Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Bảo lưu trật tự công cộng trong tư pháp quốc tế. Lý luận và thực tiễn tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (124.47 KB, 10 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Với mục đích điều chỉnh các quan hệ luật tư có tính chất quốc tế (quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài), việc áp dụng các quy phạm của tư pháp quốc
tế đã gây nhiều khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền đặc biệt là việc phải
áp dụng các quy phạm xung đột theo yêu cầu thực tiễn. Do tính chất phức tạp
của các quy phạm này, đặc biệt là trong trường hợp phải áp dụng pháp luật
nước ngoài theo sự dẫn chiếu của các quy phạm xung đột làm sao khi áp dụng
phải đảm bảo cân bằng giữa lợi ích quốc gia và các lợi ích quốc tế. Đặc biệt
trong trường hợp pháp luật nước ngoài có nội dung trái với các qui định của
pháp luật, xâm phạm những lợi ích, đường lối mà nhà nước có tòa án giải
quyết đang bảo vệ, nói cách khác pháp luật nước ngoài trái trật tự công của
quốc gia có tòa án giải quyết vụ việc.
Vấn đề này trong lĩnh vực tư pháp quốc tế được gọi là “bảo lưu trật tự
công cộng” – một trường hợp ngoại lệ khi tòa án áp dụng các quy phạm xung
đột trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Nhóm chúng em xin được trình bày một số ý kiến về vấn đề: “Bảo lưu
trật tự công cộng trong tư pháp quốc tế. Lý luận và thực tiễn tại Việt Nam”
trong bài viết dưới đây. Do kiến thức còn hạn chế nên bài viết không tránh
khỏi những sai sót. Chúng em rất mong nhận được những ý kiến đánh giá của
thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Page 1 of 10
1. Khái niệm bảo lưu trật tự công cộng trong tư pháp quốc tế ở Việt Nam
Khái niệm “Trật tự công” (public policy) hay (public order) là một
thuật ngữ pháp lý có nội hàm hết sức trừu tượng, phức tạp. Tuy nhiên, thuật
ngữ này lại được sử dụng khá phổ biến trong hệ thống pháp luật của các quốc
gia. Trên thực tế, mỗi quốc gia xuất phát từ những lợi ích, đường lối phát triển
khác nhau trong việc bảo vệ những giá trị nền tảng của mình nên khái niệm
“Trật tự công’’ cũng mang màu sắc quốc gia.
Trong tư pháp quốc tế, vấn đề bảo lưu trật tự công được sử dụng “ khi
cơ quan có thẩm quyền sử dụng các quy phạm xung đột của quốc gia dẫn


chiếu đến pháp luật nước ngoài, nhưng không áp dụng hệ thống pháp luật
nước ngoài đó (mà trên thực tế đáng lẽ sẽ được áp dụng), hoặc không thừa
nhận hiệu lực phán quyết của toà án nước ngoài, do phán quyết đó làm phát
sinh một tình thế trái với các nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật của
mình hoặc nếu xét thấy việc áp dụng pháp luật nước ngoài là vi phạm các quy
định có tính chất thiết lập nền tảng chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội của quốc
gia mình, nhằm bảo vệ trật tự công quốc gia”
1
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước đều có các quy định
liên quan đến việc bảo vệ trật tự công, đặc biệt vấn đề này được sử dụng khá
phổ biến trong tư pháp quốc tế, khi cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng pháp
luật nước ngoài. Tuy nhiên, trong đa số các văn bản pháp luật Việt Nam, khái
niệm “trật tự công cộng” rất ít được sử dụng, mà thay vào đó nhà lập pháp
Việt Nam thiên về sử dụng thuật ngữ “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam”. Đây là một điểm khác biệt với các văn bản pháp luật trước đây, vì
hầu hết các vản bản pháp luật trước đây (Bộ luật hàng hải 1990, Luật hàng
không dân dụng 1991, Luật thương mại 1997…) sử dụng thuật ngữ “không
trái với pháp luật Việt Nam” hoặc “không trái với trật tự và lợi ích công cộng
của Việt Nam”. Nếu quy định như cũ thì hầu như trong hầu hết các trường
hợp pháp luật nước ngoài sẽ không được áp dụng tại Việt Nam, do các quy
1
Từ điển “ thuật ngữ pháp lý” – Lexique des termes juridique, Nhà xuất bản Dalloz, xuất bản lần thứ 13 năm
200,1 tr 392.
Page 2 of 10
định cụ thể của pháp luật Việt Nam là rất phổ biến, trong khi đó không phải
tất cả các quy định cụ thể đều có tính chất bảo lưu trật tự công cộng. Vì thế,
để pháp luật nước ngoài được áp dụng tại Việt Nam, việc xác định rõ là
“không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phù hợp với
thực tiễn và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ thể tham gia các quan hệ
xã hội nói chung và các quan hệ có yếu tố nước ngoài nói riêng.

Có thể thấy, trong pháp luật Việt Nam, hai khái niệm “trật tự công
cộng” và “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật” được sử dụng với ý nghĩa
dường như là một. Có thể hiểu các nhà lập pháp Việt Nam muốn sử dụng một
thuật ngữ rõ ràng hơn, phù hợp với trình độ hiểu biết của xã hội hơn. Tuy
nhiên theo một số tác giả và đặc biệt là tác giả Đặng Hoàng Oanh có bình
luận về vấn đề này thì:
“…cho đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam chưa hề có một văn bản
pháp luật, một tài liệu pháp lý hay một thực tiễn xét xử nào đưa ra định nghĩa
về “những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Một số đạo luật lớn
như Bộ Luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Thương mại… có đưa ra một số
nguyên tắc chung, nhưng chỉ có tính chất đặc thù dành để áp dụng cho riêng
cho Bộ luật hay đạo luật đó mà thôi. Rõ ràng là không thể tìm được “những
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” bằng cách cộng dồn những
nguyên tắc đặc thù đã được quy định trong từng đạo luật riêng lẻ hiện nay”.
1
Như vậy, việc sử dụng thuật ngữ “trật tự công” hay “các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật” trong pháp luật Việt Nam cho đến nay cũng vẫn được hiểu
chung chung, trừu tượng và hệ quả là việc hiểu và giải thích chúng trên thực
tế chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các cơ quan áp dụng pháp luật trong
mỗi tình huống pháp lý cụ thể.
Theo quan điểm trong Giáo trình tư pháp quốc tế của Trường Đại học
Luật Hà Nội hiện nay thì các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam được
1
Đặng Hoàng Oanh “ Những vấn đề tồn tại trong pháp luật và thực tiễn công nhận và thi hành tại Việt Nam
quyết định của trọng tài nước ngoài: Thử nhìn từ vụ việc TYCO”
Page 3 of 10
hiểu là hệ thống các nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và ở một số văn bản pháp luật khác.
Để hiểu rõ hơn khái niệm này, chúng ta sẽ tìm hiểu một ví dụ: Giả
định, khi đăng ký kết hôn cho trường hợp giữa một nữ công dân Việt Nam (A)

và nam công dân nước B (là một quốc gia hồi giáo, pháp luật nước B này còn
công nhận chế độ hôn nhân đa thê). Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam sẽ áp
dụng Điều 103 luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000 để xác định hệ
thống pháp luật được áp dụng để xem xét điều kiện kết hôn cho các bên. Theo
Điều 103 khoản 1, đoạn 1 thì nguyên tắc xác định hệ thống pháp luật được áp
dụng trong trường hợp này là nguyên tắc “Luật quốc tịch của của các bên”,
nghĩa là mỗi bên sẽ tuân thủ pháp luật nước mà họ có quốc tịch về điều kiện
kết hôn. Như vậy, nếu xét riêng quy định này (Điều 103 khoản 1 đoạn 1, có
tính chất là một quy phạm xung đột) thì khả năng quy phạm này sẽ dẫn chiếu
đến hệ thống pháp luật nước B để xem xét điều kiện kết hôn của B. Giả định
công dân B đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật nước B kể cả việc công
nhận anh B có quyền kết hôn đa thê. Trong tình huống này nếu áp dụng Điều
103 khoản 1 nói trên sẽ dẫn đến hậu quả là cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng
hệ thống pháp luật nước ngoài có nội dung vi phạm “các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam” (hay trật tự công Việt Nam) vì pháp luật hôn nhân
gia đình Việt Nam chỉ công nhận nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tại
Điều 9 của luật hôn nhân năm 2000. Và do vậy trong trư ờng hợp này cơ quan
có thẩm quyền có thể từ chối (hay loại bỏ) không áp dụng pháp luật nước
ngoài đó để bảo vệ trật tự công của Việt Nam.
2. Pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo lưu trật tự công cộng trong tư
pháp quốc tế
Hiện nay, vấn đề bảo lưu trật tự công cộng trong tư pháp quốc tế ở
Việt Nam được thể hiện ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, tuy nhiên, điển
hình là tại một số văn bản sau:
Page 4 of 10
• Bộ luật dân sự 2005: Theo Điều 759 khoản 3, 4 Bộ luật dân sự
2005 về nguyên tắc áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập
quán quốc tế trong tư pháp quốc tế quy định về việc pháp luật nước ngoài sẽ
được áp dụng trong trường hợp: Thứ nhất, “việc áp dụng” không trái với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; Thứ hai, “hậu quả của việc áp

dụng” không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; Thứ ba,
các bên có thỏa thuận và sự thỏa thuận đó cũng không được trái với quy định
của Bộ luật dân sự và văn bản pháp luật khác.
Tập quán quốc tế được áp dụng khi: Bộ luật dân sự và các văn bản
khác của nước ta hay các điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên, hợp đồng
dân sự giữa các bên không có quy định về vấn đề đó và “việc áp dụng” hoặc
“hậu quả của việc áp dụng” không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Do vậy, nếu trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì
pháp luật nước ngoài hay tập quán quốc tế sẽ không được áp dụng trong mọi
trường hợp.
• Luật Thương mại 2005: Tại Điều 5, khoản 2 Luật Thương mại
2005 quy định: “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài
được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thuơng mại quốc tế
nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thuơng mại quốc tế đó không trái với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.
Pháp luật nước ngoài hay tập quán thương mại quốc tế được áp dụng
khi thỏa mãn các điều kiện sau:
- Các bên có thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài;
- Pháp luật nước được chọn không trái với các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam.
Việc áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tê chỉ
dành cho trường hợp các bên trong giao dịch có thỏa thuận áp dụng luật đó.
Cũng giống như quy định tại Bộ luật dân sự, pháp luật nước ngoài cũng sẽ
Page 5 of 10

×