Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

Những giải pháp chủ yếu hoàn thiện quy trình kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán AASC thực hiện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (565.46 KB, 105 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Lời mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế thị trờng, dịch vụ kiểm toán đợc coi là một trong những
dịch vụ có tính chuyên nghiệp tơng đối cao và có ý nghĩa lớn trong việc tạo lập
môi trờng kinh doanh minh bạch và có hiệu quả. Tuy nhiên, các doanh nghiƯp
ViƯt Nam míi chØ thùc sù tiÕp cËn vµ sư dụng dịch vụ kiểm toán trong khoảng 15
năm trở lại đây.
Công ty dịch vụ t vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) là một trong hai
Công ty kiểm toán độc lập đầu tiên ra đời tại Việt Nam vào năm 1991. Với bề dày
kinh nghiệm lâu năm cùng sự nỗ lực không ngừng của Ban Giám đốc và toàn thể
cán bộ trong Công ty, AASC đà thực sự phát triển, đóng góp một phần đáng kể đối
với sự phát triển của ngành nghề kế toán, kiểm toán nói riêng và sự phát triển của
nền kinh tế đất nớc nói chung.
Chu trình bán hàng và thu tiền là một bộ phận có liên quan đến nhiều chỉ tiêu
trọng yếu trên Bảng cân đối kế toán cũng nh Báo cáo kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp, do đó kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền là một phần hành
kiểm toán quan trọng trong kiểm toán Báo cáo tài chính. Nhận thức đợc vai trò đó,
em đà lựa chọn đề tài: Những giải pháp chủ yếu hoàn thiện quy trình kiểm
toán chu trình bán hàng và thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công
ty dịch vụ t vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) thực hiện để nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích nghiên cứu đề tài này là nhằm tiếp cận lý luận về kiểm toán báo
cáo tài chính nói chung cũng nh kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền nói
riêng, mô tả thực tế kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền tại các khách hàng
do Công ty dịch vụ t vấn tài chính kế toán và kiểm toán AASC thực hiện, từ đó đa
ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện kiểm toán chu trình bán hàng và
thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính.


Nguyễn Thị Thanh Diệp

1

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu của đề tài: Là lý luận về kiểm toán báo cáo tài chính,
kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính và thực
tiễn hoạt động kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền tại Công ty dịch vụ t vấn
tài chính kế toán và kiểm toán AASC.
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Em đà nghiên cứu đề tài này trong thời gian thực
tập 4 tháng tại Công ty dịch vụ t vấn tài chính kế toán và kiểm toán AASC và thực
tiễn hoạt động kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền tại hai khách hàng ABC và
XYZ.
Phơng pháp nghiên cứu:
Đề tài đợc nghiên cứu bằng nhiều phơng pháp khác nhau nh: Duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, khảo sát thực tiễn
Kết cấu đề tài:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chơng:
Chơng I:

Lý luận chung về kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền trong
kiểm toán tài chính.

Chơng II:


Thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền do Công ty
AASC thực hiện.

Chơng III:

Phơng hớng và giải pháp hoàn thiện kiểm toán chu trình bán
hàng và thu tiền trong kiểm toán tài chính tại AASC.

Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lÃnh đạo Công ty dịch vụ t vấn tài chính kế toán
và kiểm toán AASC và các anh chị phòng Đào tạo và Hợp tác quốc tế đà chỉ bảo và
giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại Công ty. Đồng thời em cũng xin chân thành
cảm ơn Tiến sỹ Đinh Trọng Hanh đà nhiệt tình hớng dẫn em hoàn thành Luận văn
này. Em mong nhận đợc ý kiến đóng góp từ các Thầy, Cô giáo cùng toàn thể các
bạn để Luận văn hoàn thiện hơn!

Nguyễn Thị Thanh Diệp

2

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Ch¬ng I: Lý luận chung về kiểm toán chu trình
bán hàng và thu tiền trong kiểm toán
báo cáo tài chính
1.1. Khái quát nội dung và những đặc điểm trong quản lý
chu trình bán hàng và thu tiền của doanh nghiệp


1.1.1. Đặc điểm của chu trình bán hàng và thu tiền
Trong bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào kể cả doanh nghiệp sản xuất
hay doanh nghiệp dịch vụ thơng mại thì bán hàng và thu tiền cũng là một giai
đoạn có vai trò quan träng. Chu kú kinh doanh cđa mét doanh nghiƯp thờng bắt
đầu từ khi doanh nghiệp góp vốn, có thể bằng vốn tự có, vốn góp liên doanh, vốn
đi vay để bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh và giai đoạn cuối cùng của chu
kỳ kinh doanh đó là quá trình tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm có đợc tiêu thụ, doanh
nghiệp thu lại đợc vốn kinh doanh đà bỏ ra mới có thể tiếp tục quay vòng và bắt
đầu chu kỳ kinh doanh mới. Quá trình đó diễn ra liên tục, đều đặn, bất kỳ sự gián
đoạn trong khâu nào cũng ảnh hởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Bán hàng và thu tiền là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu của hàng hoá qua
quá trình trao đổi hàng tiền (giữa khách thể kiểm toán với khách hàng của họ).
Hàng hoá là những tài sản hay dịch vụ có giá trị và có thể bán đợc và tiền tệ là phơng tiện thanh toán. Quá trình tiêu thụ đợc thực hiện khi hàng hoá và dịch vụ đà đợc chuyển giao cho ngời mua và đợc ngời mua chấp nhận thanh toán. Bán hàng
thu tiền là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ. Thông qua giai đoạn này doanh nghiệp mới thu hồi đợc vốn đà bỏ ra đồng
thời thu đợc lợi nhuận để tái sản xuất và ngày càng tăng quy mô sản xuất kinh
doanh. Kết quả của chu trình bán hàng và thu tiền không chỉ phản ánh riêng kết
quả của chu trình mà còn phản ánh kết quả của toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Việc thực hiện tốt quá trình này sẽ đẩy mạnh các khâu

Nguyễn Thị Thanh Diệp

3

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368


kh¸c trong chu trình kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần mở rộng quy mô sản
xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng
Để có thể hiểu về chu trình này phục vụ cho mục đích kiểm toán thì kiểm
toán viên cần nắm đợc các đặc điểm của chu trình:
- Các nghiệp vụ về bán hàng thu tiền liên quan tới các đối tợng bên ngoài
doanh nghiệp .
- Chịu ảnh hởng của quy luật cung cầu trên thị trờng.
- Mật độ phát sinh các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền là tơng đối lớn.
- Các chỉ tiêu liên quan tới chu trình dễ bị phản ánh sai lệch.
- Các quan hệ thanh toán thờng phức tạp liên quan tíi viƯc chiÕm dơng vèn
cịng nh viƯc lËp dù phßng phải thu khó đòi thờng bị lợi dụng để ghi tăng chi phí
rất khó kiểm soát.
- Rủi ro đối với các khoản mục trong chu kỳ xảy ra theo những chiều hớng
khác nhau, có thể bị ghi tăng hay ghi giảm theo ý đồ của doanh nghiệp.
Do tính phức tạp của chu trình cho nên việc kiểm toán chu trình bán hàng
thu tiền tơng đối tốn kém và mất thời gian. Kiểm toán viên cần phải xem xét về
các đặc điểm trên cũng nh ảnh hởng của nó tới quá trình thực hiện kiểm toán.
Thông thờng, với một số doanh nghiệp, những biểu hiện cụ thể của mỗi chức
năng và bộ phận đảm nhiệm chức năng đó có khác nhau song chung nhất, chu
trình bán hàng - thu tiền đều bao gồm các chức năng chính sau:
* Xử lý đơn đặt hàng của khách hàng:
Có thể xem đây là điểm bắt đầu của toàn bộ chu trình. Về pháp lý, đó là việc
bày tỏ sự sẵn sàng mua hàng hoá theo những điều kiện xác định. Khi nhận đợc đơn
đặt hàng của khách hàng gửi đến thì doanh nghiệp phải xem xét có chấp nhận việc
cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng không. Việc chấp nhận hay không phụ
thuộc vào nhu cầu hàng hoá của khách hàng và khả năng cung cấp của doanh nghiệp
cũng nh các yếu tố về giá cả, phơng thức thanh toán
* Xét duyệt bán chịu:
Do bán hàng gắn liền với thu tiền trong cùng một khái niệm tiêu thụ nên
ngay từ thoả thuận ban đầu, sau khi quyết định bán cần xem xét và quyết định bán


Nguyễn Thị Thanh Diệp

4

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

chịu một phần hoặc toàn bộ lô hàng. Đối với phơng thức bán chịu cho khách hàng
sẽ đợc chuyển đi sau khi có sù phª chn cđa ngêi cã thÈm qun trong doanh
nghiƯp.
* Chuyển giao hàng:
Đây là chức năng kế tiếp chức năng duyệt bán. Vào lúc giao hàng chứng từ
vận chuyển cũng đợc lập. Chứng từ vận chuyển thờng là hoá đơn vận chuyển hay
vận đơn.
* Gửi hoá đơn tính tiền cho ngời mua và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng:
Hoá đơn bán hàng là chứng từ chỉ rõ mẫu mÃ, số lợng hàng hoá, giá cả hàng
hoá gồm cả giá gốc hàng hoá, chi phí vận chuyển, bảo hiểm và các yếu tố khác
theo luật thuế giá trị gia tăng. Hoá đơn phải đợc lập ngay sau khi giao hàng, hoá
đơn là phơng thức chỉ rõ cho khách hàng số tiền và thời hạn thanh toán đồng thời
là căn cứ ghi sổ nhật ký bán hàng và theo dõi các khoản phải thu.
* Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền:
Sau khi thực hiện các chức năng về bán hàng cùng ghi sổ kế toán các nghiệp
vụ này cần thực hiện tiếp các chức năng thu tiền cả trong điều kiện bình thờng và
không bình thờng. Trong mọi trờng hợp đều cần xử lý và ghi sổ các khoản thông
thờng về thu tiền bán hàng.
* Xử lý và ghi sổ hàng bán bị trả lại và các khoản bớt giá:
Các kho¶n gi¶m trõ doanh thu x¶y ra khi ngêi mua không thoả mÃn về hàng

hoá. Các khoản này cần đợc phê chuẩn đúng đắn bởi ngời có thẩm quyền và phải
đợc ghi sổ kế toán một cách chính xác và nhanh chóng.
* Dự phòng nợ khó đòi và xoá sổ các khoản phải thu không thu hồi đợc:
Dự phòng nợ khó đòi đợc lập với yêu cầu đủ trang trải các khoản đà tiêu thụ
kỳ này song không có khả năng thu đợc cả trong tơng lai. Trớc khi khoá sổ tài
khoản và chuẩn bị lập báo cáo tài chính phải tiến hành đánh giá phí tồn kho cho
các khoản phải thu không có khả năng thu hồi đợc qua đó tiến hành lập dự phòng
cho các khoản đó. Còn những khoản không thể thu hồi đợc thì phải thực hiện xoá
sổ kế toán.

Nguyễn Thị Thanh Diệp

5

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

1.1.2. KiĨm so¸t nội bộ trong chu trình bán hàng và thu tiền
Trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, chức năng kiểm tra kiểm soát luôn
giữ vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và đợc thực hiện bởi hệ thống kiểm
soát nội bộ của doanh nghiệp.
Các quá trình kiểm soát trong một doanh nghiệp đợc thiết kế nhằm ngăn
ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lÃng phí trong hoạt động
và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp.
Bán hàng và thu tiền là quá trình chuyển quyền sở hữu hàng hoá - tiền tệ giữa
ngời mua và ngời bán, gắn với lợi ích kinh tế và trách nhiệm pháp lý của mỗi bên
nên công việc kiểm soát nội bộ cần đợc thực hiện chặt chẽ. Công việc kiểm soát
nội bộ chủ yếu thờng bao gồm:

* Sự đồng bộ của sổ sách:
Đòi hỏi hệ thống kế toán từ chứng từ đến sổ kế toán và bảng tổng hợp có tác
dụng kiểm soát tối đa các nghiệp vụ. Với mọi đơn vị, khung pháp lý về kế toán là
nh nhau tuy nhiên mỗi doanh nghiệp lại có thể lựa chọn các hình thức kế toán
khác nhau do đó trình tự kế toán cụ thể cũng khác nhau. Bên cạnh đó, mọi văn bản
pháp lý chỉ là khung tối thiểu còn thực tế của mỗi đơn vị lại rất đa dạng cho nên
mỗi đơn vị cần định sẵn trình tự cụ thể tơng ứng với hệ thống sổ sách tạo thành
yếu tố kiểm soát có hiệu lực.
* Việc đánh số thứ tự các chứng từ:
Doanh nghiệp sử dụng chứng từ có đánh số trớc theo thứ tự liên tục có tác
dụng vừa đề phòng bỏ sót, giấu diếm, vừa tránh trùng lặp các khoản phải thu, các
khoản ghi sổ bán hàng. Việc đánh số trớc phải có mục đích rõ ràng kèm theo việc
tổ chức hợp lý theo hớng tích cực để đạt mục đích đó.
* Lập bảng cân đối thanh toán tiền hàng và gưi cho ngêi mua:
C¸c doanh nghiƯp cã nghiƯp vơ b¸n hàng và thu tiền có quy mô lớn, thông thờng hàng tháng có tổng hợp và lập bảng cân đối giữa giá trị hàng bán với các khoản
đà thu tiền, các khoản phải thu để kiểm soát công việc bán hàng và thu tiền.
Do các bảng cân đối này có liên quan đến ngời mua cho nên cần gửi đến ngời
mua để thông báo, đồng thời xác nhận quan hệ mua bán đà phát sinh trong tháng.

Nguyễn Thị Thanh Diệp

6

Kiểm to¸n 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Để đảm bảo tính khách quan trong xác nhận, việc lập và gửi các bảng cân đối này
nên đợc thực hiện bởi ngời độc lập, không liên quan tới việc thu tiền hàng hay ghi

sổ bán hàng và thu tiền.
* Xét duyệt nghiệp vụ bán hàng:
Việc bán hàng thu tiền ngay cũng nh bán chịu cho khách hàng cần phải đợc
duyệt y cẩn trọng trớc khi bán hàng và hàng bán chỉ đợc vận chuyển sau khi duyệt
với đầy đủ chứng cứ (tài khoản, con dấu, chữ ký hợp pháp của bên mua) nhằm
ngăn ngừa tổn thất do vận chuyển hàng đến ngời mua ma hay ngời mua không
có điều kiện thanh toánGiá bán cũng phải đợc duyệt bao gồm cả chi phí vận
chuyển, bớt giá, giảm giá và điều kiện thanh toán nhằm tránh thất thu, kích thích
tăng thu cũng nh giải quyết hợp pháp và hiệu quả các quan hệ lợi ích giữa các bên
trong quan hệ mua bán.
* Nguyên tắc phân công phân nhiệm:
Đây là công việc trọng yếu trong kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa những sai
sót và gian lận trong kế toán nói chung và với lĩnh vực bán hàng thu tiền nói
riêng. Ví dụ, nếu sổ bán hàng với sổ thu tiền đợc hai kế toán theo dõi độc lập nhau
và sổ thu tiền có ngời kiểm soát độc lập, đối chiếu định kỳ với Sổ cái, với Sổ quỹ
sẽ tạo ra sự kiểm tra chéo, tăng độ tin cậy của thông tin. Mặt khác, để ngăn ngừa
gian lận, trong nhiều trờng hợp phải ngăn cách độc lập nơi làm việc của thủ quỹ
với những ngời ghi chép các Nhật ký bán hàng với Sổ quỹ. Đồng thời, giữa chức
năng bán hàng với chức năng duyệt bán chịu cũng cần phân cách để phòng ngừa
những tiêu cực có thể phát sinh trong khâu bán hàng và khả năng thất thu trong
khâu thanh toán.
* Tính ®éc lËp cđa ngêi kiĨm tra – kiĨm so¸t:
TÝnh ®éc lËp cđa ngêi kiĨm tra – kiĨm so¸t trong viƯc thực hiện trình tự
kiểm soát nội bộ là yếu tố chđ u trong viƯc ph¸t huy hiƯu lùc cđa kiĨm soát nội
bộ. Thông thờng, sử dụng kiểm toán viên nội bộ để kiểm soát việc xử lý và ghi sổ
các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền sẽ đảm bảo chất lợng kiểm soát và phục vụ tốt
cho việc thực hiện các mục tiêu kiểm toán.

Nguyễn Thị Thanh Diệp


7

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

1.1.3. Các loại chứng từ, sổ sách sử dụng và trình tự hạch toán đối với chu
trình bán hàng và thu tiền
Tổ chức kế toán bán hàng và thu tiền cũng giống nh các giai đoạn khác trong
chu kỳ kinh doanh của doanh nghiƯp bao gåm c¸c néi dung sau:
* Tỉ chøc chøng từ kế toán:
Quá trình thiết kế số lợng chứng từ, loại chứng từ và quy trình hạch toán trên
chứng từ tại doanh nghiệp. Sơ đồ tổ chức chứng từ kế toán trong chu trình bán
hàng và thu tiền:
Sơ đồ 1.1: Tổ chức chứng từ kế toán trong chu trình bán hàng và thu tiền

Bộ phận
cung ứng

Thủ trư
ởng, KTT

Bộ phận
quản lý
hàng

Nhu cầu bán
hàng: Đơn đặt
hàng


Kế toán
thanh toán

Lưu trữ, bảo
quản chứng từ

Lập chứng
từ bán
hàng: Hoá
đơn bán
hàng

Ký duyệt
hoá đơn,
phê duyệt
bán chịu

Giao nhận
hàng:
Phiếu xuất
kho, phiếu
biên
nhận

Ghi sổ và
theo dõi
thanh
toán: Sổ
doanh thu,

các khoản
phải thu

* Các tài khoản sử dụng:
TK 511: Doanh thu bán hàng
TK 512: Doanh thu bán hàng nội bộ
TK 521: Chiết khấu thơng mại
TK 531: Hàng bán bị trả lại
TK 532: Giảm giá hàng bán
TK 3387: Doanh thu cha thực hiện
TK 111: Tiền mặt
TK 112: Tiền gửi ngân hàng

Nguyễn Thị Thanh Diệp

8

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

TK 131: Ph¶i thu khách hàng
TK 139: Dự phòng phải thu khó đòi
TK 3331: Thuế VAT đầu ra
TK 004: Nợ khó đòi đà xư lý

* C¸c chøng tõ sỉ s¸ch sư dơng:
Chøng tõ sử dụng: đơn đặt hàng của khách hàng, hợp đồng kinh tế, hoá đơn bán
hàng hoặc hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, biên bản thanh lý hợp đồng kinh tế, biên bản

quyết toán cung cấp hàng hoá, dịch vụ, phiếu thu, giấy báo Có ngân hàng,
Sổ sách sử dụng: sổ Nhật ký bán hàng, sổ Nhật ký thu tiền, sổ Cái tài khoản
có liên quan (511, 131 641, 642, 155, 156), sổ chi tiết tài khoản liên quan
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hạch toán kế toán chu trình bán hàng và thu tiền
TK 911

TK 511
TK 333

Thuế TTĐB, thuế xuất
khẩu, thuế
GTGT trực tiếp phải nộp

TK 111, 112, 131...

Doanh thu bán hàng

TK 521, 531, 532
Kết chuyển các
khoản giảm trừ
doanh thu

Kết chuyển doanh thu thuần
để xác định kết quả
TK 33311
Thuế GTGT đầu ra phải nộp
(Phương pháp khấu trừ)

Nguyễn Thị Thanh Diệp


9

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

1.2. Tæng quan về kiểm toán báo cáo tài chính và vị trí của
kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền trong kiểm
toán báo cáo tài chính

1.2.1. Khái niệm, mục tiêu, đối tợng và phạm vi của kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trng nhất của kiểm toán bởi nó chứa
đựng đầy đủ sắc thái kiểm toán ngay từ khi ra đời cũng nh trong quá trình phát
triển. Đặc trng cơ bản đó của kiểm toán tài chính bắt nguồn từ chính đối tợng kiểm
toán tài chính và từ quan hệ chủ thể khách thể kiểm toán. Mối quan hệ giữa
kiểm toán tài chính với toàn bộ hệ thống kiểm toán là mối quan hệ giữa cái riêng
và cái chung, do vậy kiểm toán tài chính cũng có những đặc điểm riêng ngay trong
đặc điểm chung của kiểm toán, từ đặc điểm chung về mục tiêu, chức năng, đối tợng, phơng pháp đến tổ chức kiểm toán.
Đối tợng kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính trong đó bộ phận quan
trọng nhất là Báo cáo tài chính. Theo định nghĩa trong Chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam số 200: Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo đợc lập theo chuẩn mực và
chế độ kế toán hiện hành (hoặc đợc chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài
chính chủ yếu của đơn vị. Đây là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài
sản, nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng nh tình hình tài chính, kết quả kinh
doanh trong kú cđa doanh nghiƯp.
Chn mùc kiĨm to¸n qc tế ISA 200 và Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số
200 đà chỉ rõ: Mục tiêu của kiểm toán tài chính là giúp cho kiểm toán viên và
công ty kiểm toán đa ra ý kiến xác nhận rằng Báo cáo tài chính có đợc lập trên cơ
sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đợc chấp nhận), có tuân thủ pháp

luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu
hay không?.Mục tiêu kiểm toán còn giúp cho đơn vị đợc kiểm toán thấy rõ những
tồn tại, sai sót nhằm khắc phục và nâng cao chất lợng thông tin tài chính đơn vị.
1.2.2. Phơng pháp kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán tài chính là một hoạt động đặc trng và nằm trong hệ thống kiểm
toán nói chung. Cũng nh mọi loại hình kiểm toán khác, để thực hiện chức năng

Nguyễn Thị Thanh Diệp

10

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính cũng sử dụng các phơng pháp kiểm
toán chứng từ (kiểm toán cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu lôgíc) và kiểm toán
ngoài chứng từ (kiểm kê, thực nghiệm, điều tra). Tuy nhiên, do mỗi loại kiểm toán
có chức năng cụ thể khác nhau, đối tợng cụ thể khác nhau và quan hệ chủ thể,
khách thể kiểm toán khác nhau nên trong kiểm toán tài chính, cách thức kết hợp
các phơng pháp cơ bản trên cũng có những điểm đặc thù.
Xét theo chức năng chung của kiểm toán, kiểm toán tài chính hớng tới việc
bày tỏ các ý kiến trên cơ cở các bằng chứng kiểm toán. Để có đợc những bằng
chứng này, kiểm toán tài chính cần triển khai các phơng pháp cơ bản theo từng
tình huống cụ thể. Trong Chuẩn mực kiểm toán quốc tế 8500 và Chuẩn mực kiểm
toán Việt Nam số 500, những cách thức cụ thể này đợc gọi là phơng pháp thu thập
bằng chứng kiểm toán.
Ngoài ra, khi xét về đối tợng cụ thể của kiểm toán tài chính là các Báo cáo kế
toán và các Bảng tổng hợp tài chính khác, vừa chứa đựng những mối quan hệ kinh

tế tổng quát, vừa phản ánh cụ thể các khoản mục, kiểm toán tài chính phải hình
thành những trắc nghiệm với việc sử dụng liên hoàn các phơng pháp cơ bản để đa
ra ý kiến đúng đắn về các bảng tổng hợp này.
1.2.3. Khái quát quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực cho từng cuộc kiểm
toán cũng nh để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ
cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên Báo
cáo tài chính, cuộc kiểm toán thờng đợc tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn
nh sau:
- Giai đoạn I: Lập kế hoạch, thiết kế phơng pháp kiểm toán.
- Giai đoạn II: Thực hiện kế hoạch kiểm toán.
- Giai đoạn III: Kết thúc kiểm toán, hoàn tất và công bố báo cáo.
1.2.3.1. Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà kiểm toán viên cần thực
hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng nh các điều

Nguyễn Thị Thanh Diệp

11

Kiểm to¸n 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

kiƯn cÇn thiÕt khác cho kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán có vai trò quan trọng, chi
phối tới chất lợng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán. Kế hoạch kiểm
toán giúp kiểm toán viên thu thập đợc các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá
trị làm cơ sở ®Ĩ ®a ra c¸c ý kiÕn x¸c ®¸ng vỊ c¸c Báo cáo tài chính, giúp kiểm toán
viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng nh với các bộ phận có liên quan nh kiểm

toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoàiKế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ
để Công ty kiểm toán tránh xảy ra bất đồng với khách hàng đồng thời cũng là căn
cứ để kiểm toán viên có thể kiểm soát và đánh giá chất lợng công việc kiểm toán
đà và đang thực hiện, góp phần nâng cao chất lợng và hiệu quả của cuộc kiểm
toán. Theo đó, việc lập kế hoạch kiểm toán thờng đợc triển khai qua các bớc chi
tiết sau:
Chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán đợc bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán thu
nhận một khách hàng. Trên cơ sở đà xác định đợc đối tợng khách hàng có thể
phục vụ trong tơng lai, Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để
chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán,
nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và ký hợp
đồng kiểm toán.
* Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Kiểm toán viên phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng mới hay
tiếp tục một khách hàng cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt động của kiểm toán viên
hay làm hại uy tín của Công ty kiểm toán hay không? Kiểm toán viên cần tiến
hành các công việc:
-

Xem xét hệ thống kiểm soát chất lợng.

-

Tính liêm chính của Ban Giám đốc công ty khách hàng.

-

Liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm.


Điều cân nhắc cuối cùng nhng quan trọng nhất của kiểm toán viên khi đánh
giá có chấp nhận khách hàng hay không chính là việc xác định khả năng có thể
kiểm toán của khách hàng.
* Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng

Nguyễn Thị Thanh Diệp

12

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Thùc chÊt cña việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là
việc xác định ngời sử dụng Báo cáo tài chính và mục đích sử dụng của họ. Kiểm
toán viên có thể phỏng vấn trực tiếp Ban Giám đốc khách hàng hoặc dựa vào kinh
nghiệm của cuộc kiểm toán đà đợc thực hiện trớc đó.
Thông qua việc nhận diện các lý do kiểm toán của khách hàng, Công ty kiểm
toán cần ớc lợng quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán, từ đó lựa chọn đội ngũ
nhân viên thích hợp để thực hiện cuộc kiểm toán.
* Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán
Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích hợp cho cuộc kiểm toán không
chỉ hớng tới hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn tuân thủ các Chuẩn mực kiểm
toán chung đợc thừa nhận (GAAS). Chuẩn mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ
quá trình kiểm toán phải đợc thực hiện bởi một hoặc nhiều ngời đà đợc đào tạo
đầy đủ thành thạo nh một kiểm toán viên. Việc lựa chọn này đợc tiến hành trên
yêu cầu về số ngời, trình độ khả năng và yêu cầu chuyên môn kĩ thuật và thờng do
Ban Giám đốc Công ty kiểm toán trực tiếp chỉ đạo.
* Hợp đồng kiểm toán

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 210, Hợp đồng kiểm toán thì hợp
đồng kiểm toán phải đợc lập và ký chính thức trớc khi tiến hành công việc kiểm
toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và của Công ty kiểm toán. Hợp đồng
kiểm toán đợc ký kết giữa bên cung cấp dịch vụ kiểm toán và bên sử dụng dịch vụ
kiểm to¸n bao gåm c¸c néi dung chđ u sau:
- Mơc đích và phạm vi kiểm toán: Mục tiêu của cuộc kiểm toán là cái đích
cần đạt tới đồng thời là thớc đo kết quả của mỗi cuộc kiểm toán cụ thể. Phạm vi
kiểm toán là sự giới hạn về không gian, thời gian của đối tợng kiểm toán, thờng đợc xác định cùng với việc xác định mục tiêu của cuộc kiểm toán.
- Trách nhiệm Ban Giám đốc công ty khách hàng và kiểm toán viên: Ban
Giám đốc có trách nhiệm trong việc lập và trình bày trung thực các thông tin trên
Báo cáo tài chính, kiểm toán viên có trách nhiệm đa ra ý kiến độc lập về Báo cáo
tài chính dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán.

Nguyễn Thị Thanh Diệp

13

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- H×nh thøc thông báo kết quả kiểm toán: Kết quả kiểm toán thờng đợc biểu
hiện cụ thể dới một báo cáo kiểm toán và có kèm theo một th quản lí trong đó nêu
rõ những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc những gợi ý sửa chữa
những khiếm khuyết này.
- Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán: Thời gian nghiên cứu sơ bộ, thời gian
kiểm toán chính thức, thời gian kết thúc kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm
toán.
- Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán: Khẳng định

rằng kiểm toán viên không chịu trách nhiệm những sai sót do bản chất và hạn chế
vốn có của hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ.
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch
kiểm toán tổng quát. Trong giai đoạn này kiểm toán viên đánh giá khả năng có
những sai sót trọng yếu, đa ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và thực hiện thủ
tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và mở rộng
các thủ tục kiểm toán khác. Kiểm toán viên tiến hành thu thập các thông tin cần
thiết phục vụ cho cuộc kiểm toán thông qua:
- Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng
- Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trớc và hồ sơ kiểm toán chung.
- Tham qua nhà xởng.
- Nhận diện các bên hữu quan.
- Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài.
Những thông tin cơ sở đợc thu thập sẽ giúp cho kiểm toán viên hiểu đợc về
các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng. Kiểm toán viên cũng cần thu thập
các thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng để nắm bắt đợc các quy
trình mang tính pháp lý có ảnh hởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này.
Những thông tin này đợc thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban Giám đốc công
ty khách hàng bao gồm các loại sau:
- Giấy phép thành lập và Điều lệ công ty.
- Các Báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán. thanh tra hay kiểm tra của năm
hiện hành hay trong vài năm trớc.

Nguyễn Thị Thanh Diệp

14

Kiểm toán 44



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc.
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng.
Sau khi đà thu thập đợc các thông tin cơ sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý
của khách hàng, kiểm toán viên tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích đối với
các thông tin đà thu thập để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch về bản chất, thời gian và
nội dung các thủ tục kiểm toán sẽ đợc sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán.
Đánh giá trọng yếu và rủi ro
ở bớc này kiểm toán viên căn cứ vào các thông tin đà thu thập đợc để đánh
giá, nhận xét nhằm đa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
* Đánh giá tính trọng yếu:
Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay quy mô) và bản chất của các sai phạm
(kể cả bỏ sót) của các thông tin tài chính hoặc đơn lẻ, hoặc là từng nhóm mà trong
bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác
hoặc là sẽ rút ra kết luận sai lầm.
Kiểm toán viên phải đánh giá mức độ trọng yếu để ớc tính mức độ sai sót của
Báo cáo tài chính có thể chấp nhận đợc, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và
đánh giá ảnh hởng của các sai sót lên Báo cáo tài chính để từ đó xác định bản chất,
thời gian và phạm vi thực hiện các khảo sát (thử nghiệm) kiểm toán. Kiểm toán
viên cần đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ Báo cáo tài chính và phân bổ mức
đánh giá đó cho từng khoản mục trên Báo cáo tài chính.
- Ước lợng ban đầu về tính trọng yếu: Mức ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu
là lợng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ở mức đó các báo cáo tài chính có thể sai
lệch nhng vẫn cha ảnh hởng đến các quyết định của ngời sử dụng thông tin tài
chính. Nói cách khác đó chính là những sai sót có thể chấp nhận đợc đối với toàn
bộ báo cáo tài chính.
- Phân bổ ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục: Sau khi
kiểm toán viên đà có đợc ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ Báo cáo
tài chính, kiểm toán viên cần phân bổ mức ớc lợng này cho từng khoản mục trên

Báo cáo tài chính. Đó cũng chính là sai số có thể chấp nhận đợc đối với từng
khoản mục. Mục đích của việc phân bổ này là để giúp kiểm toán viên xác định đ-

Nguyễn Thị Thanh Diệp

15

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

ỵc sè lỵng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối víi tõng kho¶n mơc
ë møc chi phÝ thÊp nhÊt cã thể mà vẫn đảm bảo tổng hợp các sai sót trên Báo cáo
tài chính không vợt quá mức ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu. Cơ sở để tiến hành
phân bổ là: bản chất của các khoản mục, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đợc
đánh giá sơ bộ đối với các khoản mục, kinh nghiệm kiểm toán của kiểm toán viên
và chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục.
* Đánh giá rủi ro:
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400, Đánh giá rủi ro và kiểm soát
nội bộ, rủi ro kiểm toán (AR) là rủi ro do Công ty kiểm toán và kiểm toán viên đa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi Báo cáo tài chính đà đợc kiểm toán còn
có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gåm ba bé phËn: rđi ro tiỊm
tµng, rđi ro kiĨm soát và rủi ro phát hiện.
- Rủi ro tiềm tàng (IR): là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong
Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc
dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên dựa vào các yếu tố ảnh hởng:
Bản chất kinh doanh của khách hàng, tính trung thực của Ban Giám đốc, kết quả
các lần kiểm toán trớc, hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài
hạn, các nghiệp vụ kinh tế không thờng xuyên, các ớc tính kế toán, qui mô của các

số d tài khoản
- Rủi ro kiểm soát (CR): là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ
thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động
không hiệu quả do đó đà không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này.
Rủi ro kiểm soát đợc kiểm toán viên đánh giá đối với từng khoản mục trên
Báo cáo tài chính thông qua việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách
hàng đối với khoản mục này.
- Rủi ro phát hiện (DR): là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trên Báo
cáo tài chính mà không đợc ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ
và cũng không đợc kiểm toán viên phát hiện trong quá trình kiểm toán.

Nguyễn Thị Thanh Diệp

16

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Rđi ro ph¸t hiện đợc xác định từ ba loại rủi ro: rủi ro kiểm toán mong muốn,
rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Vì ba loại rủi ro này thay đổi đối với từng
khoản mục trên Báo cáo tài chính nên rủi ro phát hiện và số lợng bằng chứng kiểm
toán cần thu thập cũng thay đổi theo đối với từng khoản mục.
* Mối quan hệ giữa trọng yếu và rđi ro kiĨm to¸n:
Theo Chn mùc kiĨm to¸n ViƯt Nam số 320, Tính trọng yếu trong kiểm
toán, mức độ trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ ngợc chiều nhau nghĩa
là nếu mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngợc lại. Kiểm
toán viên phải quan tâm đến mối quan hệ này khi xác định bản chất, thời gian và
phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần thực hiện.

Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh gi¸ rđi ro kiĨm so¸t
Theo Chn mùc kiĨm to¸n ViƯt Nam số 400, Đánh giá rủi ro và kiểm soát
nội bộ: Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cận
kiểm toán có hiệu quả. Kiểm toán viên đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và rủi
ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản trên
số d và nghiệp vụ của đơn vị.
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng: là tìm hiểu trên hai mặt
chủ yếu đó là thiết kế kiểm soát nội bộ bao gồm thiết kế về quy chế kiểm soát và
thiết kế về bộ máy kiểm soát, hoạt động liên tục và có hiệu lực của kiểm soát nội
bộ.
Đánh giá rủi ro kiĨm so¸t: Theo Chn mùc kiĨm to¸n ViƯt Nam sè 400, Đánh
giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, sau khi hiểu đợc hệ thống kế toán và kiểm soát nội
bộ, kiểm toán viên phải thực hiện đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát theo các cơ sở
dẫn liệu cho số d của mỗi tài khoản trọng yếu. Kiểm toán viên có thể đánh giá rủi ro
theo yếu tố định tính thấp, trung bình, cao hoặc tỷ lệ phần trăm.
Thiết kế chơng trình kiểm toán
Chơng trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán
cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các kiểm toán

Nguyễn Thị Thanh DiƯp

17

KiĨm to¸n 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368


viªn cịng nh dự kiến về những t liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập.
Trọng tâm của chơng trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thiết thực hiện
đối với từng khoản mục hay bộ phận đợc kiểm toán.
Chơng trình kiểm toán đợc thiết kế phù hợp sẽ đóng vai trò quan trọng cho
hiệu quả của cuộc kiểm toán. Góp phần sắp xếp một cách có kế hoạch các công
việc và nhân lực, đảm bảo sự phối hợp giữa các kiểm toán viên cũng nh hớng dẫn
chi tiết cho các kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán, là phơng tiện để chủ
nhiệm kiểm toán quản lý, giám sát cuộc kiểm toán và là bằng chứng chứng minh
cho các thủ tục kiểm toán đà thực hiện.
Chơng trình kiểm toán đợc thiết kế thành ba phần: trắc nghiệm công việc,
trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp số d. Việc thiết kế các loại hình trắc
nghiệm kiểm toán có những đặc trng riêng tuy nhiên đều bao gồm bốn nội dung:
xác định thủ tục kiểm toán, quy mô mẫu chọn, khoản mục đợc chọn và thời gian
thực hiện.
- Các thủ tục kiểm toán sử dụng: Là những hớng dẫn chi tiết về quá trình thu
thập một loại bằng chứng kiểm toán cá biệt ở một thời điểm nào đó khi tiến hành
kiểm toán.
- Quy mô mẫu chọn: Kiểm toán viên phải tiến hành chọn mẫu một cách khoa
học và hợp lý để chọn đợc mẫu có tính đại diện, đặc trng cho tổng thể.
- Khoản mục đợc chọn: Ngoài quy mô mẫu chọn phù hợp kiểm toán viên cần
phải lựa chọn đợc khoản mục có tính đại diện.
- Thời gian thực hiện: Xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc các thủ tục
kiểm toán đà đề ra.
1.2.3.2. Thực hiện kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phơng pháp kỹ thuật
kiểm toán thích ứng với đối tợng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm
toán. Là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chơng
trình kiểm toán nhằm đa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và hợp lý
của Báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy.
Thực hiện kiểm toán không chỉ là triển khai một cách máy móc kế hoạch đà vạch


Nguyễn Thị Thanh Diệp

18

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

ra, cịng kh«ng phải là quá trình thu thập một cách thụ động các bằng chứng kiểm
toán theo định hớng trong kế hoạch kiểm toán hoặc tràn lan theo diễn biến của thực
tế mà đó là một quá trình chủ động thực hiện các kế hoạch và chơng trình kiểm toán
kết hợp với khả năng của kiểm toán viên để có đợc những kết luận xác đáng về mức
độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính.
* Thực hiện thủ tục kiĨm so¸t:
Thư nghiƯm kiĨm so¸t (kiĨm tra hƯ thèng kiĨm soát) là việc kiểm tra để thu
thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ
thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ.
Thủ tục này chỉ đợc thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ với
đánh giá ban đầu là đơn vị đợc kiểm toán có hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động
có hiệu lực.
Các cách thức hay phơng pháp cụ thể đợc áp dơng trong kiĨm tra hƯ thèng
kiĨm so¸t néi bé bao gồm:
- Điều tra
- Phỏng vấn
- Thực hiện lại
- Kiểm tra từ đầu đến cuối
- Kiểm tra ngợc lại
Các biện pháp kỹ thuật để thu thập bằng chứng kiểm toán về thiết kế và hoạt

động của hệ thống kiểm soát nội bộ có thể đợc trình bày chi tiết hoặc khái quát
hơn.
* Thực hiện thủ tục phân tích:
Thủ tục phân tích hay quy trình phân tích là cách thức xem xét các mối quan
hệ kinh tế và xu hớng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết hợp
giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếu lôgíc, cân đốigiữa các trị số (bằng tiền) của
các chỉ tiêu hoặc của các bộ phận cấu thành chỉ tiêu.
Thủ tục phân tích giúp kiểm toán viên đánh giá khái quát tính hợp lý chung
của các xu hớng biến động và các quan hệ kinh tế đồng thời xác định phạm vi và

Nguyễn Thị Thanh Diệp

19

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

mức độ áp dụng các thử nghiệm khác qua đánh giá trên: nếu thđ tơc ph©n tÝch cho
thÊy biĨu hiƯn bÊt thêng vỊ mức biến động của một khoản mục hay một loại tài
sản hoặc về một quan hệ cụ thể thì kiểm toán viên sẽ thận trọng khi xác định mức
độ và phạm vi áp dụng các thử nghiệm khác.
Các thủ tục phân tích đợc kiểm toán viên sử dụng gồm:
- Kiểm tra tính hợp lý
- Phân tích ngang (phân tích xu hớng)
- Phân tích dọc
Thông thờng, thực hiện thủ tục phân tích phải trải qua những giai đoạn chủ yếu:
- Phát triển một mô hình
- Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ

- Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ
- Phân tích nguyên nhân chênh lệch
- Xem xét những phát hiện qua kiểm toán
* Thực hiện các thủ tơc kiĨm tra chi tiÕt:
KiĨm tra chi tiÕt lµ viƯc ¸p dơng c¸c biƯn ph¸p kü tht cơ thĨ cđa trắc
nghiệm tin cậy thuộc trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số d để kiểm
toán từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số d trên khoản mục hay loại nghiệp
vụ.
Các kỹ thuật cụ thể nh: so sánh, tính toán, xác nhận, kiểm tra thực tế và quan
sát, soát xét lại chứng từ, sổ sách.
Quá trình kiểm tra chi tiÕt gåm bèn bíc:
- LËp kÕ ho¹ch kiĨm tra chi tiết: bao gồm xác định mục tiêu của các biện
pháp kỹ thuật và lựa chọn các khoản mục trong tổng thể.
- Lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết.
- Lựa chọn khoản mục chính.
- Thực hiện các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản mục đà chọn.
- Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết.
- Xử lý chênh lệch kiểm toán.

Nguyễn Thị Thanh DiƯp

20

KiĨm to¸n 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

KiÓm tra chi tiết nghiệp vụ và số d là một phần của thử nghiệm áp dụng trong
kiểm toán tài chính. Khi kết quả của các thủ tục phân tích cho thấy hệ thống kiểm

soát nội bộ của khách hàng không đáng tin cậy thì kiểm toán viên phải tăng cờng
việc thực hiện kiĨm tra chi tiÕt. Tuy nhiªn, khi hƯ thèng kiĨm soát nội bộ hoạt
động có hiệu quả thì kiểm toán viên cũng không đợc bỏ qua kiểm tra chi tiết mà
vẫn phải tiến hành nhng với số lợng ít. Trên thực tế kiểm toán viên sẽ lựa chọn các
thử nghiệm cơ bản hay thử nghiệm kiểm soát hoặc kết hợp cả hai tuỳ từng trờng
hợp để có thể thu đợc bằng chứng kiểm toán đầy đủ và đáng tin cậy, đảm bảo chất
lợng cũng nh hiệu quả của cuộc kiểm toán.
1.2.3.3. Kết thúc kiểm toán
Sau khi kết thúc giai đoạn thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên sẽ hoàn tất
công việc kiểm toán thông qua việc xem xét kết quả các thử nghiệm đà thực hiện,
xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày lập Báo cáo tài chínhrồi đa ra kết luận
cuối cùng và lập Báo cáo kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính phải nêu rõ ý kiến của kiểm toán viên về
các Báo cáo tài chính đà thực hiện kiểm toán trên hai phơng diện: phản ánh trung
thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu các thông tin định lợng của Báo cáo tài
chính về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh và việc tuân thủ các chuẩn mực
và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đợc chấp nhận), cũng nh việc tuân thủ các quy
định pháp lý có liên quan đến hoạt động của đơn vị đợc kiểm toán.
Có bốn loại ý kiến mà kiểm toán viên có thể trình bày trên Báo cáo kiểm toán
về Báo cáo tài chính tuỳ thuộc vào kết quả của cuộc kiểm toán:
- ý kiến chấp nhận toàn phần
- ý kiến chấp nhận từng phần
- ý kiến từ chối
- ý kiến không chấp nhận (ý kiến trái ngợc)
* ý kiến chấp nhận toàn phần:
Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính đa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đợc
trình bày trong trờng hợp kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cho rằng Báo cáo

Nguyễn Thị Thanh Diệp


21

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tài chính phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài
chính của đơn vị đợc kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện
hành (hoặc đợc chấp nhận).
* ý kiến chấp nhận từng phần:
Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính đa ra ý kiến chấp nhận từng phần đợc
trình bày trong trờng hợp kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cho rằng Báo cáo
tài chính chỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình
tài chính của đơn vị, nếu không bị ảnh hởng bởi yếu tố tuỳ thuộc mà kiểm toán
viên đà nêu ra trong Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính.
* ý kiến từ chối:
ý kiến từ chối đợc đa ra trong trờng hợp hậu quả của việc giới hạn phạm vi
kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quan đến một số lợng lớn các
khoản mục tới mức mà kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ và thích hợp các
bằng chứng kiểm toán để có thể cho ý kiến về Báo cáo tài chÝnh.
* ý kiÕn kh«ng chÊp nhËn:
ý kiÕn kh«ng chÊp nhËn hay ý kiến trái ngợc đợc đa ra trong trờng hợp các
vấn đề không thống nhất với Giám đốc là quan trọng hoặc liên quan đến một số lợng lớn các khoản mục đến mức độ mà kiểm toán viên cho rằng ý kiến chấp nhận
từng phần là cha đủ ®Ĩ thĨ hiƯn tÝnh chÊt vµ møc ®é sai sãt trọng yếu của Báo cáo
tài chính.
1.2.4. Vị trí kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền trong kiểm toán báo
cáo tài chính
Quá trình kinh doanh là quá trình tái sản xuất và tạo ra lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là tiêu chí để đánh giá hiệu quả

hoạt động của doanh nghiệp. Xét cho cùng thì dù doanh nghiệp là đơn vị sản xuất
hay kinh doanh thơng mại thì chu trình bán hàng và thu tiền không thể thiếu và
đóng vai trò hết sức quan trọng.
Hơn thế nữa, chu trình bán hàng thu tiền liên quan đến nhiều chỉ tiêu trên
Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh. Đây là những chỉ tiêu cơ bản

Nguyễn Thị Thanh Diệp

22

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

mà những ngời quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp sử dụng để
đánh giá tình hình kinh doanh của doanh nghiệp do đó thờng bị phản ánh sai lệch.
Chính vì vậy, kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền là một bộ phận không thể
tách rời trong kiểm toán báo cáo tài chính.
1.3. Mục tiêu, đối tợng và phạm vi kiểm toán chu trình bán
hàng và thu tiền

Kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền cũng nh kiểm toán các chu trình
khác, cần xác định rõ phạm vi công việc và mục tiêu kiểm toán, qua đó có cơ sở
cho việc thu thập các bằng chứng kiểm toán để có thể đa ra ý kiến của mình về
Báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 đà nêu rõ: Mục tiêu của kiểm toán
tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến xác nhận
rằng Báo cáo tài chính có đợc lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện
hành (hoặc đợc chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung

thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?
Để tiến hành cuộc kiểm toán một cách có hiệu quả kiểm toán viên cần phải hiểu
đợc các xác nhận của Ban quản trị do các xác nhận này có mối quan hệ với mục tiêu
của kiểm toán. Đối với chu trình bán hàng thu tiền, các xác nhận đó bao gồm:
- Xác nhận về sự hiện hữu: Doanh thu ghi nhận trên Báo cáo tài chính phản
ánh quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ thực tế đà xảy ra, các khoản phải thu trên
Bảng cân đối kế toán là có thực vào ngày lập các cân đối kế toán.
- Xác nhận về tính đầy đủ: Tất cả doanh thu về hàng hoá, dịch vụ, các khoản
phải thu và đà thu đều đợc ghi sổ đầy đủ và đa vào Báo cáo tài chính.
- Xác nhận về quyền sở hữu: Hàng hoá và các khoản phải thu của doanh nghiệp
vào ngày lập Báo cáo tài chính đều thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
- Xác nhận về sự đánh giá và phân loại: Doanh thu và các khoản phải thu đợc
tính toán đúng đắn và đợc phân loại đúng bản chất, đối tợng.
- Xác nhận về sự trình bày: Doanh thu và các khoản phải thu đợc trình bày trung
thực và đúng đắn trên các báo cáo tài chính theo đúng hệ thống kế toán của doanh
nghiệp và theo các quy định của các chế độ, chuẩn mực kế toán hiện hành.

Nguyễn Thị Thanh Diệp

23

Kiểm toán 44


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Bên cạnh các xác nhận của Ban quản trị của doanh nghiệp thì các mục tiêu
chung và mục tiêu đặc thù của kiểm toán cũng cần phải đợc xem xét. Do chu trình
bán hàng thu tiền đợc cấu thành bởi các nghiệp vụ cụ thể và từ đó hình thành
các khoản mục trên các báo cáo tài chính nên các mục tiêu đặc thù của kiểm toán

bán hàng và thu tiền cần cụ thể hoá cả mục tiêu kiểm toán tài chính và mục tiêu
kiểm toán nghiệp vụ phù hợp với đặc điểm của phần hành kiểm toán này. Mặt
khác, mặc dù các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền có quan hệ chặt chẽ và tạo nên
chu trình xác định song mỗi loại nghiệp vụ này lại có yêu cầu riêng và phản ánh
cụ thể vào sổ kế toán riêng theo trình tự độc lập tơng đối. Do đó, mục tiêu đặc thù
cho các khoản mục, nghiệp vụ bán hàng và nghiệp vụ thu tiền cũng cần có định hớng cụ thể qua các mục tiêu kiểm toán đặc thù riêng biệt.
* Mục tiêu chung bao gồm:
- Mục tiêu hợp lý chung: Mục tiêu này giúp kiểm toán viên đánh giá số liệu về
các số d trên tài khoản phải thu khách hàng có hợp lý hay không dựa trên tất cả các
thông tin mà kiểm toán viên có đợc về công việc kinh doanh của khách hàng.
- Các mục tiêu chung khác:
+ Tính có căn cứ hợp lý: Số tiền ghi trên sổ và trên báo cáo tài chính thực sự
là số tiền phát sinh trong quá trình xảy ra nghiệp vụ bán hàng và các nghiệp vụ có
liên quan.
+ Tính đầy đủ: Mọi nghiệp vụ phát sinh đều đợc ghi sổ
+ Quyền sở hữu: Số tiền hoặc tài sản đợc ghi thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp tại ngày lập báo cáo tài chính.
+ Sự đánh giá: Tiền và tài sản của doanh nghiệp phải đợc đánh giá đúng với
giá trị hiện tại trên thị trờng và đợc ghi sổ chính xác, hợp lý.
+ Sự phân loại: Số tiền đợc ghi trên sổ phải đợc phản ánh đúng nội dung tài
khoản và các tài khoản phải đợc trình bày đúng đắn trên báo cáo tài chính.
+ Tính đúng kỳ: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều đợc ghi chép đúng thời
gian phát sinh nghiệp vụ.
* Mục tiêu đặc thù của chu trình bán hàng thu tiền:

Nguyễn Thị Thanh DiƯp

24

KiĨm to¸n 44



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- TÝnh cã căn cứ hợp lý: Hàng bán vận chuyển đến khách hàng và các khoản
phải thu khách hàng là có thật.
- Tính đầy đủ: Mọi nghiệp vụ bán hàng và mọi khoản phải thu khách hàng
đều đợc ghi sổ.
- Quyền sở hữu: Hàng hoá đà bán thuộc sở hữu của đơn vị và các khoản phải
thu có ngời sở hữu.
- Sự đánh giá: Hàng đà vận chuyển và có hoá đơn ghi giá bán đợc thoả thuận.
Các khoản phải thu đợc đánh giá đúng.
- Sự phân loại: Doanh thu phải đợc phân loại đúng đắn thành các loại doanh
thu bán ra và doanh thu nội bộ, doanh thu hàng bán bị trả lại, doanh thu nhận trớc Các khoản phải thu đợc phân loại đúng.
- Tính đúng kỳ: Doanh thu và các khoản phải thu khách hàng đợc ghi chép
đúng kỳ, không có hiện tợng ghi giảm doanh thu, ghi tăng các khoản phải thu và
ngợc lại.
- Trình bày và thể hiện: Doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu đợc trình
bày chính xác trên các báo cáo tài chính theo đúng chế độ.
Mục đích chung của cuộc kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền là đánh
giá xem liệu các số d tài khoản của chu trình này có đợc trình bày một cách trung
thực, phù hợp với nguyên tắc kế toán đợc thừa nhận hay không. Do đó, đối tợng
kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền chính là các khoản mục có liên quan đến
chu trình này.
1.4. Trình tự kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
trong kiểm toán báo cáo tài chính

Do chu trình bán hàng thu tiền có những khoản mục là yếu tố cấu thành
báo cáo tài chính nên khi tiến hành kiểm toán cũng phải tuân theo quy trình kiểm
toán chung của một cuộc kiểm toán để đảm bảo tính nhất quán.

Trình tự kiểm toán gồm các giai đoạn:
- Lập kế hoạch, thiết kế phơng pháp kiểm toán đối với chu trình bán hàng và
thu tiền
- Thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền

Nguyễn Thị Thanh DiƯp

25

KiĨm to¸n 44


×