nợ trung bình: cho biết bình quân doanh nghiệp có bao nhiêu ngày
để trả nợ.




Thời gian trả nợ càng dài chứng tỏ khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp
với nhà cung cấp tốt. Nhưng doanh nghiệp cũng cần chú ý, thời gian trả nợ kéo dài có
thể gây ảnh hưởng không tốt cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp với đối tác. Thời
gian trả nợ ngắn chứng tỏ doanh nghiệp chưa chiếm dụng được vốn của nhà cung cấp.

Thời gian luân chuyển tiền:

Thời gian luân = Thời gian + Thời gian luân – Thời gian
chuyển tiền thu nợ chuyển kho trả nợ
Dựa vào chỉ tiêu này doanh nghiệp có thể thay đổi các chính sách liên quan đến
tín dụng mua hàng và tín dụng bán hàng. Nếu chỉ tiêu này cho khả năng thanh toán
tiền mặt tốt, chính sách tín dụng đã áp dụng có thể tiếp tục được duy trì.
1.2.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn một cách chung nhất người ta
thường sử dụng chỉ tiêu tổng quát sau:










Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị TSNH trong kì đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế. Hệ số này càng lớn cho thấy việc sử dụng TSNH càng có hiệu quả và
ngược lại nếu hệ số này càng nhỏ thì việc sử dụng TSNH không có hiệu quả.
Thang Long University Library
11

Hệ số sinh lời của TSNH bị tác động bởi 2 yếu tố: công tác quản lý chi phí và
hiệu suất sử dụng TSNH. Nếu tỉ số lợi nhuận sau thuế trên DTT cao cho thấy chiến
lược quản lí các khoản chi phí của công ty có hiệu quả. Điều này làm cho hệ số sinh
lời trên TSNH cao. Ngược lại, nếu tỉ số lợi nhuận sau thuế trên DTT thấp cho thấy
chiến lược quản lí các khoản chi phí của công ty không có hiệu quả làm cho hệ số sinh
lời trên TSNH thấp.

Theo mô hình phân tích Dupont, ta có thể thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến
khả năng sinh lời của TSNH: hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn và tỷ suất sinh lời trên
doanh thu.
Thứ nhất là, tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) ảnh hưởng đến khả năng sinh
lời TSNH theo công thức:


 

  


Ảnh hưởng của tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) đến khả năng sinh lời
TSNH cao hơn ảnh hưởng của hiệu suất sử dụng TSNH đến khả năng sinh lời của
TSNH cho thấy khả năng sinh lời của TSNH thay đổi sẽ chịu tác động chủ yếu của
ROS. Ta nhận thấy, ROS càng cao thì sức sinh lời của tài sản ngắn hạn càng tăng. Tuy
nhiên có thể thấy rằng sức sinh lời của doanh thu ảnh hưởng bởi hai yếu tố là doanh
thu và chi phí, nếu doanh thu cao và chi phí thấp thì tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng
và ngược lại. Tuy nhiên, trong thực tế khi doanh nghiệp tăng doanh thu thì kéo theo
mức chi phí cũng tăng lên như chi phí giá vốn, chi phí quản lý, chi phí bán hàng
Chính vì vậy, để có thể tăng được tỷ suất sinh lời trên doanh thu, doanh nghiệp cần
nghiên cứu những nhân tố cấu thành lên tổng chi phí để có các biện pháp điều chỉnh
phù hợp, đồng thời có các biện pháp đẩy nhanh tốc độ bán hàng, tăng doanh thu và
giảm các khoản giảm trừ doanh thu.
Thứ hai là, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến khả năng sinh lời
của TSNH theo công thức:


   



Ảnh hưởng của hiệu suất sử dụng TSNH đến khả năng sinh lời TSNH cao hơn
ảnh hưởng của ROS đến khả năng sinh lời TSNH cho thấy khả năng sinh lời của
TSNH thay đổi sẽ chịu tác động chủ yếu của hiệu suất sử dụng TSNH. Hay nói cách
khác hiệu suất sử dụng TSNH là nhân tố làm thay đổi sức sinh lời của tài sản ngắn
12

hạn, cụ thể hơn hiệu suất sinh lời của tài sản ngắn hạn bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố là
doanh thu thuần và tài sản ngắn hạn. Nếu doanh thu thuần lớn và tài sản ngắn hạn nhỏ
thì hiệu suất sử dụng TSNH lớn góp phần làm gia tăng khả năng sinh lời của TSNH.
Tuy nhiên, trong thực tế hai chỉ tiêu này thường có mối quan hệ cùng chiều, nên nếu
doanh nghiệp muốn tăng vòng quay của tài sản ngắn hạn thì cần phân tích các nhân tố
liên quan, phát hiện những mặt tích cực và tiêu cực của từng nhân tố để có biện pháp
nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cho thích hợp.
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp ngoài phân tích các chỉ
tiêu nói trên chúng ta cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
chúng. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp
nhưng về cơ bản có hai nhóm nhân tố chính là nhân tố chủ quan và nhân tố khách
quan.
1.3.1. Nhân tố chủ quan
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu tác động của nhiều yếu tố, do
vậy ngoài những chỉ tiêu mà chúng ta đã phân tích ở trên ta phải nghiên cứu các tác
động từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế những tác động không tốt và phát huy thêm
những tác động tích cực. Các nhân tố chủ quan xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp.
1.3.1.1. Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Với mục đích sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp sẽ quyết định việc
phân phối sử dụng TSNh, đặc biệt là chu kỳ kinh doanh. Sản phẩm của mỗi doanh
nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh
dài nhưng lại có những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn điều này

quyết định đến việc sử dụng TSNH của doanh nghiệp. Để đi vào sản xuất thì lượng
TSNH cần đưa vào là bao nhiêu, mức dự trữ cho các chu kỳ tiếp theo là như thế nào,
lượng tiền mặt doanh nghiệp dự trữ là bao nhiêu. Đối với những doanh nghiệp có chu
kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu nên các doanh nghiệp
luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản nhanh
hơn. Vòng quay TSNH tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa tăng do vậy doanh thu của
doanh nghiệp cũng tăng. Điều này thể hiện hiệu quả sử dụng TSNH tăng.
1.3.1.2. Trình độ nhân viên
Để sử dụng TSNH đạt hiệu quả cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những cán
bộ quản lý giỏi, công nhân viên có tay nghề cao. Ngoài trình độ quản lý giỏi và tay
nghề cao thì cả cán bộ quản lý và công nhân viên phải có trách nhiệm với công việc.
Thang Long University Library
13

Người quản lý phải nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ
hoạt động phải phân tích để đánh giá xem hiệu quả sử dụng TSNH ra sao để từ đó đưa
ra những kế hoạch cho chu kỳ tiếp theo. Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết
nguyên vật liệu thì người công nhân phải có chuyên môn giỏi đặc biệt việc sử dụng
máy móc thiết bị là hết sức quan trọng. Máy móc càng hiện đại bao nhiêu thì đòi hỏi
đội ngũ sử dụng chúng phải được đào tạo có chuyên môn và kỹ thuật.
1.3.1.3. Cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Ngoài hai nhân tố trên thì đây là một nhân tố hết sức quan trọng bởi ngoài việc
nguyên vật liệu tốt thì để có được những sản phẩm tốt thì điều quan trọng là doanh
nghiệp phải có những máy móc thiết bị tốt. Doanh nghiệp có được thiết bị tốt sẽ làm
cho các khâu sản xuất trở nên dễ dàng hơn. Cũng chất lượng nguyên vật liệu tốt nhưng
doanh nghiệp nào được trang thiết bị tốt máy móc đưa vào dây chuyển sản xuất, thiết
bị công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng đồng thời làm cho các công
đoạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn. Ngược lại, nếu mát móc không
tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những
sản phẩm kém chất lượng như vậy hiệu quả sử dụng TSNH không cao.

1.3.2. Nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan tác động tới doanh nghiệp có những lúc thúc đẩy doanh
nghiệp phát triển nhưng có lúc nó lại kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp. Sự tác
động này nằm ngoài kiểm soát của doanh nghiệp do vậy khi gặp phải những tác động
này doanh nghiệp luôn phải tự điều chỉnh sao cho phù hợp.
1.3.2.1. Sự quản lý của nhà nước
Trong nền kinh tế tồn tại rất nhiều các loại doanh nghiệp to nhỏ khác nhau. Mỗi
một loại hình doanh nghiệp đều có những đặc thù riêng của nó. Nhà nước có trách
nhiệm quản lý các doanh nghiệp đó để nó đi vào hoạt động theo một khuôn khổ mà
nhà nước quy định. Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều
phải tuân theo pháp luật mà nhà nước đưa ra. Đảng và Nhà nước ta ban hành các luật
lệ, chính sách nhằm mục đích tránh gian lận, đảm bảo an toàn và công bằng trong xã
hội. Sự thắt chặt hay nới lỏng các chính sách quản lý đều có ảnh hưởng tới doanh
nghiệp.
1.3.2.2. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Để tồn tại được thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau. Các doanh
nghiệp luôn luôn tìm cách làm sao có thể đưa ra thị trường những sản phẩm mới,
những chiến lược kinh doanh nhằm thu hút được khách hàng. Từ đó, các doanh nghiệp
sẽ càng ngày càng cạnh tranh nhằm thu hút được khách hàng.
14

1.3.2.3. Nhu cầu của khách hàng
Nhu cầu của khách hàng là nhân tố đặc biệt để các doanh nghiệp ra quyết định
sản xuất cái gì và làm cái gì để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Nhu cầu của
con người ngày càng cao đòi hỏi các doanh nghiệp ngày càng phải sang tạo cũng như
nắm bắt xu hướng nhanh chóng để có thể tối đa hóa lợi nhuận.


Thang Long University Library
15


CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN
TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT THƢƠNG MẠI KOREA
VIỆT NAM
2.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Sản xuất thƣơng mại Korea Việt Nam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Sản xuất thương mại
Korea Việt Nam
- Tên đầy đủ: Công ty TNHH Sản xuất thương mại Korea Việt Nam
- Trụ sở: Thôn Trát Cầu, Xã Tiên Phong, Huyện Thường Tín, Thành phố
Hà Nội
- Mã số thuế: 0106221224
- Điện thoại: 04. 3826259
- Vốn điều lệ của Công ty tại thời điểm đăng ký kinh doanh là 5.000.000.000
đồng
- Quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH Sản xuất thương mại Korea Việt Nam là một doanh nghiệp trách
nhiệm hữu hạn được thành lập từ ngày 16/11/2009 theo giấy chứng nhận kinh doanh
do sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp.
Công ty TNHH Sản xuất thương mại Korea Việt Nam tiền thân chỉ là cơ sở gia
công kim khí chuyên sản xuất ra các sản phẩm như cửa hoa, cửa sắt, cửa nhôm kính…
Xưởng gia công lúc mới thành lập còn nhỏ bé, lạc hậu, vốn đầu tư nghèo nàn và số
lượng lao động cũng thấp. Trong thời gian hoạt động xưởng gia công này đã được
khách hàng chấp nhận về trình độ kỹ thuật cũng như mỹ thuật. Do sự cạnh tranh lớn
nên cơ sở gia công kim khí đã được đổi tên thành Công ty TNHH Sản xuất thương mại
Korea Việt Nam kể từ ngày 16/11/2009 có đầy đủ tư cách pháp nhân tham gia sản xuất
cho các công trình xây dựng lớn.
Cùng với sự phát triển của đất nước, Công ty đã không ngừng phát triển nhu cầu
của thị trường, mặc dù gặp nhiều khó khăn xong Công ty đã chứng tỏ khả năng và
năng lực để cố gắng ổn định sản xuất, nghiên cứu thiết kế ra những mẫu mã mới để
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng không chỉ về số lượng và cả về chất lượng cho các

công trình xây dựng. Để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hiện nay, sản phẩm
của Công ty đã xâm nhập thị trường không chỉ ở riêng Huyện Thường Tín, mà còn ở
toàn thành phố Hà Nội, các tỉnh miền bắc như Bắc Ninh, Nam Định, Hải Dương…


16

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Sản xuất thương mại Korea Việt Nam
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty

(Nguồn: Phòng hành chính tổng hợp)
Giám đốc: Giám đốc là người đứng đầu công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật
về mọi hoạt động của Công ty; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu
tư của Công ty; ban hành các quy chế quản lý Công ty.
Phó giám đốc: là người trực tiếp chỉ huy toàn bộ dự án; được giám đốc công ty
ủy quyền điều hành dự án, ký duyệt hợp đồng, trực tiếp quan hệ với chủ đầu tư khi
giám đốc vắng mặt; trực tiếp giám sát, đôn đốc các phòng ban làm việc.
Phòng tài chính – kế toán: ghi nhận, phân loại, tổng hợp, phân tích thông tin trên
cơ sở chứng từ kế toán phát sinh; lập các báo biểu, báo cáo hàng tháng, năm tài chính
theo quy định Nhà nước.
Phòng hành chính tổng hợp: có nhiệm vụ và chức năng về tổ chức cán bộ, sắp
xếp lao động, thực hiện chế độ chính sách và quản lý hành chính về các lĩnh vực văn
thư, lưu trữ hồ sơ, nhà cửa và các trang thiết bị văn phòng khác.
Phòng kinh doanh: xây dựng các chính sách định hướng sản xuất kinh doanh của
Công ty; chỉ đạo, tổ chức theo dõi, quản lý và kiểm tra các hoạt động kinh doanh; chủ
động khi có yêu cầu để phối hợp với các phòng ban thực hiện kế hoạch Công ty;
nghiên cứu để tham mưu với Giám đốc trong việc định hướng, chỉ đạo mở rộng hoặc
thu hẹp phạm vi kinh doanh.
Phòng kỹ thuật: có nhiệm vụ quản lý chung về kỹ thuật cho máy móc thiết bị của
doanh nghiệp, đảm bảo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn chung của máy móc,

GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG
HÀNH CHÍNH
TỔNG HỢP
PHÒNG TÀI
CHÍNH-KẾ
TOÁN
PHÒNG KỸ
THUẬT
PHÒNG
KINH
DOANH
Thang Long University Library
17

máy đo, cột bơm; thực hiện lắp đặt cho khách hàng theo sự phân công và chỉ đạo của
cấp trên.
2.1.3. Khái quát ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH Sản xuất thương mại
Korea Việt Nam
Lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty là kinh doanh các sản phẩm cửa cho các
công trình, các hộ gia đình, các văn phòng… Trong đó bao gồm:
- Cửa cuốn: cửa cuốn công nghệ Đức, cửa cuốn công nghệ Úc, cửa cuốn siêu
tốc, cửa alumax…
- Cửa nhôm: cửa đi, cửa sổ, vách kính…
- Cửa thủy lực…
- Cửa, cổng tự động…
2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011 – 2013
2.1.4.1. Tình hình kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011 - 2013

Đơn vị tính: Nghìn đồng
Chỉ tiêu
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Chênh lệch
2011 - 2012
Chênh lệch
2012 – 2013
Tuyệt đối
%
Tuyệt đối
%
Doanh thu
16.117.398
23.370.496
24.783.191
7.253.098
45,00
1.412.695
6,04
Giá vốn
hàng bán
13.251.058
19.509.075
21.079.425
6.258.017
47,23
1.570.350
8,05

Lợi nhuận
sau thuế
498.963
762.279
1.281.777
263.316
52,77
519.498
68,15
(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty có sự tăng trưởng qua các
năm. Năm 2012, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng 45% tương ứng tăng
7.253.098 nghìn đồng so với năm 2011. Đây là kết quả của việc mở rộng thị trường và
mở rộng lĩnh vực kinh doanh, cung cấp được nhiều hơn các dịch vụ tư vấn như tư vấn,
lắp đặt và bảo trì các hệ cửa tự động cho các tòa nhà chung cư và cao tầng. Sang năm
2013 doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng 6,04% tương ứng tăng
1.412.695 nghìn đồng so với năm 2012. Công ty đã được nhiều khách hàng biết đến
hơn, có nhiều hợp đồng ký kết hơn khiến cho doanh thu Công ty gia tăng. Tuy nhiên,
doanh thu tăng lên với tốc độ khá chậm, Công ty cần có các chính sách kinh doanh để
mang lại doanh thu nhiều hơn cho doanh nghiệp.
18

Giá vốn hàng bán
Năm 2012, giá vốn hàng bán tăng 6.258.017 nghìn đồng tương ứng tăng 47,23%
so với năm 2011. Ta có thể thấy việc tăng doanh thu kéo theo sự tăng lên của giá vốn
hàng bán là nguyên nhân chủ yếu, đồng thời do Công ty mở rộng thị trường và mở
rộng lĩnh vực kinh doanh là cho nhu cầu về nguyên vật liệu tăng dẫn đến giá vốn hàng
bán tăng đáng kể. Năm 2013, giá vốn hàng bán tăng 1.570.350 nghìn đồng tương ứng
tăng 8,05% so với năm 2012. Ta thấy được tốc độ tăng của giá vốn hàng bán nhanh

hơn tốc độ tăng của doanh thu chứng tỏ công ty quản lý giá vốn hàng bán chưa tốt,
chưa dự đoán trước và cân đối mức giá vốn hàng bán và doanh thu. Bên cạnh đó, còn
do mức giá cả nguyên vật liệu đầu vào (nhựa, thép…) có sự tăng lên làm cho giá vốn
hàng bán của Công ty gia tăng đáng kể. Trong thời gian tới Công ty cần tích cực tạo ra
mối quan hệ làm ăn lâu dài với các nhà cung ứng như làm khách quen của nhà cung
ứng đang hợp tác để nhận được giảm giá, giới thiệu bạn hàng cho nhà cung ứng; bên
cạnh đó cần tìm kiếm những nhà cung ứng khác để có thể lựa chọn được nhà cung ứng
cung cấp các yếu tố đầu vào với giá thành thấp nhất.
Lợi nhuận sau thuế
Sau khi chờ các khoản chi phí phát sinh và thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà
nước, kết quả kinh doanh của Công ty trong năm 2011 – 2013 đều đạt giá trị dương và
tăng hơn so với năm trước, điều này chứng tỏ Công ty làm ăn có lãi. Năm 2012, lợi
nhuận sau thuế tăng 263.316 nghìn đồng tương ứng tăng 52,77% so với năm 2011;
sang năm 2013, lợi nhuận sau thuế tăng 519.498 nghìn đồng tương ứng tăng 68,15%
so với năm 2012. Lợi nhuận sau thuế tăng lên là do Công ty mở rộng kinh doanh ra
các vùng lân cận, việc doanh thu tăng cũng kéo theo sự tăng lên của lợi nhuận. Tuy
nhiên, lợi nhuận sau thuế chênh lệch rất lớn đối với doanh thu, Công ty cần có các biện
pháp quản lý chi phí hợp lý hơn (như có các chính sách kêu gọi nhân viên công ty tiết
kiệm chi phí trong sản xuất, tránh lãng phí, đưa ra dự toán mức chi phí cần sử dụng
trong một kỳ và thực hiện theo dự toán đã đưa ra) để mang lại lợi nhuận tốt hơn cho
doanh nghiệp.
2.1.4.2. Tình hình tài sản – nguồn vốn của Công ty

Thang Long University Library
19

Bảng 2.2. Tình hình tài sản của Công ty giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị tính: Nghìn đồng
Chỉ tiêu
Năm 2011

Năm 2012
Năm 2013
Chênh lệch
2011 – 2012
Chênh lệch
2012 - 2013
Giá trị
%
Giá trị
%
TỔNG TÀI SẢN
23.325.642
25.137.737
20.498.132
1.812.095
7,77
(4.639.606)
(18,46)
I. TÀI SẢN NGẮN HẠN
19.143.714
21.890.147
18.150.954
2.746.433
14,35
(3.739.193)
(17,08)
1. Tiền và các khoản tương
đương tiền
4.967.165
1.503.947

253.636
(3.463.218)
(69,72)
(1.250.312)
(83,14)
2. Các khoản phải thu ngắn
hạn
3.159.272
4.352.707
10.338.383
1.193.435
37,78
5.985.676
137,52
3. Hàng tồn kho
11.017.276
16.033.492
7.558.935
5.016.217
45,53
(8.474.557)
(52,86)
II TÀI SẢN DÀI HẠN
4.181.929
3.247.591
2.347.178
(934.338)
(22,34)
(900.413)
(27,73)

1 Tài sản cố định
4.099.685
3.151.272
2.347.178
(948.412)
(23,13)
(804.094)
(25,52)
2 Tài sản dài hạn khác
82.244
96.319
-
14.075
17,11
(96.319)
(100,00)
(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)
20

Ta thấy được tổng tài sản (tổng nguồn vốn) của Công ty có sự biến động không
lớn qua các năm. Năm 2011, tổng tài sản của ty là 23.325.642 nghìn đồng, sang năm
2012 tăng lên đến 25.137.737 nghìn đồng, quy mô tài sản của doanh nghiệp gia tăng,
doanh nghiệp đang mở rộng hoạt động kinh doanh cũng như mở rộng quy mô của
Công ty. Năm 2013, tổng tài sản Công ty giảm còn 20.498.132 nghìn đồng, quy mô
Công ty đang được thu hẹp lại sau một năm mở rộng kinh doanh, điều này cho thấy
Công ty đang muốn có bước đi chắc chắn trong việc mở rộng kinh doanh của doanh
nghiệp.
Cơ cấu tài sản
Biểu đồ 2.1. Biểu đồ thể hiện cơ cấu tài sản của Công ty giai đoạn 2011 - 2013



Ta nhận thấy tài sản dài hạn luôn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn tài sản ngắn hạn trong
giai đoạn 2011 – 2013, đều chiếm dưới 50% tổng tài sản của doanh nghiệp. Năm 2011,
tài sản dài hạn của doanh nghiệp là 17,93%, năm 2012 giảm còn 12,92%, sang năm
2013 giảm chỉ còn 11,45%. Điều này cho thấy, tỷ trọng tài sản ngắn hạn của Công ty
ngày càng cao. Công ty chú trọng đầu tư cho tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhiều
hơn tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn có thời gian luân chuyển nhanh hơn, đồng thời
việc mở rộng kinh doanh ra các vùng lân cận làm cho nhu cầu vốn lưu động của Công
ty cũng gia tăng đáng kể.
Ta thấy được quy mô tài sản của Công ty có sự thay đổi qua các năm. Năm 2011,
tổng tài sản của Công ty là 23.325.642 nghìn đồng, năm 2012 tổng tài sản của Công ty
tăng lên đến 25.137.737 nghìn đồng. Quy mô tài sản tăng lên, do Công ty mở rộng quy
mô kinh doanh, nhu cầu về tài sản tăng lên để đáp ứng cho quá trình sản xuất. Tuy
nhiên, sang đến năm 2013 quy mô tài sản của Công ty lại giảm sút chỉ còn 20.498.132
82.07%
87.08%
88.55%
17.93%
12.92%
11.45%
0%
20%
40%
60%
80%
100%
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tài sản ngắn hạn Tài sản dài hạn
Thang Long University Library
21


nghìn đồng. Điều này cho thấy, Công ty đang muốn quản lý tốt hơn tài sản của Công
ty mà vẫn mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn
Năm 2011, tỷ trọng TSNH chiếm 82,07%, con số này tăng lên đến 87,55% vào
năm 2012, tăng 2.746.433 nghìn đồng tương ứng tăng 14,35% so với năm 2011. Năm
2012, TSNH của doanh nghiệp tăng so với 2011 là do Công ty tăng quy mô hoạt động
kinh doanh, mở rộng ra các tỉnh lân cận, nhu cầu về tài sản ngắn hạn nhiều hơn. Đến
năm 2013, TSNH giảm 3.739.193 nghìn đồng tương ứng giảm 17,08% so với năm
2012, do Công ty không ký kết được nhiều hợp đồng lớn, nhu cầu về nguyên vật liệu
đầu vào giảm khiến cho TSNH giảm đáng kể.
Tiền và các khoản tương đương tiền: Năm 2011 tiền chiếm 21,29% tỷ trọng
trong Tổng tài sản, năm 2012 lượng tiền giảm 3.463.218 nghìn đồng tương ứng giảm
69,72% so với năm 2011. Nguyên nhân là do tiền được dùng để chi trả chi phí mua các
yếu tố đầu vào cho các nhà cung cấp để nâng cao uy tín về khả năng thanh toán. Năm
2013, lượng tiền tiếp tục giảm 1.250.312 nghìn đồng tương ứng giảm 83,14% so với
năm 2012. Điều này cho thấy lượng dự trữ tiền mặt của Công ty giảm, làm giảm khả
năng thanh toán nhanh cho các nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, tuy nhiên lượng
tiền giảm khiến cho công ty tiết kiệm được chi phí cất trữ tiền mặt.
Các khoản phải thu ngắn hạn: So với tổng tài sản, các phải phải thu ngắn hạn
chiếm tỷ trọng là 13,54% năm 2011, chiếm 17,32% năm 2012, chiếm 50,44% năm
2013. Năm 2012, các khoản phải thu tăng 1.193.435 nghìn đồng tương ứng tăng
37,78% so với năm 2011. Nguyên nhân là do năm 2012, Công ty mở rộng kinh doanh
việc cho khách hàng nợ gia tăng làm cho các khoản phải thu ngắn hạn tăng đáng kể.
Sang năm 2013, các khoản phải thu ngắn hạn tăng mạnh, tăng 5.985.676 nghìn đồng
tương ứng tăng 137,52% so với năm 2012. Các khoản phải thu tăng là do Công ty nới
lỏng chính sách tín dụng để thu hút khách hàng, đồng thời các khoản trả trước cho
người bán gia tăng góp phần làm cho đối tác tin tưởng vào khả năng chi trả của doanh
nghiệp nhằm gia tăng uy tín của Công ty đối với các nhà cung ứng nguyên vật liệu đầu
vào.

Hàng tồn kho: chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu tài sản của Công ty. Năm
2012, hàng tồn kho của Công ty tăng 5.016.217 nghìn đồng tương ứng tăng 45,53% so
với năm 2011. Nguyên nhân là do Công ty mở rộng kinh doanh, nhu cầu nguyên vật
liệu nhiều đồng thời thành phẩm sản xuất ra chờ xuất bán tăng nhanh dẫn đến lượng
22

hàng tồn kho tăng mạnh. Tuy nhiên sang năm 2013, lượng hàng tồn kho giảm
8.474.557 nghìn đồng tương ứng giảm 52,86% so với năm 2012. Lượng hàng tồn kho
giảm là do Công ty không ký kết được nhiều đơn hàng lớn, nhu cầu về nguyên vật liệu
đầu vào giảm.
Tài sản dài hạn
Tài sản cố định: có xu hướng giảm trong giai đoạn 2011 – 2013. So với năm
2011, năm 2012 tài sản cố định của Công ty giảm 948.412 nghìn đồng tương ứng giảm
23,13%. Có sự giảm sút như vậy là do năm 2012 Công ty thanh lý một thiết bị sản xuất
không thể sửa chữa đồng thời Công ty vẫn tiếp tục trích khấu hao các tài sản cố định
chưa trích hết khấu hao. Sang năm 2013, tài sản cố định của Công ty tiếp tục giảm
804.094 nghìn đồng tương ứng giảm 25,52% so với năm 2012. Năm 2013, Công ty
không đầu tư thêm thiết bị sản xuất nào, mà chỉ thực hiện trích khấu hao cho tài sản cố
định đã đầu tư trước đó. Điều này cho thấy Công ty không có sự đầu tư cho dài hạn.
Tài sản dài hạn khác: Năm 2012, tài sản dài hạn khác của Công ty tăng 14.075
nghìn đồng tương ứng tăng 17,11% so với năm 2011. Năm 2012, tài sản dài hạn khác
gia tăng đáng kể là do công ty gia tăng các khoản phải thu dài hạn. Sang năm 2013,
Công ty không có phát sinh các khoản phải thu dài hạn, điều này cho thấy Công ty đã
thu hồi được các khoản phải thu dài hạn trước đó và không phát sinh thêm khoản phải
thu nào trong năm 2013.
Như vậy, sau khi phân tích tình hình tài sản của Công ty ta thấy được tài sản
ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Có sự chênh lệch
như vậy là do tính chất ngành nghề của Công ty sản xuất, tài sản cố định ít chủ yếu là
tài sản ngắn hạn có độ luân chuyển nhanh.
Cơ cấu nguồn vốn


Thang Long University Library
23

Bảng 2.3. Tình hình nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị tính: Nghìn đồng
Chỉ tiêu
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Chênh lệch
2011 – 2012
Chênh lệch
2012 - 2013
Giá trị
%
Giá trị
%
TỔNG NGUỒN VỐN
23.325.642
25.137.737
20.498.132
1.812.095
7,77
(4.639.606)
(18,46)
I. Nợ ngắn hạn
17.736.679
19.076.495
13.654.075

1.339.816
7,55
(5.422.420)
(28,42)
1. vay ngắn hạn
6.700.000
9.500.000
9.336.996
2.800.000
41,79
(163.004)
(1,72)
2. Phải trả người bán
1.573.772
1.522.384
3.246.400
(51.388)
(3,27)
1.724.016
113,24
3. Người mua trả tiền trước
9.127.976
7.283.834
-
(1.844.142)
(20,20)
(7.283.834)
(100,00)
4. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
334.931

518.630
173.721
183.699
54,85
(344.909)
(66,50)
5. Phải trả người lao động
-
246.279
896.958
246.279
100
650.679
264,20
6. Các khoản phải trả ngắn hạn khác
-
5.367
-
5.367
100
(5.367)
(100,00)
II. Vay và nợ dài hạn
290.000
-
-
(290.000)
(100,00)
-
-

I. Vốn chủ sở hữu
5.298.963
6.061.242
6.844.056
762.279
14,39
782.814
12,92
1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu
4.800.000
4.800.000
4.800.000
-
0,00
-
0,00
2. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối
498.963
1.261.242
2.044.056
762.279
152,77
782.814
62,07
(Nguồn: Phòng Tài chính – kế toán)
24

Ta thấy được quy mô nguồn vốn của Công ty có sự thay đổi qua các năm. Quy
mô nguồn vốn vào năm 2011 là 23.325.642 nghìn đồng, sang năm 2012 tăng lên đến
25.137.737 nghìn đồng. Quy mô nguồn vốn tăng do công ty hoạt động kinh doanh

rộng ra cả các vùng lân cận. Tuy nhiên, năm 2013 quy mô vốn của Công ty giảm chỉ
còn 20.498.132 nghìn đồng.
Trong ba năm: năm 2011 tỷ trọng nợ phải trả chiếm tỷ trọng là 77,28% trong
tổng nguồn vốn, tuy nhiên năm 2012, năm 2013 thì tỷ trọng của nợ phải trả có xu
hướng giảm (năm 2012 là 75,89%, năm 2013 là 66,61%). Điều này cho thấy Công ty
kinh doanh có hiệu quả, trả được các khoản nợ cũng như có phần lợi nhuận để lại lớn.
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu nguồn vốn của Công ty

Nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn. Năm 2012, nợ ngắn hạn
tăng 1.339.816 nghìn đồng tương ứng tăng 7,55% so với năm 2011. Nợ ngắn hạn tăng
chủ yếu là do Công ty gia tăng các khoản vay ngắn hạn ngân hàng để đầu tư cho quá
trình mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Năm 2013, nợ ngắn hạn của
Công ty giảm 5.422.420 nghìn đồng tương ứng giảm 28,42% so với năm 2012.
Nguyên nhân chủ yếu là do Công ty không nhận được tiền trả trước từ phía khách
hàng như năm 2012, điều này cho thấy Công ty không chiếm dụng được nhiều vốn từ
phía khách hàng như năm trước nữa.
Nợ dài hạn: năm 2011, nợ dài hạn của Công ty là 290.000 nghìn đồng. Sang năm
2012, năm 2013 Công ty không có khoản vay nợ dài hạn nào. Việc mở rộng kinh
doanh các mặt hàng nhưng không hề có các khoản vay nợ dài hạn là do Công ty chỉ
chú trọng vào gia tăng nguyên vật liệu sản xuất mà quên đi đầu tư cho máy móc, thiết
bị để phục vụ sản xuất. Đặc biệt là năm 2013, Công ty không đầu tư thêm vào tài sản
cố định mà chỉ thực hiện trích khấu hao cho tài sản đã đầu tư trước đó. Công ty cần
chú trọng vào đầu tư các trang thiết bị để nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm hơn
nữa.
76.04%
75.89%
66.61%
1.24%
0%
0%

22.72%
24.11%
33.39%
0%
20%
40%
60%
80%
100%
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn Vốn chủ sở hữu
Thang Long University Library
25

Vốn chủ sở hữu của Công ty có xu hướng tăng lên qua các năm. Trong giai đoạn
2011 – 2013, Công ty không bổ sung thêm vốn đầu tư của chủ sở hữu để mở rộng sản
xuất kinh doanh mà chủ yếu sử dụng vốn vay và phần lợi nhuận để lại của Công ty qua
các năm. Lợi nhuận chưa phân phối tăng: năm 2012 tăng 762.279 nghìn đồng so với
năm 2011, năm 2013 tăng 782.814 nghìn đồng so với năm 2012. Điều này chứng tỏ
Công ty làm ăn ngày càng có hiệu quả.
Như vậy, qua phân tích tình hình nguồn vốn của Công ty TNHH Sản xuất thương
mại Korea Việt Nam ta thấy Công ty chủ yếu sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ
cho tài sản, vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng thấp hơn so với nguồn nợ phải trả. Điều
này cho thấy, mức độ tự chủ tài chính của Công ty chưa cao.
2.1.4.3. Các chỉ tiêu tài chính cơ bản
Bảng 2.4. Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của Công ty giai đoạn 2011 - 2013
Chỉ tiêu
Công thức
Đơn vị
tính

Năm
2011
Năm
2012
Năm
2013
Hệ số đòn bẩy tài
chính



Lần
4,402
4,147
2,995
Hiệu suất sử dụng tổng
tài sản



Lần
0,691
0,930
1,209
ROS



%
3,10

3,26
5,17
ROA



%
2,14
3,03
6,25
ROE



%
9,42
12,58
18,73
(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu của Công ty từ năm 2011 đến năm 2013 có xu
hướng tăng lên. Năm 2011, cứ 1 đồng doanh thu thuần đem lại 0,031 đồng lợi nhuận
sau thuế, năm 2012 lên đến 0,0326 đồng và đến năm 2013 con số này là 0,0517 đồng.
Chỉ số này của Công ty thấp nhưng ngày một tăng qua các năm. Tăng tỷ suất sinh lời
là do năm 2012 tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế nhanh hơn (tăng 52,77% - Bảng
2.1) so với tốc độ tăng của doanh thu thuần (tăng 45% - Bảng 2.1). Sang năm 2013, tỷ
suất sinh lời trên doanh thu tiếp tục tăng là do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế tăng
đột biến (tăng 68,15% - Bảng 2.1) trong khi tốc độ doanh thu thuần của Công ty chỉ

×