Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Tiểu luận môn thị trường tài chính Công ty chứng khoán

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (230.09 KB, 23 trang )

Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thực tế luôn xảy ra tình huống: những người có cơ hội đầu tư sinh lời
thì thiếu vốn để thực hiện, trái lại những người có vốn nhàn rỗi lại không biết đầu
tư vào đâu, hoặc không có cơ hội đầu tư. Từ đó thị trường tài chính ra đời để
chuyển vốn từ nơi “thừa” sang nới “thiếu”, chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Người
“thiếu” vốn sẽ phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu để huy
động vốn, còn người “thừa” vốn sẽ đầu tư vốn của mình bằng cách nắm giữ những
công cụ tài chính đó. Lúc này hình thành Thị trường chứng khoán. Thị trường
chứng khoán là một bộ phận cấu thành thị trường tài chính, là nơi diễn ra các giao
dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán – các hàng hóa và dịch vụ tài chính giữa
các chủ thể tham gia. Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy
tắc ấn định trước .
Để thị trường chứng khoán có thể hoạt động minh bạch, hiệu quả và an toàn,
không thể thiếu được các tổ chức tài chính trung gian, trong đó có các công ty
chứng khoán. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu
thông trên thị trường vốn, qua đó, một lượng vốn nhàn rỗi được đưa vào đầu tư cho
phát triển kinh tế từ những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng.
Để thúc đẩy thị trường phát triển, hoạt động hiệu quả và có trật tự nhất thiết
phải có sự ra đời của các Công ty chứng khoán.
Nền kinh tế ở Việt Nam đang mở cửa, những nguồn vốn mới được hình
thành, thị trường chứng khoán phát triển như một nhu cầu tất yếu. Và sự ra đời của
các công ty chứng khoán cũng vậy.
Xuất phát từ những nhận xét trên và theo yêu cầu của bộ môn Thị trường tài
chính nhóm đã chọn đề tài : “Công ty chứng khoán” cho bài tiểu luận.
Đề tài trình bày một số khái niệm cơ bản về chức năng của công ty chứng
khoán và thực tiễn công ty chứng khoán FPT. Trong quá trình thực hiện, do hạn
chế về thời gian, đề tài của nhóm còn thiếu sót, rất mong sự đánh giá góp ý của cô
và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Thị trường tài chính
1


Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. Khái niệm và vai trò của công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh
doanh chứng khoán, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc
lập.
Theo quy chế về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán tại Việt
Nam quy định: “Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm
hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Ủy ban Chứng khoán nhà nước
cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán: môi
giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn
đầu tư chứng khoán.
Thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn non trẻ, bộc lộ nhiều yếu kém, vì
vậy, các công ty chứng khoán ra đời sẽ là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế, cũng như của thị trường chứng khoán.
1.1.2. Vai trò của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị
trường chứng khoán. Đối với mỗi chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, vai trò của
các Công ty chứng khoán cũng được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau.
• Đối với các tổ chức phát hành
Thị trường chứng khoán là một sân chơi mới cho tất cả các doanh nghiệp,
một cơ chế huy động vốn mới. Các doanh nghiệp hiện nay không còn phải lệ thuộc
hoàn toàn vào vốn đi vay từ các ngân hàng thương mại, họ có thể chủ động tìm
được nguồn vốn mới thông qua việc phát hành các chứng khoán trên thị trường.
Công ty chứng khoán là một trung gian tài chính với vai trò huy động vốn, sẽ giúp
tổ chức phát hành tìm được nhà đầu tư và phân phối chứng khoán đến tận tay
những người có nhu cầu nắm giữ loại chứng khoán đó. Nhà đầu tư và nhà phát
hành không phải mua bán trực tiếp chứng khoán với nhau, điều này giúp giảm chi
phí huy động cho nhà phát hành.

Thị trường tài chính
2
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
• Đối với các nhà đầu tư
Sân chơi mới này cũng dành cho tất cả các nhà đầu tư, từ nhà đầu tư có tổ
chức đến nhà đầu tư cá nhân. Họ tạm thời có một khoản tiền nhàn rỗi, nhưng sẽ rất
khó khăn khi ra quyết định đầu tư. Như vậy, nhờ lợi thế của một tổ chức trung gian,
chuyên môn hoá cao làm cầu nối cho các bên mua bán gặp nhau, các Công ty
chứng khoán giúp cho nhà đầu tư tiết kiệm được chi phí, thời gian, công sức trong
từng giao dịch, giúp nâng cao tính thanh khoản của thị trường.
• Đối với thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán phát triển không thể thiếu sự tham gia của các Công
ty chứng khoán. Hoạt động của các Công ty chứng khoán đã giúp công chúng và
nhà đầu tư quen dần với thị trường. Công ty chứng khoán góp phần tạo lập giá cả,
điều tiết thị trường và làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Trên thị
trường thứ cấp, Công ty chứng khoán có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác
giá trị khoản đầu tư của mình. Toàn bộ các lệnh mua bán chứng khoán được tập
hợp tại các thị trường giao dịch tập trung thông qua các Công ty chứng khoán, và
trên cơ sở đó giá chứng khoán sẽ được xác định theo quy luật cung cầu. Ngoài ra,
chính hoạt động tự doanh của các Công ty chứng khoán cũng góp phần điều tiết giá
chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
chứng khoán, Công ty chứng khoán đã thực hiện xác định và tư vấn cho tổ chức
phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành.
Các Công ty chứng khoán thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán sau khi
phát hành, vì vậy giúp người đầu tư dễ dàng chuyển đổi chứng khoán thành tiền
mặt và ngược lại, làm tăng tính thanh khoản cho các tài chứng khoán.
• Đối với các cơ quan quản lý thị trường
Công ty chứng khoán thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán, nắm
giữ các tài khoản giao dịch của khách hàng, vì vậy nó có được thông tin về các giao
dịch trên thị trường, thông tin về các loại cổ phiếu, trái phiếu, thông tin về tổ chức

phát hành và nhà đầu tư Công ty chứng khoán có nghĩa vụ phải cung cấp các
thông tin đó cho các cấp có thẩm quyền khi có yêu cầu, qua đó, các cơ quan quản
lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn thị
trường bảo vệ nhà đầu tư.
Thị trường tài chính
3
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
1.2. Các hoạt động chủ yếu của công ty chứng khoán
1.2.1. Các hoạt động chính của Công ty chứng khoán
Tính đến thời điểm cuối năm 2010, ở Việt Nam gần 105 Công ty chứng
khoán, kinh doanh một số hoặc tất cả các loại hình do Nhà nước quy định. Các loại
hình kinh doanh chính của Công ty chứng khoán được quy định tại điều 65 Nghị
định 144/2003:
• Hoạt động Môi giới chứng khoán
Đây là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một Công ty chứng
khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại
các trung tâm giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng
phải chịu trách nhiệm với kết quả giao dịch của mình. Một cách hiểu khác: đó là
hoạt động trung gian, đại diện mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa
hồng. Hoạt động này sẽ nối liền những người bán và những người mua, đem đến
cho khách hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính. Như vậy, trong hoạt
động này Công ty chứng khoán chỉ làm trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng
để hưởng hoa hồng.
Nhân viên Môi giới sẽ có nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng trước khi khách
hàng ra quyết định mua bán chứng khoán, không quyết định hộ khách hàng. Mọi
lời tư vấn của người môi giới chỉ có tính chất tham khảo, quyền quyết định vẫn
thuộc về nhà đầu tư. Nhân viên Môi giới cần phải đáp ứng được 3 kỹ năng: kỹ năng
truyền đạt thông tin đến khách hàng (mọi thông tin đến với các nhà đầu tư là như
nhau); kỹ năng khai thác thông tin (giúp nhà môi giới hiểu rõ tâm lý, khả năng tài
chính của khách hàng từ đó có được lời tư vấn hợp lý nhất); và cuối cùng là kỹ

năng tìm kiếm khách hàng (tạo thu nhập cho công ty).
Mạnh về mảng hoạt động này, có Công ty chứng khoán Sài Gòn; Bảo Việt;
Á Châu; Đầu tư; Ngoại thương – là những công ty dẫn đầu trong việc thu hút nhà
đầu tư tham gia thị trường.
• Hoạt động tự doanh chứng khoán
Đây là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của công ty chứng
khoán. Tự doanh là việc Công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua bán
Thị trường tài chính
4
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
chứng khoán cho chính mình. Đối với hoạt động tự doanh, Công ty chứng khoán
kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty, nhằm thu lợi nhuận cho chính mình.
Trong trường hợp hoạt động tự doanh được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập
thị trường, khi đó công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, sẽ
nắm giữ một số lượng nhất định của một số loại chứng khoán, và thực hiện mua
bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh lệch giá. Là nguồn thu chủ
yếu của các Công ty chứng khoán, vì vậy nhà quản lý rất chú trọng đến hoạt động
này. Hoạt động tự doanh đòi hỏi Công ty chứng khoán phải có đủ một số vốn nhất
định theo quy định của pháp luật (tối thiểu là 12 tỷ đồng), nhằm đảm bảo rằng các
Công ty chứng khoán dùng vốn của họ để kinh doanh và đội ngũ nhân viên phải có
trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng phân tích thị trường, nhạy bén với
thông tin, nhạy cảm trong công việc, có khả năng tự quyết cao để có thể đưa ra các
quyết định đầu tư hợp lý.
Công ty chứng khoán vừa kinh doanh chứng khoán cho chính mình, vừa làm
trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng, vì vậy có thể dẫn đến sự mâu thuẫn về
lợi ích giữa công ty và khách hàng. Do đó, khi thực hiện hoạt động tự doanh, Công
ty chứng khoán cần đáp ứng các yêu cầu sau:
Tách biệt về quản lý: giữa hai hoạt động tự doanh và môi giới, để đảm bảo
sự phù hợp về lợi ích của các bên. Đặc biệt, không được lấy tài sản của khách hàng
để kinh doanh cho công ty và ngược lại.

Ưu tiên khách hàng: Công ty chứng khoán với lợi thế về nghiệp vụ có thể
dự đoán trước diễn biến của thị trường, để đảm bảo sự công bằng cho các khách
hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán, Công ty chứng khoán phải ưu tiên
thực hiện lệnh giao dịch của khách hàng trước lệnh tự doanh của công ty.
Góp phần bình ổn thị trường: khi thị trường có sự biến động bất thường,
các Công ty chứng khoán sẽ điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng
khoán thông qua hoạt động tự doanh, bằng cách mua vào khi giá chứng khoán giảm
và bán ra khi giá chứng khoán tăng nhằm giữ giá chứng khoán ổn định.
Hai năm gần đây, hoạt động này diễn ra khá sôi nổi, có 13 trên 14 Công ty
chứng khoán được cấp giấy phép thực hiện hoạt động này. Tổng giá trị giao dịch
chứng khoán từ nghiệp vụ này của Công ty chứng khoán năm 2005 là 27.078 tỷ
Thị trường tài chính
5
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
đồng, tăng 26,72% so với 2004. Công ty chứng khoán Bảo Việt, Ngoại thương,
Nông nghiệp mạnh về hoạt động này.
• Hoạt động bảo lãnh phát hành
Hoạt động bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán có chức năng
bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng
khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong
giai đoạn đầu sau khi phát hành. Để có thể trở thành một tổ chức bão lãnh phát
hành, Công ty chứng khoán với có mức vốn tối thiểu cho hoạt động này là 22 tỷ
đồng, được cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán
đồng ý và cho phép. Mặt khác, Công ty chứng khoán và tổ chức phát hành không
được chi phối nhau, không nắm giữ quá 5% vốn của nhau; không cùng chi phối
một tổ chức khác và không cùng bị một tổ chức khác chi phối. Để đợt phát hành
chứng khoán ra công chúng của doanh nghiệp được thành công, việc lựa chọn tổ
chức bảo lãnh phát hành rất quan trọng. Công ty chứng khoán với tư cách là tổ
chức bảo lãnh phát hành được doanh nghiệp lựa chọn sẽ tư vấn cho tổ chức phát
hành về loại, số lượng chứng khoán cần phát hành, định giá chứng khoán và

phương thức phân phối chứng khoán đến các nhà đầu tư. Khi phương án phát hành
được Ủy ban chứng khoán thông qua, chứng khoán sẽ được phép phát hành, sau đó
Công ty chứng khoán thực hiện phân phối chứng khoán. Công ty chứng khoán sẽ
có được một khoản thu từ phí bảo lãnh. Hoạt động bảo lãnh phát hành chiếm tỷ lệ
doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của Công ty chứng khoán vì vậy các công
ty cũng rất chú trọng phát triển hoạt động này.
Hoạt động mạnh về nghiệp vụ này là Công ty chứng khoán Nông Nghiệp,
Ngoại thương.
• Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Đây là hoạt động nhận vốn của khách hàng để thiết lập một danh mục chứng
khoán và cơ cấu lại danh mục đó theo mục tiêu tối ưu hoá lợi nhuận cho khách
hàng, theo đó vốn của khách hàng phải được bảo toàn. Khách hàng sẽ uỷ thác tiền
cho Công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay
những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận hoặc yêu cầu. Quy trình thực
hiện hoạt động này diễn ra như sau: trước tiên Công ty chứng khoán sẽ tìm hiểu
Thị trường tài chính
6
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
nhu cầu của khách hàng từ mức sinh lời kì vọng đến mức rủi ro có thể chấp nhận.
Sau đó, Công ty chứng khoán sẽ thiết kế hợp đồng ủy thác đầu tư phù hợp cho từng
kì vọng của khách hàng. Trên cơ sở bản hợp đồng, công ty xây dựng danh mục đầu
tư, đánh giá danh mục đầu tư và lựa chọn chứng khoán đưa vào danh mục. Bước
tiếp theo là tiến hành đầu tư, Công ty chứng khoán sẽ xác định thời điểm mua, bán
chứng khoán; kiểm tra lại sự tối ưu của danh mục. Cuối cùng là đánh giá hiệu quả
của danh mục đầu tư dựa trên một số tiêu chí theo yêu cầu của khách hàng hay chỉ
số toàn thị trường. Công ty chứng khoán có nghĩa vụ phải thường xuyên báo cáo
cho khách hàng biết về giao dịch, về trạng thái danh mục đầu tư theo yêu cầu của
khách hàng hay định kỳ hàng tháng Tài sản ủy thác được quản lý chuyên nghiệp,
sử dụng tối đa trình độ chuyên môn và phương tiện của các Công ty chứng khoán.
Khách hàng có thể tiết kiệm được thời gian, hơn nữa chỉ phải trả phí khi thực sự có

lợi. Công ty chứng khoán đầu tàu thúc đẩy hoạt động này phát triển là Công ty
chứng khoán Sài Gòn thu hút 42% tổng số hợp đồng ủy thác, Công ty chứng khoán
Công thương chiếm 32%.
• Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp và đầu tư chứng khoán
Đây là một trong 5 hoạt động kinh doanh chính của Công ty chứng khoán.
Hoạt động tư vấn của Công ty chứng khoán có thể được hiểu: đó là việc Công ty
chứng khoán thông qua hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu về lĩnh vực chứng
khoán để đưa ra lời khuyên cho khách hàng. Ngoài ra công ty có thể thực hiện một
số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho
khách hàng.
Trước đây khi Nghị định 48/NĐ-CP vẫn còn hiệu lực thì hoạt động tư vấn
chỉ được giới hạn trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán. Hiện nay, Nghị định
144/NĐ-CP đã mở rộng hoạt động tư vấn của Công ty chứng khoán, bao gồm tư
vấn tài chính và đầu tư chứng khoán. Đó là dịch vụ mà công ty chứng khoán cung
cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, tái cơ cấu tài chính; mua
bán, chia tách, hợp nhất doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát hành và
niêm yết, đăng ký giao dịch. Ngoài ra, Công ty chứng khoán còn thực hiện tư vấn
cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn bán đấu giá cổ phần và cung cấp
các dịch vụ tài chính khác cho doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật.
Thị trường tài chính
7
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
Tư vấn đầu tư là hoạt động tư vấn cho người đầu tư về thời gian mua bán,
nắm giữ giá trị của các loại chứng khoán và các diễn biến của thị trường. Người tư
vấn sử dụng kiến thức của mình để “kinh doanh” nhằm đem lại lợi nhuận cho
khách hàng. Lời tư vấn dựa trên sự phân tích những diễn biến của thị trường trong
quá khứ, có thể đúng có thể sai, vì vậy khách hàng vẫn là người quyết định cuối
cùng, thông tin người tư vấn đưa ra chỉ nên mang tính chất tham khảo. Trong hoạt
động này, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên tư vấn luôn được đề cao, tránh việc
xảy ra xung đột về lợi ích giữa khách hàng và công ty.

Tư vấn tài chính doanh nghiệp là mảng hoạt động hiện nay được các Công
ty chứng khoán đặc biệt quan tâm. Ngoài việc mang lại thu nhập cho công ty, hoạt
động này có thể tạo ra một mạng lưới khách hàng tiềm năng. Hoạt động tư vấn tài
chính sẽ xây dựng thương hiệu và tạo hình ảnh cho công ty; xây dựng nền tảng với
khách hàng và tạo cơ sở tiền đề phát triển các hoạt động khác. Hoạt động này bao
gồm: tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn xây dựng phương án cổ phần
hoá, tư vấn bán đấu giá cổ phần, tư vấn phát hành chứng khoán, tư vấn tái cấu trúc
tài chính doanh nghiệp, tư vấn niêm yết đăng ký giao dịch, tư vấn chuyển đổi, mua
bán sát nhập doanh nghiệp.
2005 là năm các Công ty chứng khoán triển khai hoạt động này khá hiệu
quả, đã thực hiện tư vấn cổ phần hoá cho 525 tổ chức và bán đấu giá thành công
cho 229 tổ chức, có trên 15 công ty niêm yết. Công ty chứng khoán Bảo Việt, Sài
Gòn, Đầu tư, Mê Kông là những công ty hoạt động tốt trong lĩnh vực này.
1.2.2. Các hoạt động phụ trợ
Để phục vụ tốt nhất cho khách hàng khi đến với Công ty chứng khoán, ngoài
các hoạt động chính chiếm tỉ trọng lớn trong doanh thu, Công ty chứng khoán còn
thực hiện các hoạt động phụ trợ để thoả mãn nhu cầu của khách hàng, thúc đẩy các
hoạt động chính phát triển; như hoạt động lưu ký chứng khoán, quản lý thu nhập
của khách hàng, quản lý quỹ,
Thị trường tài chính
8
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
Phần 2

: CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN FPT
2.1 Giới thiệu về công ty chứng khoán FPT
- Tên Công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN FPT
- Tên tiếng Anh: FPT SECURITIES JOINT STOCK COMPANY
- Tên viết tắt : FPTS
- Trụ sở chính : Tầng 2, Toà nhà 71 Nguyễn Chí Thanh, Phường Láng Hạ,

Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội
- Điện thoại : (84.4) 7737 070 Fax: (84.4) 7739 058
- Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh: 29- 31 Nguyễn Công Trứ, Phường Nguyễn
Thái Bình, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh.
- Điện thoại : (84-8) 6.290 8686 Fax: (84-8) 6.291 0607
- Chi nhánh Đà Nẵng: số 124 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Hải Châu 1,
Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng.
- Điện thoại : (84-511) 355 3666 Fax: (84-511) 355 3888
- Email :
- Website : www.fpts.com.vn
- Logo :
- Vốn điều lệ : 440.000.000.000 VND
- Công ty cổ phần chứng khoán FPT là thành viên của tập đoàn FPT, được cấp
phép thành lập và hoạt động theo giấy phép số 59/UBCK-GP của Uỷ ban chứng
khoán Nhà nước ngày 13/07/2007.
-Trong năm 2009, Công ty chứng khoán FPT đã thực hiện kết nối không sàn với
HOSE vào tháng 01 năm 2009 và đầu tháng 02/2010 kết nối không sàn với HNX.
Thị trường tài chính
9
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
2.2 Ngành nghề kinh doanh của công ty
- Môi giới, tư vấn mua, bán chứng khoán.
- Quản lý cổ đông & Lưu ký chứng khoán.
- Các dịch vụ trực tuyến: EzOpen; EzAdvance; EzTrade; EzSearch;
EzTransfer; EzLink; SMS; EzOTC.
- Tư vấn Mua bán và Sáp nhập doanh nghiệp.
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Ngành nghề đăng ký kinh doanh của FPTS không nằm ngoài quy định
của Ủy ban chứng khoán Nhà nước và được cụ thể hóa thông qua các sản phẩm
dịch vụ.

2.2.1 Sản phẩm dành cho cá nhân
Mở tài khoản
Lưu ký chứng khoán
Môi giới mua bán chứng khoán
Hỗ trợ cung cấp vốn ngắn hạn
Đấu giá và nhận ủy thác đấu giá
Email kết quả khớp lệnh và sao kê tài khoản
2.2.2 Sản phẩm dành cho tổ chức
Tư vấn cổ phần hóa, chào bán chứng khoán, phát hành, tái cấu trúc vốn, bảo
lãnh phát hành, lập dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư, định giá, dự báo tài
chính…
2.2.3 Các sản phẩm trực tuyến
Ez Trade - Giao dịch chứng khoán trực tuyến
Ez Advance - Ứng trước tiền bán chứng khoán trực tuyêts
Ez Transfer - Đặt lệnh chuyển tiền trực tuyến
Ez RightExercise – Thực hiện quyền trực tuyến
Ez Oddlot - Bán chứng khoán lô lẻ trực tuyến
Ez Open - Đăng ký mở tài khoản trực tuyến, ký và nhận hợp đồng
FPT Mobile - Đặt lệnh và tra cứu thông tin chứng khoán qua điện thoại di
động
Ez SMS - Truy vấn thông tin trực tuyến
Thị trường tài chính
10
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
Ez Search – Cổng thông tin trực tuyến
……
2.3 Thuận lợi và khó khăn
2.3.1 Thuận lợi
Sở hữu thương hiệu FPT là một thương hiệu lớn, nhờ vậy ngay từ ban
đầu, công ty đã có những lợi thế về hình ảnh, giúp cho công ty tạo được một chỗ

đứng ổn định trên thị trường.
Tiềm lực tài chính mạnh với vốn điều lệ 440 tỷ, FPTS đã có vị thế
nhất định về vốn, đảm bảo nguồn lực cho cạnh tranh và phát triển với các công ty
khác.
Xây dựng thành công hệ thống công nghệ thông tin đạt tiều chuâtn
quốc tế, đội ngũ các cán bộ, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh
nghiệm.
Mạng lưới giao dịch rộng khắp trên cả đất nước.
2.3.2 Khó khăn
Thành lập và đi vào hoạt động trong giai đoạn thị trường có nhiều
khó khăn, nền kinh tế nói chung, thị trường chứng khoán nói riêng có những biến
động xấu.
Cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán ngày càng khốc liệt bởi quy
mô thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhỏ mà số lượng công ty chứng khoán
trong nước không ngừng gia tăng.
Số lượng các sản phẩm đầu tư tài chính ngày càng nhiều tạo ra sự
chuyển dịch vốn đầu tư qua các kênh khác như thị trường tiền tệ, thị trường bất
động sản ngày càng tăng.
Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn khá non trẻ, thiếu kinh
nghiệm, hiểu biết của đại bộ phận dân chúng về thị trường chứng khoán còn hạn
chế, điều này ảnh hưởng đến môi trường đầu tư chuyên nghiệp cũng như khả năng
cung cấp các dịch vụ tài chính chuyên nghiệp, có giá trị cao.
2.4. Thị phần hoạt động
Nghiệp vụ Môi giới
Tính tới thời điểm hiện tại, FPTS đứng thứ 2(chiếm 5,01% thị phần) trong
Top 10 Công ty chứng khoán dẫn đầu về thị phần môi giới cổ phiếu tại HNX và
Thị trường tài chính
11
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
đứng thứ 5(chiếm 4,82 %thị phần) trong Top công ty chứng khoán dẫn đầu thị phần

tại sàn Hose.
FPTS được đánh giá là một trong những công ty chứng khoán hàng đầu về
giao dịch trực tuyến tại thị trường chứng khoán Việt Nam với hệ thống giao dịch
trực tuyến chuyên biệt và đồng bộ. Tính đến cuối quý III/2010, FPTS đã có gần
47.000 tài khoản giao dịch. Hiện tại, số lượng tài khoản tại FPTS vẫn gia tăng trung
bình với mỗi tuần từ 300 – 400 tài khoản mở mới.
Thị phần tại HNX
Top 10 thị phần môi giới cổ phiếu trên HNX Quý 2/2010 Quý 1/2010 Quý 3/2010
Công ty Cổ phần Chứng khoán Thăng Long
13,092% 11,94%
Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDirect
5,651% 4,53%
Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT
4,493% 4,73%
5,01%
Công ty Cổ phần Chứng khoán Sacombank-SBS
4,382% 3,25%
Công ty Cổ phần Chứng khoán Tp.HCM
4,345% 4,32%
Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn
3,976% 4,51%
Công ty Cổ phần Chứng khoán Châu Á-TBD
3,146% 2,65%
Công ty Chứng khoán Ngân hàng Á Châu
2,559% 3,31%
Công ty Cổ phần Chứng khoán An Bình
2,352% 2,63%
Công ty Cổ phần Chứng khoán Hòa Bình
2,284% N/A
Quý I đứng thứ 2, quý 2 đứng Thứ 3, quý 3 thứ 2.

Bảng Cơ cấu Doanh thu của công ty chứng khoán FPT
Chi tiêu doanh thu
2007
2008 2009
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
- Hoạt động môi giới chứng
khoán
14,827 32.69 25,123 32.38 117,559 54.44
- Hoạt động đầu tư chứng
khoán, góp vốn
26,647 58.76 25,011 32.23 21,233 9.83
- Đại lý phát hành chứng khoán - - - - 360 0.17
- Hoạt động tư vấn 915 2.02 4,142 5.34 54,210 25.11
- Hoạt động lưu ký chứng khoán 98 0.22 614 0.79 1,807 0.84
- Doanh thu khác 2,864 6.31 22,706 29.26 20,761 9.61
Tổng cộng 45,351 100.00 77,596 100.00 215,931 100.00
(Nguồn: Báo cáo tài chính kiểm toán 2009 của Công ty CP chứngkhoán FPT)
Thị trường tài chính
12
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
Thị Phần tại HOSE
2.5 Tình hình hoạt động kinh doanh
Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm:
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Thực hiện
năm 2009
Thực hiện
năm 2008
% tăng

trưởng
Doanh số kinh
doanh (Triệu đồng)
15,93 77,596 178.3%
Lợi nhuận
ròng (triệu đồng)
120,522 (234,814)
Nhân viên
(người)
138 136 1.5%
Số tài khoản
khách hàng
33,976 15,006 126.4%
Nếu như lợi nhuận sau thuế trong năm 2009 của FPTS đạt 120,5 tỷ đồng đã
gây ấn tượng cao thì sau 9 tháng đầu năm 2010 FPTS đã chính thức khẳng định
thương hiệu và đưa ra con số lợi nhuận vượt mong đợi. Quý I năm 2010 FPTS đạt
54 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, quý II năm 2010 đặt 68.2 tỷ và cộng gộp lợi nhuận
quý 3 thì 9 tháng đầu năm nay FPTS đã đạt 151 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế vượt xa
kế hoạch lợi nhuận đặt ra.
Cơ cấu doanh thu của FPTS là bền vững khi doanh thu chủ yếu đến từ hoạt
động môi giới và tư vấn đầu tư ( số liệu trong bảng kết quả kinh doanh của từng
năm).Với đà tăng trưởng như hiện nay dựa trên các dịch vụ tiện ích nổi trội về công
nghệ và sản phẩm phần mềm đa dụng nhiều khả năng FPTS sẽ sớm đạt ngôi vị đầu
bảng về thị phần môi giới trong tương lai gần.
Thị trường tài chính
13
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
Trong thời gian sắp tới FPTS sẽ phát hành thêm 11 triệu cổ phiếu tăng vốn
lên 550 tỷ đồng và đủ điều kiện niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ chí Minh.

Ngày 25/11 Tập đoàn SBI Holding Inc. của Nhật cho biết SBI Securities
Co. sẽ mua lại 20% cổ phần của FPTS với giá ước tính khoảng 2 tỷ JPY, tương ứng
với 23.92 triệu USD.
Nghiệp vụ Môi giới: Trong nửa đầu năm 2009 giá trị giao dịch toàn thị
trường sụt giảm mạnh vì vậy cũng đã ảnh hưởng nhiều tới doanh thu môi giới của
FPTS. Tuy nhiên, ngay từ đầu năm FPTS đã đẩy mạnh hoạt động bán hàng, phát
triển các đại lý nhận lệnh và mở tài khoản tại nhiều tỉnh thành nhằm gia tăng đáng
kể số lượng tài khoản, đón đầu cho sự phục hồi của thị trường chứng khoán.
Với chiến lược tập trung xây dựng các sản phẩm giao dịch trực tuyến với
những nỗ lực trong việc phát triển các dịch vụ, tiện ích ưu việt hướng đến quyền lợi
của nhà đầu tư vì vậy trong năm 2009 khi được kết nối không sàn với HOSE vào
tháng 01 năm 2009 và đầu tháng 02 năm 2010 kết nối không sàn với HNX thị phần
của FPTS đã được cải thiện. Về thị phần môi giới về cổ phiếu và chứng chỉ quĩ
năm 2009 FPTS đạt 3.84 % giá trị giao dịch tại sàn HOSE và 4.13 % giá trị giao
dịch tại sàn HNX . FPTS vinh dự đứng trong TOP 10 cuả HOSE và TOP 5 của
HNX về thị phần môi giới.
Nghiệp vụ Tư vấn: Năm 2009 là một năm mà mảng tư vấn được đẩy mạnh.
FPTS chính thức đặt tên mình vào thị trường M&A với việc tư vấn thành công cho
Eland (Singaporre) mua cổ phần của Công ty Dệt may Thành công – Một doanh
nghiệp lớn đã niêm yết trên sàn HOSE và một số các hợp đồng M&A khác. Đồng
thời trong năm FPTS cũng đã tạo được hình ảnh tốt, uy tín trong mảng tư vấn phát
hành trái phiếu. Bên cạnh đó FPTS cũng thực hiện nhiều hợp đồng tư vấn phát
hành, niêm yết, cổ phần hóa và tư vấn hoàn thiện doanh nghiệp cho nhiều doanh
nghiệp khác.
Nghiệp vụ Tự doanh: Chú trọng quản lý rủi ro.
Thị trường tài chính
14
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
Sản phẩm dịch vụ: Bộ sản phẩm giao dịch trực tuyến (Ez) được khách hàng
đánh giá tốt. Trong năm FPTS đã xây dựng và đưa vào sử dụng sản phẩm FPTS

Mobile được rất nhiều nhà đầu tư sử dụng, đồng thời chú trọng việc tự động hoá
các quy trình nội bộ liên quan đến hệ thống giao dịch nhằm tăng tốc độ xử lý hỗ trợ
các nhà đầu tư tăng khả năng đầu tư thành công.
Phát triển hệ thống: FPTS là một trong mười công ty chứng khoán đầu tiên
được kết nối không sàn với HOSE và là một trong số 22 công ty chứng khoán đầu
tiên được kết nối không sàn với HNX. Việc kết nối đã giảm đáng kể thời gian thực
hiện lệnh, nâng cao hiệu quả đầu tư cho khách hàng.
Khách hàng: Phát triển được mạng lưới khách hàng rộng khắp với gần
34,000 tài khoản (Tăng gần 19,000 tài khoản so với năm 2008).
Thương hiệu FPTS: Đứng thứ 03 trong top 05 thương hiệu tài chính (Tin và
Dùng) được người tiêu dùng bình chọn năm 2009 cho sản phẩm giao dịch trực
tuyến của FPTS (Chương trình do Thời báo kinh tế Việt nam tổ chức với hơn
800.000 ý kiến đánh giá và bình chọn)
Website của công ty có ranking thứ 02 sau cafef.vn trong số các website
ngành tài chính Việt Nam .
Thị trường tài chính
15
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
PHẦN 3

: NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ
3.1. Đánh giá về thực trạng hiện nay của các công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán trầm lắng trong suốt mấy tháng qua đã làm cho phí
môi giới của các CTCK sụt giảm nghiêm trọng, hơn nữa phần tự doanh được xem
như là nguồn thu lớn thì cũng bị cắt giảm đáng kể. Tại nhiều công ty chứng khoán
thì nguồn thu từ nghiệp vụ này chiếm tới gần 50% thu nhập hằng tháng. Chính vì
thế, các công ty chứng khoán mới được thành lập trong thời điểm hiện nay lại lâm
vào tình thế khó khăn.
Cơ hội lựa chọn nhiều hơn nhưng nhiều nhà đầu tư mới vẫn có thói quen
chọn sàn có tên tuổi. Bằng chứng là số tài khoản mới mở tại các công ty chứng

khoán lớn như SSI, BSC, VCBS, ACBS vẫn tăng đều đặn ngay cả trong giai đoạn
thị trường chìm lắng.
Với các nhà đầu tư kỳ cựu lại rất ngại đóng tài khoản để dời sang sàn khác
bởi thủ tục khá nhiêu khê. Vì thế cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán trong
lĩnh vực môi giới vẫn chủ yếu dừng ở việc thu hút khách hàng mới. Bốn công ty
chứng khoán lớn là Công ty chứng khoán Sài Gòn, Chứng khoán Ngân hàng Ngoại
thương, Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư Phát triển VN và chứng khoán Ngân hàng
ACB nắm tới gần 80% thị phần do vậy cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán
mới càng quyết liệt.
Các công ty môi giới chứng khoán ở Việt Nam cũng chưa đảm nhiệm tốt
việc truyền bá thông tin về các cổ phiếu cho nhà đầu tư, không hình thành được
mối liên kết thường xuyên giữa nhà môi giới và khách hàng.
Hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán đang có nguy cơ sẽ bị thổi
còi nếu không làm đúng quy định. Theo quyết định số 27/2007/ QD- Bộ tài chính:
Mục 3, điều 34, nói rằng công ty chứng khoán phải công bố cho khách hàng
biết khi mình là đối tác trong giao dịch trực tiếp với khách hàng và không được thu
phí giao dịch của khách hàng trong trường hợp này.
Mục 4 điều 34 quy định rằng trong trường hợp lệnh mua hoặc bán chứng
khoán của khách hàng có thể ảnh hưởng lớn tới giá của một loại chứng khoán nào
Thị trường tài chính
16
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
đó, công ty chứng khoán không được mua hoặc bán trước cùng một loại chứng
khoán cho chính mình hoặc tiết lộ thông tin cho bên thứ ba mua hay bán chứng
khoán đó.
Điều khoản quy định việc tự doanh của công ty chứng khoán cũng đề cập
khi khách hàng đặt lệnh giới hạn, công ty chứng khoán không được mua hoặc bán
cùng loại chứng khoán đó cho mình ở mức giá bằng hoặc tốt hơn mức giá của
khách hàng trước khi lệnh của khách hàng được thực hiện.
Các quy chế được ban hành nhằm quản lý chặt chẽ tình hình hoạt động của

các công ty chứng khoán và bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ, tuy nhiên những quy định
như vậy không công bằng với các công ty chứng khoán trên cương vị là nhà tạo lập
thị trường, đầu tư chuyên nghiệp và có tổ chức.
Nghề môi giới tư vấn chứng khoán (broker) đòi hỏi phải có trình độ cao, có
khả năng phân tích tài chính, thu thập, dự đoán thông tin chứng khoán nhanh để tư
vấn cho khách hàng đầu tư với xác suất thành công cao nhất. Tuy nhiên, phần lớn
các chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp ở Việt Nam vẫn còn thiếu và yếu, không chỉ
thiếu về số lượng mà nghiệp vụ tư vấn và đạo đức của nhà tư vấn về kinh doanh
chứng khoán còn rất hạn chế.
Cả nước hiện chỉ có khoảng hơn 300 nhà môi giới, tư vấn chuyên nghiệp.
Song phần lớn nhân viên môi giới và tư vấn chuyên nghiệp khi tư vấn cho nhà đầu
tư vẫn thuộc dạng thụ động còn nặng về cảm tính.
3.2. Những thách thức đối với công ty chứng khoán trong thời điểm hiện
nay
Việc mở cửa thị trường cho các tổ chức nước ngoài tham gia kinh doanh,
đầu tư vào TTCK Việt Nam khiến các tổ chức và các dịch vụ trong nước phải chấp
nhận chia sẻ thị phần, chịu áp lực cạnh tranh cao hơn với các CTCK nước ngoài.
Quá trình hội nhập tạo ra áp lực cạnh tranh khắc nghiệt, trong bối cảnh các công ty
CK trong nước chưa đủ mạnh, khả năng dẫn đến bị thâu tóm, sáp nhập, giải thể.
Bên cạnh việc tăng cường năng lực về tài chính, về nghiệp vụ, trong tương
lai, các CTCK Việt Nam còn phải phát triển thêm nhiều hình thức kinh doanh mới
phức tạp hơn, đòi hỏi nhiều trí tuệ và công nghệ hơn như giao dịch ký quỹ, bán
Thị trường tài chính
17
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
khống, vay và cho vay chứng khoán, thị trường kỳ hạn, tương lai cho các sản phẩm
chứng khoán phái sinh.
Thị trường chứng khoán đang trên đà phục hồi mạnh mẽ, nhưng sự ổn định
của nó còn phụ thuộc vào sự hồi phục chung của nên kinh tế. Công ty Chứng
khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) đưa ra một số phần tích về các vấn đề lớn mà nền

kinh tế sẽ vượt qua trên đà phục hồi kinh tế
Thách thức 1: Vấn đề thâm hụt thương mại
SHS cho rằng, Việt Nam kiểm soát được thâm hụt thương mại trong năm
2009, 2010 và giữ ổn định tỷ giá VND/USD theo hướng giảm giá dần đồng VND
trong biên độ cho phép (5-7%). Vì vậy, rủi ro về phá giá và khủng hoảng tiền tệ,
khủng hoảng cán cân thanh toán là không lớn trong năm 2009. Điều này dựa trên
các yếu tố sau:
1. Hàng hoá có tỷ trọng nhập khẩu lớn như phôi thép, phân bón, dầu và các
sản phẩm dầu, lúa mì đã giảm giá đáng kể so với năm 2008.
2. Một số chính sách hỗ trợ xuất khẩu như hỗ trợ lãi suất, xúc tiến thương
mại và biện pháp hạn chế nhập khẩu như tăng thuế, sử dụng hàng rào kỹ thuật,
dùng hạn ngạch, ưu tiên bán ngoại tệ cho nhóm ngành cần thiết…có tác dụng thu
hẹp khoảng cách xuất, nhập khẩu.
3. Có thể sử dụng biện pháp kết hối, yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu
phải bán lại cho ngân hàng thương mại.
4. Phát hành thêm trái phiếu ngoại tệ ở trong nước. Các đợt phát hành trái
phiếu ngoại tệ gần đây khá thành công là tín hiệu tốt để cân đối cung cầu ngoại tệ
trong nước.
5. Thực hiện hoán đổi ngoại tệ giữa ngân hàng thương mại và Ngân hàng
Nhà nước.
6. Thị trường tự do đang được kiểm soát khá tốt, các đợt biến động tỷ giá
không quá lớn và theo khá sát tỷ giá chính thức.
7. Có thể được hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế như IMF, vay ODA, vay nước
ngoài (các nước ASEAN có quỹ hỗ trợ chống khủng hoảng tiền tệ và nhiều quốc
gia có thặng dư USD cùng với xu hướng USD giảm giá nên khả năng vay được là
rất cao).
Thị trường tài chính
18
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
8. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (hot money) có xu hướng chảy vào các

thị trường mới nổi nhằm tận dụng chênh lệch lãi suất và thị trường cổ phiếu hỗ trợ
giảm bớt áp lực tỷ giá.
9. Giá hàng hoá xuất khẩu như: cao su, dầu mỏ, cà phê tăng giá tương đối
so với Q1 hỗ trợ thêm cho nguồn thu ngoại tệ.
10. Nguồn vốn FDI chững lại so với năm 2007, nhu cầu nhập khẩu để đầu tư
tài sản cố định chưa hoàn toàn hồi phục.
Vì vậy, SHS cho rằng, thâm hụt thương mại của Việt Nam sẽ không vượt
quá 10 tỷ USD trong năm 2009, tỷ giá dao động ở mức biên độ 5%-6% là ngưỡng
khá an toàn cho môi trường kinh doanh và đầu tư.
Thách thức 2: Lạm phát kỳ vọng
Lạm phát của nền kinh tế phụ thuộc vào các yếu tố chính sau: diễn biến giá
cả thế giới, chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá.
Việt Nam có độ mở xếp thứ năm thế giới (sau Singapore, Hồng Kông,
Malaysia, Bỉ) với kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm tới xấp xỉ 160% GDP, vì vậy,
lạm phát nhập khẩu có vai trò quan trọng trong chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt
Nam.
Giá dầu tuy đã tăng lên gần 100% vào quý II/2009 so với đầu năm nhưng
nhiều khả năng duy trì ở mức 60 – 70 USD/thùng trong năm 2009 do nhu cầu giảm
sút và đà hồi phục của nền kinh tế thế giới cần thời gian từ 1- 2 năm.
Giá hàng hoá và nguyên liệu cơ bản tuy tăng so với đầu năm nhưng còn ở
mức thấp so với năm 2008 và dự đoán có thể sẽ còn giảm do nhu cầu yếu trong nửa
cuối năm 2009. Như vậy, giá cả thế giới chưa phải là áp lực lớn cho lạm phát trong
năm 2009.
Lợi suất trái phiếu kỳ hạn một năm khoảng 9,3% (giá thấp nhất của đợt đấu
thầu trái phiếu chính phủ thời hạn hai năm ở quanh mức 9%), mức lãi suất này ít
nhất phải bù đắp được cho lạm phát để đảm bảo lãi suất thực dương. Lãi suất huy
động tại các ngân hàng cũng tăng lên ở các kỳ hạn dài.
Đây là dấu hiệu cho thấy lạm phát kỳ vọng của dân cư đã cao hơn. Theo
chúng tôi, tác động của chính sách tiền tệ nới lỏng để đối phó khủng hoảng sẽ rõ
hơn vào năm 2010 và thể hiện cụ thể trước áp lực lạm phát.

Thị trường tài chính
19
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
Thu ngân sách Nhà nước dự toán 2009 khoảng 390.000 tỷ đồng, tức là bản
thân thu dự toán giảm 9.000 tỷ đồng so với năm ngoái. Theo báo cáo của Ngân
hàng Thế giới (WB), thâm hụt ngân sách của Việt Nam 2009 có thể lên tới 8,3% so
với 4,5% của năm 2008. Do sức ép của 143.000 tỷ đồng kích cầu lên ngân sách
chiếm 8,7% GDP trong năm 2009, Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong triển khai
những gói kích cầu mới quy mô lớn.
Xét trong cả năm 2009 và dựa vào tác động của các nhóm yếu tố, CPI sẽ tiếp
tục tăng và mức tăng về cuối năm, nhưng vẫn ở dưới 1%/tháng do lượng cung tiền
tuy tăng nhưng không tập trung vào một thời điểm như năm 2007. Nguy cơ lạm
phát trở lại mốc cao sẽ bộc lộ rõ hơn vào năm 2010 sau khi chính sách tiền tệ, tài
khoá đã phát huy mạnh mẽ vào nền kinh tế.
Một mặt khác, đợt suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ cần một thời gian để hồi
phục. Vì vậy, việc lạm phát tăng mạnh sẽ khó xảy ra trong năm 2009, tuy nhiên rủi
ro này sẽ gia tăng vào năm 2010.
3.3. Các giải pháp và kiến nghị
Xây dựng phương án đài tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, từng bước
đào tạo đội ngũ cán bộ tư vấn có chuyên môn sâu, giỏi về nghiệp vụ, có chất lượng
để đáp ứng nhu cầu thị trường hiện tại cũng như tương lai.
Nâng cao năng lực tài chính cũng như thực hiện việc quản trị công ty theo
thông lệ quốc tế tốt nhất. Nâng cao khả năng giám sát/kiểm soát nội bộ và hiệu quả
tác nghiệp của cty chứng khoán.
Hoàn thiện và đổi mới hạ tầng công nghệ của các CTCK nhằm tăng cường
khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư
Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, cung cấp các sản phẩm công cụ tài
chính nhằm thu hút người đầu tư như: option, future, rút ngắn thời hạn thanh toán
giao dịch T+0, kéo dài thời hạn giao dịch. Cung cấp các sản phẩm dịch vụ mang
tính chất trọn gói như: tư vấn chứng khoán kết hợp với môi giới giao dịch.

Sử dụng hiệu quả hơn các công cụ tiếp thị để quảng bá hình ảnh công ty cho
công chúng.
Nâng cao chất lượng trong hệ thống phân phối hiện tại.
Thị trường tài chính
20
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
Phát triển, mở rộng hệ thống phân phối, đặc biệt chú ý đến sự thuận tiện cho
khách hàng. Đồng thời cần nghiên cứu kỹ khu vực có tiềm năng phát triển về dịch
vụ chứng khoán để có thể đón đầu thị trường.
Năm 2009 qua đi, kết thúc một năm thử thách của nền kinh tế do suy thoái
toàn cầu. Cũng như mọi ngành nghề khác, các CTCK đều có những khó khăn và
thuận lợi riêng. Nhưng nhìn tổng thể, các chính sách của Nhà nước, của cơ quan
quản lý đã tác động tích cực đến TTCK nói chung và CTCK nói riêng.
Một là, các gói kích cầu kinh tế và hỗ trợ lãi suất đã kích thích sản xuất, thúc
đẩy kinh tế phát triển. Việc lùi đánh thuế thu nhập cá nhân đối với đầu tư kinh
doanh chứng khoán cũng là sự hỗ trợ mạnh mẽ.
Hai là, UBCK đã có những đối sách tích cực như nới biên độ giao dịch, quy
định chặt chẽ hơn việc thành lập CTCK, công ty quản lý quỹ, xử lý phí nói chung
và giảm phí giao dịch cho các CTCK và NĐT
Ba là, các CTCK đã nhìn nhận đầy đủ hơn trách nhiệm của mình trước công
chúng đầu tư. Sự liên kết giữa các CTCK, nhất là những CTCK hội viên VASB đã
gắn bó hơn, thiết thực hơn.
Tuy nhiên, chúng ta cũng nhìn thấy những khó khăn về phía chính sách khi
một số nghiệp vụ thúc đẩy thị trường chưa được triển khai, một số rào cản chưa
được gỡ bỏ như: chủ trương cho NĐT được mở nhiều tài khoản vẫn đang trong thời
gian dự thảo; thuế thu nhập từ kinh doanh chứng khoán vẫn là vấn đề khiến nhiều
NĐT e ngại; hệ thống công nghệ của các CTCK thiếu sự đồng nhất, tình trạng
mạnh ai nấy làm, gây nhiều tốn kém; sự hỗ trợ TTCK của Chính phủ chưa mạnh
mẽ.
Đặc biệt là mối quan hệ giữa các ngành tài chính - ngân hàng - chứng khoán

thiếu sự phối hợp đồng bộ. Một số thủ tục còn gây phiền hà. Nếu các cơ quan quản
lý hỗ trợ thêm cho TTCK thì thị trường sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.
Năm 2008 và 2009 có nhiều khó khăn, nhưng chưa thấy một CTCK nào
tuyên bố phá sản hay sáp nhập. Chúng ta có thể tin rằng, năm 2010, với sự phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế và sự hỗ trợ về chính sách của cơ quan quản lý, các
CTCK sẽ vững vàng và chuyên nghiệp hơn.
Thị trường tài chính
21
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
KẾT LUẬN
Với mong muốn được nghiên cứu về Hoạt động của công ty chứng khoán
mà điển hình là các công ty chứng khoán trên thị trường Việt Nam, là một đề tài
tuy không mới nhưng mang tính hiện thực và đang rất cần thiết trong điều kiện phát
triển của thị trường tài chính ở nhức ta trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù có nhiều
cố gắng, nhưng vì trình độ và thời gian có hạn, nên tiểu luận khó tránh khỏi những
thiếu sót về nội dung và hình thức. Nhóm chúng em rất mong được sự góp ý của
quý thầy và các bạn lớp NH đêm 4 - K19 để những kiến thức trên được hoàn chỉnh
hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Thị trường tài chính
22
Đề tài: Công ty chứng khoán Nhóm 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình thị trường tài chính – Thị trường chứng khoán - PGS.TS Bùi
Kim Yến.
Thị trường tài chính – PGS.TS Lê Văn Tề & ThS Huỳnh Hương Thảo.
Phân tích Thị trường tài chính - PGS.TS Lê Văn Tề & TS Lê Thẩm Dương.
Báo cáo thường niên FPTS 2009.
/> /> /> /> Thị trường tài chính
23

×