Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (781.72 KB, 80 trang )

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ






PHẠM VĂN KHẢ






MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH HẢI DƢƠNG






LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH









Hà Nội - 2015
ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ




PHẠM VĂN KHẢ




MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH HẢI DƢƠNG


Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05


LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH




NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRƢƠNG MINH ĐỨC
XÁC NHẬN CỦA GVHD

XÁC NHẬN CỦA CHỦ
TỊCH HỘI ĐỒNG



Hà Nội - 2015
iii
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các bảng i
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ ii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU BHXH 6
1.1. Bản chất, vai trò và nội dung về thu BHXH 6
1.1.1. Khái niệm chung và các quan điểm về BHXH 6
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của công tác thu BHXH 14
1.1.3. Vai trò của BHXH và công tác thu BHXH trong nền
kinh tế thị trường 15
1.1.4. Những nội dung cơ bản của công tác thu BHXH 19
1.2. Quy định về đối tƣợng, mức thu, phân cấp tổ chức quản lý thu
và quy trình thực hiện công tác thu BHXH ở Việt Nam 23
1.2.1. Về đối tượng thu BHXH 23
1.2.2. Mức thu BHXH 24
1.2.3. Quy định về phân cấp tổ chức quản lý thu BHXH ở Việt Nam 27

1.2.4. Quy trình thực hiện công tác thu BHXH 28
1.3. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả thu BHXH 30
1.3.1. Yêu cầu của các tiêu chí đánh giá 30
1.3.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thu BHXH 30
1.4. Một số nhân tố tác động đến công tác thu BHXH 33
1.4.1. Chính sách tiền lương 33
1.4.2. Nguồn lực lao động 33
1.4.3. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế 34
1.4.4. Nhận thức của người lao động, người sử dụng lao động và xã hội . 34
iv
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU BHXH TẠI
BHXH TỈNH HẢI DƢƠNG GIAI ĐOẠN 2008 - 2012 36
2.1. Giới thiệu chung về BHXH tỉnh Hải Dƣơng 36
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của BHXH tỉnh Hải Dương 36
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của BHXH tỉnh Hải Dương 38
2.1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức của BHXH tỉnh Hải Dương 38
2.2. Đánh giá kết quả công tác thu BHXH tại BHXH tỉnh Hải Dƣơng
giai đoạn 2008 - 2012 42
2.2.1. Kết quả hoạt động chung của BHXH tỉnh Hải Dương 42
2.2.2. Kết quả công tác thu BHXH 45
2.2.3. Tình hình số lao động và số đơn vị tham gia BHXH 48
2.2.4. Đánh giá hiệu quả công tác thu BHXH tại Hải Dương. 49
2.3. Những vấn đề tồn tại, nguyên nhân 53
2.3.1. Những vấn đề tồn tại 53
2.3.2. Nguyên nhân tồn tại 56
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
THU BHXH TẠI BHXH TỈNH HẢI DƢƠNG 59
3.1. Mục tiêu, phƣơng hƣớng và nhiệm vụ công tác thu BHXH 59
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH 60
3.2.1. Giải pháp đối với hoạt động thu BHXH 60

3.2.2. Giải pháp đối với vấn đề nợ đọng BHXH 63
3.3. Kiến nghị 66
3.3.1. Kiến nghị đối với cơ chế, chính sách quản lý Nhà nước 66
3.3.2. Kiến nghị đối với cơ quan BHXH Việt Nam 68
3.3.3. Kiến nghị về chính sách quản lý của tỉnh Hải Dương 69
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Tt
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Kết quả công tác thu và cấp sổ BHXH, thẻ
BHYT tại tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn 2008 - 2012
42
2
Bảng 2.2
Kết quả thực hiện BHYT tự nguyện tại BHXH
tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn 2008 - 2012
44
3
Bảng 2.3
Kết quả thực hiện chi trả các chế độ BHXH,BHYT
tại tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn 2008 - 2012
44
4

Bảng 2.4
Kết quả chi khám chữa bệnh BHYT tại BHXH
tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn 2008 - 2012
45
5
Bảng 2.5
Kết quả thu BHXH tại BHXH tỉnh Hải Dƣơng
giai đoạn 2008 - 2012
46
6
Bảng 2.6
Số lƣợng lao động và số đơn vị tham gia BHXH
tại tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn 2008 - 2012
48
7
Bảng 2.7
Bảng tiền lƣơng tối thiểu giai đoạn từ năm 2008
- 2012
51
8
Bảng 2.8
Tình hình nợ BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh
Hải Dƣơng giai đoạn 2008-2012
55




i
vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Tt
Hình
Nội dung
Trang
1
Hình 2.1
Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức của Bảo hiểm xã
hội tỉnh Hải Dƣơng
41
2
Hình 2.2
Biểu đồ kết quả công tác thu và cấp sổ BHXH,
thẻ BHYT tại tỉnh Hải Dƣơng (2008 – 2012)
43
3
Hình 2.3
Biểu đồ số thực thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội
tỉnh Hải Dƣơng (2008-2012)
47
4
Hình 2.4
Biểu đồ nợ đọng BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh
Hải Dƣơng (2008 - 2012)
56













ii

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một phát kiến văn minh của nhân loại về
khoa học xã hội kết hợp với khoa học tự nhiên. BHXH ra đời cách đây hàng
trăm năm với mục đích là nhằm từng bƣớc mở rộng và nâng cao việc đảm bảo
vật chất, góp phần ổn định đời sống cho ngƣời lao động và gia đình họ khi
gặp các rủi ro xã hội xảy ra. Chính vì thế mà BHXH là một trong những chính
sách quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của mọi thế chế Nhà
nƣớc của các quốc gia trên thế giới.
Ở nƣớc ta, chính sách BHXH đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta quan tâm
thực hiện ngày từ sau Cách mạng tháng 8/1945 thành công, trải qua gần 70
năm hoạt động trong điều kiện nền kinh tế đất nƣớc luôn thay đổi và ngày
càng phát triển, thì việc thực hiện tốt các chế độ chính sách BHXH đúng với
mục tiêu của nó là đảm bảo an sinh xã hội đang đƣợc Đảng và Nhà nƣớc,
cũng nhƣ ngành BHXH hết sức quan tâm. Mà để thực hiện đƣợc điều đó thì
công tác thu BHXH là khâu đầu tiên luôn giữ vai trò xƣơng sống mấu chốt
của ngành BHXH, nó có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện các chế độ
chính sách BHXH và sự tồn tại, phát triển của ngành BHXH, bởi lẽ có thu
đúng, thu đủ, thu kịp thời thì ngƣời tham gia BHXH mới đƣợc chi trả và thụ

hƣởng các chế độ BHXH một cách nhanh chóng và đầy đủ.
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng là đơn vị trực thuộc Bảo hiểm xã hội
Việt Nam, đƣợc thành lập ngày 12/6/1995, có chức năng trực tiếp tổ chức
thực hiện các chế độ chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) trên địa bàn
tỉnh Hải Dƣơng theo quy định của pháp luật và quy định của Bảo hiểm xã hội
Việt Nam. Trong gần 20 năm qua, bằng sự nỗ lực phấn đấu thực hiện đƣờng
lối đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc về chính sách BHXH, Bảo hiểm xã hội

2
tỉnh Hải Dƣơng đã đạt đƣợc những thành tựu hết sức quan trọng đánh dấu sự
phát triển vững mạnh, nhƣ số đơn vị sử dụng lao động và số ngƣời lao động
tham gia BHXH, BHYT không ngừng tăng lên, do vậy nguồn thu BHXH
cũng tăng liên tục, đó chính là điều kiện tiên quyết đảm bảo thực hiện tốt các
chế độ BHXH đúng quy định. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt
đƣợc, công tác thu BHXH còn có những hạn chế cần đƣợc khắc phục, nhƣ
chƣa kiểm soát, khai thác hết số lao động phải tham gia BHXH, BHYT bắt
buộc, nhiều đơn vị sử dụng lao động vẫn gian lận trong việc đăng ký tham gia
BHXH cho ngƣời lao động, gian lận trong việc kê khai quỹ lƣơng đóng
BHXH; tình trạng chậm đóng, nợ đọng BHXH của các đơn vị sử dụng lao
động vẫn còn tồn tại Điều này đã làm cho công tác thu BHXH của Bảo
hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng vẫn chƣa đạt kết quả cao nhƣ mong muốn, ảnh
hƣởng đến quyền lợi của ngƣời lao động và nguồn thu cho quỹ BHXH.
Là một cán bộ viên chức đang công tác làm việc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh
Hải Dƣơng, sau khi theo học lớp Cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh
của trƣờng Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội và qua thực tế công tác
cho thấy đòi hỏi cần có sự nghiên cứu và đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động trong công tác thu BHXH tại cơ quan đơn vị mình. Đó là
việc làm cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, đó cũng chính
là lý do mà tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương” làm đề tài cho

luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, lĩnh vực hoạt động BHXH ở nƣớc ta đã đƣợc đề
cập nhiều trên sách báo, tạp chí và đã có nhiều công trình nghiên cứu về
BHXH nói chung, về công tác thu BHXH nói riêng, sau đây là một số công
trình tiêu biểu:

3
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về: “Thực trạng quản lý thu BHXH
hiện nay và các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu” do TS. Nguyễn
Văn Châu làm chủ nhiệm đề tài, bảo vệ năm 1996.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về: “Chiến lƣợc phát triển BHXH
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020” do TS. Nguyễn
Huy Ban làm chủ nhiệm đề tài, bảo vệ năm 1999.
- Ngoài ra cũng đã nhiều đề tài nghiên cứu về công tác quản lý thu - chi,
công tác quản lý tài chính, quản lý quỹ, công tác thu BHXH tại các cơ quan
BHXH các tỉnh thành trên cả nƣớc, trong đó có tỉnh Hải Dƣơng và các huyện,
thị xã, thành phố trên đại bàn tỉnh Hải Dƣơng.
Với nhiều góc độ khác nhau từ cách tiếp cận, mục tiêu, đối tƣợng, phạm
vi nghiên cứu một số đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện khi chƣa có Luật
BHXH, một số đề tài thực hiện trên phạm vi nghiên cứu rộng bao quát nhiều
nghiệp vụ chức năng, chứ chƣa nghiên cứu sâu đến một chức năng then chốt
đầu tiên của hoạt động BHXH là công tác thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh
Hải Dƣơng. Mặc dù vậy, các công trình đó vẫn là những tài liệu tham khảo rất
có giá trị trong việc thực hiện đề tài của tôi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Vận dụng và góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn
về công tác thu BHXH, để phân tích đánh giá thực trạng công tác thu BHXH
tại BHXH tỉnh Hải Dƣơng, từ đó đƣa ra các đề xuất giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả công tác thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng.

- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung vào một số
nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Tổng quan, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về công tác thu
BHXH; nghiên cứu nội dung, vai trò, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh
hƣởng đến công tác thu BHXH;

4
+ Phân tích, đánh giá thực trạng công tác thu bảo hiểm xã hội tại Bảo
hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 và xác định
những vấn đề cần giải quyết;
+ Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác thu bảo hiểm
xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng, nhằm đáp ứng những yêu cầu của
thời kỳ đổi mới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Công tác thu bảo hiểm xã hội.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu về một nghiệp vụ chức năng
của hoạt động bảo hiểm xã hội là công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012, còn
nghiệp vụ công tác thu BHXH tự nguyện không đề cập đến trong đề tài này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, ngoài các phƣơng pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử là những phƣơng pháp nghiên cứu khoa học nói chung,
luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực
tiễn; phƣơng pháp phân tích, tổng hợp; quy nạp, diễn dịch; phƣơng pháp
thống kê, so sánh trên cơ sở các số liệu báo cáo tổng kết về hoạt động của Bảo
hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng qua các năm để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên
cứu của luận văn, cụ thể các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết là các phƣơng pháp thu thập thông
tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các
thao tác tƣ duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết.

- Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn là phƣơng pháp nghiên cứu và xem
xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho
thực tiễn và khoa học.

5
- Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết là nghiên cứu các tài liệu,
lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu
sâu sắc về đối tƣợng. Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã
đƣợc phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ, sâu sắc về đối tƣợng.
- Phƣơng pháp quy nạp là phƣơng pháp nhận thức trong đó quá trình suy
luận từ cái riêng đến cái chung, từ những sự vật cá biệt tới nguyên lý phổ biến.
- Phƣơng pháp thống kê là hệ thống các phƣơng pháp dùng để thu thập,
xử lý và phân tích các con số (mặt lƣợng) của hiện tƣợng kinh tế-xã hội để
tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện
thời gian và không gian cụ thể.
6. Những đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần tổng quát, hệ thống hoá và làm rõ thêm những vấn
đề lý luận chung về công tác thu bảo hiểm xã hội; đồng thời làm rõ nội
dung, vai trò, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác
thu bảo hiểm xã hội;
- Đánh giá thực trạng kết quả công tác thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã
hội tỉnh Hải Dƣơng, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó;
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu bảo hiểm xã
hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng trong giai đoạn tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc bố cục thành 3 chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về thu bảo hiểm xã hội.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải
Dƣơng giai đoạn 2008 – 2012.

Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH tại
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng.

6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU BHXH
1.1. Bản chất, vai trò và nội dung về thu BHXH
1.1.1. Khái niệm chung và các quan điểm về BHXH
1.1.1.1. Khái niệm, bản chất của BHXH
Trong cuộc sống con ngƣời muốn tồn tại và phát triển đƣợc trƣớc hết
phải ăn, mặc, ở, đi lại Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, con ngƣời
phải lao động làm việc tạo ra những sản phẩm cần thiết phục vụ chính con
ngƣời. Vì vậy, việc đáp ứng thoả mãn những nhu cầu của con ngƣời phụ
thuộc vào chính khả năng lao động của họ, nhƣng trong thực tế con ngƣời
không phải lúc nào cũng khoẻ mạnh, gặp thuận lợi và có đầy đủ thu nhập, vì
trong cuộc sống con ngƣời còn gặp những rủi ro bất ngờ, hoặc gặp những khó
khăn bất lợi làm giảm hoặc mất thu nhập, ảnh hƣởng rất nhiều đến cuộc sống
của chính bản thân và cả gia đình họ, chẳng hạn nhƣ bị ốm đau, tai nạn lao
động, mất việc làm, hoặc hết khả năng lao động khi về già… Khi gặp phải
những rủi ro xã hội và khó khăn đó con ngƣời đã phải tự tìm nhiều cách khắc
phục bằng những hành động tƣơng thân, tƣơng ái (lập các quỹ tƣơng tế, các
hội đoàn ) nhƣng những cách đó hoàn toàn thụ động, không chắc chắn, đòi
hỏi giới chủ và Nhà nƣớc phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ.
Khi nền kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển, việc thuê mƣớn lao động đã
diễn ra phổ biến làm cho mối quan hệ kinh tế giữa giới chủ với giới thợ đa
dạng hơn và cũng phức tạp hơn rất nhiều. Lúc đầu giới thợ chỉ đƣợc trả công
trả lƣơng những làm việc, còn những ngày nghỉ việc họ không đƣợc trả còn
bất kỳ một khoản thu nhập nào khác, nên khi không may bị ốm đau, hay nghỉ
sinh đẻ, hoặc bị tai nạn lao động… họ không có tiền để trang trải và gặp rất
nhiều khó khăn trong cuộc sống. Trƣớc thực tế đó, giới thợ đã đấu tranh buộc
giới chủ phải cam kết trả công trả lƣơng cho họ khi họ nghỉ, hoặc khi họ hết

tuổi lao động. Nhƣng khi thực hiện, giới chủ phát sinh thêm một khoản chi

7
phí lớn mà họ không mong muốn, nên đã nảy sinh mâu thuẫn giữa giới chủ và
thợ, giới thợ đã tiến hành rất nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt và diễn ra rộng
khắp buộc giới chủ phải thực hiện theo đúng cam kết đó nhằm thỏa mãn
mong muốn và nhu cầu đó của họ, điều đó đã gây ra những tác động to lớn
đối với đời sống kinh tế xã hội lúc bấy giờ.
Trƣớc tình hình càng trở nên căng thẳng, buộc Nhà nƣớc phải đứng ra
can thiệp và đƣa ra những biện pháp nhằm ổn định tình hình kinh tế xã hội,
trong đó phải kể đến biện pháp hình thành một quỹ tài chính tập trung trên
phạm vi quốc gia do sự tham gia đóng góp của các bên, theo đó Nhà nƣớc quy
định cả giới chủ và giới thợ đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng
tháng, khoản tiền đó đƣợc tính toán dựa trên cơ sở xác suất rủi ro của giới thợ
và tiền công, tiền lƣơng mà giới chủ trả cho giới thợ và ngoài số tiền đóng
góp của giới chủ và giới thợ, quỹ này còn nhận đƣợc sự hỗ trợ từ ngân sách
Nhà nƣớc khi cần thiết. Nhờ vậy mà những bất lợi hay rủi ro của giới thợ
đƣợc trang trải, bù đắp, nên cuộc sống của bản thân và gia đình họ ngày
càng đƣợc đảm bảo, giới chủ cũng thấy mình có lợi và đƣợc bảo vệ, công
việc sản xuất kinh doanh ổn định hơn, giới thợ gắn bó và yên tâm làm việc
tích cực hơn [10].
Toàn bộ những hoạt động với các mối quan hệ rằng buộc chặt chẽ giữa
ba bên ở trên đƣợc thế giới quan niệm là BHXH. Sự xuất hiện của BHXH là
một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự
cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH.
Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của ngƣời lao động và
đƣợc thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền
lợi của con ngƣời nhƣ trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên
hợp quốc đã nêu.


8
Vậy BHXH là gì? thì cho đến nay việc định nghĩa thế nào là BHXH vẫn
là vấn đề còn nhiều tranh luận vì tùy theo cách tiếp cận từ nhiều giác độ khác
nhau với những quan điểm khác nhau lại có những khái niệm khác nhau, nhƣ:
- Theo cách tiếp cận về mục đích của BHXH, có thể khái niệm: “BHXH
là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho ngƣời lao
động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất
khả năng lao động hoặc sức lao động không đƣợc sử dụng, thông qua việc
hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia
BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn
kinh tế cho ngƣời lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an
toàn xã hội”.
- Từ giác độ pháp luật: "BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ ngƣời
lao động, sử dụng tiền đóng góp của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động
và đƣợc sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nƣớc, nhằm trợ cấp vật chất cho ngƣời
đƣợc bảo hiểm và gia đình họ trong trƣờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập
bình thƣờng do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết
theo quy định của pháp luật".
- Từ giác độ tài chính: "BHXH là kỹ thuật chia sẻ rủi ro về tài chính giữa
những ngƣời tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật".
- Từ giác độ chính sách xã hội: "BHXH là một chính sách xã hội nhằm
đảm bảo đời sống vật chất cho ngƣời lao động khi họ không may gặp phải các
rủi ro xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [10].
- Theo Luật BHXH Việt Nam định nghĩa tại Khoản 1, Điều 3: "Bảo
hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của ngƣời
lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở
đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội" [8].

9

Từ việc tìm hiểu các khái niệm, định nghĩa về BHXH ta có thể thấy mối
quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa vụ,
trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH.
Khác với bảo hiểm thƣơng mại, trong BHXH mối quan hệ này dựa trên
quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và
bên đƣợc BHXH, cụ thể:
- Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy
định của pháp luật BHXH. Bên tham gia BHXH gồm có ngƣời lao động,
ngƣời sử dụng lao động và Nhà nƣớc (trong một số trƣờng hợp);
- Bên BHXH, đó là bên nhận BHXH từ những ngƣời tham gia BHXH.
Bên BHXH thƣờng là một tổ chức do Nhà nƣớc lập ra (ở một số nƣớc có thể
do tƣ nhân, tổ chức kinh tế xã hội lập ra) và đƣợc Nhà nƣớc bảo trợ, nhận sự
đóng góp của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động, lập nên quỹ BHXH;
- Bên đƣợc BHXH là bên đƣợc quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh
những nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại rủi ro đƣợc
bảo hiểm gây ra. Trong BHXH, bên đƣợc BHXH là ngƣời lao động tham gia
BHXH và nhân thân của họ theo quy định của pháp luật, khi họ có phát sinh
nhu cầu đƣợc BHXH do pháp luật quy định.
Qua đó có thể thấy đƣợc bản chất của BHXH thể hiện ở các điểm sau:
- BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa, khi trình độ phát
triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH
có điều kiện ra đời phát triển.
Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản
ánh sự phát triển của nền kinh tế, bởi lẽ một nền kinh tế chậm phát triển, đời
sống nhân dân thấp kém thì không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh
đƣợc. Còn khi kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế
độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú;

10
- Thực chất BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xã

hội” hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền bù này đƣợc thực hiện thông qua quá
trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của
các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH.
Nhƣ vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập.
Vì nếu xét trên phạm vi toàn xã hội, thì BHXH là một bộ phận của tổng
sản phẩm trong nƣớc, đƣợc xã hội phân phối lại cho những thành viên khi
phát sinh nhu cầu BHXH nhƣ ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, già yếu, chết
Còn nếu xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH đƣợc thực
hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang. Phân phối theo chiều ngang là sự phân
phối của chính bản thân ngƣời lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối
lại thu nhập của quá trình làm việc và quá trình không làm việc). Phân phối
theo chiều dọc là sự phân phối giữa những ngƣời khỏe mạnh cho ngƣời ốm
đau, bệnh tật; giữa những ngƣời trẻ cho ngƣời già; giữa những ngƣời không
sinh đẻ (nam giới) và ngƣời sinh đẻ (nữ giới); giữa những ngƣời có thu nhập
cao và ngƣời có thu nhập thấp… Nói cách khác, đây là sự phân phối lại thu
nhập theo không gian.
Nhƣ vậy, có thể thấy BHXH góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an
toàn kinh tế cho ngƣời lao động và gia đình họ, BHXH là quá trình tổ chức sử
dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nƣớc để thoả mãn nhu cầu an
toàn kinh tế của ngƣời lao động và an toàn xã hội. BHXH mang cả bản chất
kinh tế và cả bản chất xã hội.
Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của
ngƣời lao động và gia đình họ luôn đƣợc bảo đảm trƣớc những bất trắc, rủi ro
xã hội.

11
Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” của BHXH, ngƣời lao động chỉ
phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH,
nhƣng xã hội sẽ có một lƣợng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra. Ở

đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”.
Tuy nhiên, tính kinh tế và tính xã hội của BHXH không tách rời mà đan
xen lẫn nhau, khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho ngƣời lao động và gia đình
họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH. Ngƣợc lại, khi nói tới sự đóng góp ít
nhƣng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế
của BHXH.
Dƣới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống
cho ngƣời lao động khi họ bị giảm hay mất khả năng lao động. Có nghĩa là
tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho ngƣời lao động khi họ gặp phải các rủi
ro thuộc phạm vi BHXH.
Dƣới góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những ngƣời lao
động xuất phát từ lợi ích chung của họ.
Dƣới góc độ xã hội, BHXH đƣợc hiểu nhƣ là một chính sách xã hội
nhằm đảm bảo đời sống cho ngƣời lao động khi thu nhập của họ bị giảm hay
mất. Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lƣợng lao động xã hội, lực lƣợng
sản xuất, tăng năng suất lao động ổn định trật tự xã hội [10].
1.1.1.2. Các quan điểm về BHXH và thu BHXH
Do tập quán, thể chế chính trị, khả năng kinh tế và định hƣớng phát triển
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia là khác nhau, vì thế khi thực hiện BHXH các
quốc gia đều phải lựa chọn hình thức, cơ chế và mức độ thỏa mãn các nhu cầu
BHXH sao cho phù hợp, bên cạnh đó cần phải có sự thống nhất trong nhận
thức về BHXH. Điều đó đƣợc thể hiện qua các quan điểm cơ bản về BHXH
và thu BHXH sau đây:

12
- Thứ nhất, chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và quan trọng
nhất trong chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Mục tiêu chủ yếu của chính
sách BHXH là nhằm đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời lao
động và gia đình họ khi thu nhập của ngƣời lao động bị giảm hoặc mất do bị
giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

Chính sách BHXH đƣợc thực hiện tốt hay không thể hiện trình độ văn
minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi
quốc gia, đồng thời thể hiện tính ƣu việt của một chế độ xã hội. Nếu tổ chức
và thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ là động lực to lớn phát huy tiềm năng
sáng tạo của ngƣời lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nƣớc.
- Thứ hai, ngƣời sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tham
gia BHXH cho ngƣời lao động. Ngƣời sử dụng lao động phải có nghĩa vụ
đóng góp vào quỹ BHXH và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ
BHXH cho ngƣời lao động làm việc cho mình.
Vậy ngƣời sử dụng lao động bao gồm những ai? Đó là các tổ chức, các
doanh nghiệp, các cá nhân có thuê mƣớn lao động. Bên cạnh việc đầu tƣ máy
móc, trang thiết bị làm việc hiện đại thì muốn ổn định và phát triển sản xuất
kinh doanh thì ngƣời sử dụng lao động còn phải quan tâm đến đời sống cho
ngƣời lao động của mình.
Có nhƣ vậy ngƣời lao động sẽ yên tâm, tích cực lao động, phát huy sáng
kiến, cải tiến kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả
kinh tế và gắn bó với doanh nghiệp hơn.
- Thứ ba, ngƣời lao động đƣợc bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối
với BHXH. BHXH đã trở thành một trong những quyền con ngƣời theo đó
mọi ngƣời lao động trong xã hội đều bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp và
quyền lợi đƣợc hƣởng trợ cấp BHXH.

13
Một ngƣời lao động khi gặp rủi ro không mong muốn, nếu muốn đƣợc
BHXH tức là muốn nhiều ngƣời khác hỗ trợ cho mình để giải quyết rủi ro thì
trƣớc hết họ phải tự mình tham gia BHXH cho chính bản thân mình.
- Thứ tƣ, mức trợ cấp BHXH phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ: Tình trạng
mất khả năng lao động; tiền lƣơng lúc đang đi đi làm; ngành nghề và thời gian
công tác; tuổi thọ bình quân của ngƣời lao động; điều kiện kinh tế xã hội của

đất nƣớc trong từng thời kỳ.
Mức trợ cấp BHXH cho ngƣời lao động sẽ đƣợc tính toán dựa vào các
yếu tố trên nhƣng về nguyên tắc mức trợ cấp đó phải thấp hơn mức lƣơng lúc
đang đi làm nhƣng không thấp hơn mức sống tối thiểu.
Vì nếu mức trợ cấp bằng hoặc cao hơn tiền lƣơng thì sẽ tạo điều kiện cho
ngƣời lao động ỷ lại vào tiền trợ cấp BHXH để sống mà không tích cực tìm
kiếm việc làm, không tích cực làm việc, lao động sản xuất.
Còn nếu mức trợ cấp mà quá thấp, thấp hơn mức sống tối thiểu thì đời
sống vật chất của ngƣời lao động cũng không đƣợc đảm bảo và cũng sẽ ảnh
hƣởng đến hiệu quả làm việc, năng suất lao động.
Quan điểm này đã phản ánh đƣợc tính cộng đồng xã hội, vừa phản ánh
nguyên tắc phân phối lại quỹ BHXH cho ngƣời lao động tham gia BHXH.
- Thứ năm, Nhà nƣớc quản lý thống nhất chính sách bảo hiểm xã hội, tổ
chức bộ máy thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội. BHXH là một bộ phận
cấu thành các chính sách xã hội, nó vừa là nhân tố tạo sự ổn định vừa là động
lực phát triển kinh tế xã hội cho nên vai trò của Nhà nƣớc là rất quan trọng
Vì trên thực tế, nếu không có sự can thiệp của Nhà nƣớc, nếu không có
sự quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc thì mối quan hệ giữa ngƣời lao động và ngƣời
sử dụng lao động sẽ không đƣợc duy trì bền vững, mối quan hệ ba bên trong
BHXH sẽ bị phá vỡ [9].

14
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của công tác thu BHXH
Dù mô hình có thể đƣợc tổ chức khác nhau, nhƣng hoạt động sự nghiệp
BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng có những chức năng,
nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu sau:
- Thực hiện thu, chi BHXH: Thông qua bộ máy của mình và trên cơ sở
pháp luật BHXH của mỗi nƣớc, các cơ quan BHXH tiến hành các nghiệp vụ
thu tiền đóng BHXH của các doanh nghiệp và ngƣời lao động (còn gọi là phí
BHXH) và triển khai chi trả các trợ cấp cho ngƣời thụ hƣởng BHXH và các

chi phí quản lý khác;
- Quản lý đối tƣợng: Trong hoạt động BHXH có hai nhóm đối tƣợng đó
là nhóm đối tƣợng tham gia BHXH và nhóm đối tƣợng thụ hƣởng BHXH.
Nhóm đối tƣợng tham gia BHXH bao gồm các doanh nghiệp và ngƣời lao
động. Khi tham gia BHXH, doanh nghiệp (ngƣời sử dụng lao động) và ngƣời
lao động đều phải đóng phí BHXH.
Vì vậy, để đảm bảo nguồn thu cho quỹ BHXH, các cơ quan BHXH phải
nắm chắc đƣợc số lƣợng các đơn vị tham gia BHXH, những di biến động trên
từng địa bàn và trong toàn quốc. Đồng thời, cũng phải có đƣợc những thông
tin đầy đủ về ngƣời lao động để xác định đƣợc nguồn thu và dự báo đƣợc các
khoản chi trong tƣơng lai;
- Quản lý quỹ BHXH: Bao gồm quản lý công tác thu BHXH và quản lý
công tác chi BHXH, nhằm đảm bảo cho quỹ đƣợc an toàn và đảm bảo thu
đúng, thu đủ; chi đúng, chi đủ cho đối tƣợng thụ hƣởng BHXH; hạn chế tối đa
sự thất thoát quỹ BHXH; Xây dựng chiến lƣợc tăng trƣởng quỹ BHXH thông
qua các hoạt động đầu tƣ; Tham gia vào thị trƣờng tài chính của quốc gia.
Đây là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng, bởi lẽ các quá
trình thu và chi BHXH không diễn ra song trùng và thông thƣờng sự tồn tích
của quỹ BHXH rất lớn. Nếu đƣợc Nhà nƣớc điều tiết thông qua các chính

15
sách và công cụ tài chính, quỹ BHXH sẽ góp phần rất lớn vào việc ổn định
nền tài chính quốc gia;
- Thực hiện thanh tra, kiểm tra: Tuỳ theo mô hình của từng nƣớc mà
nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra về BHXH có khác nhau. Với những nƣớc trao
quyền tự chủ cao cho Hội đồng quản trị BHXH thì trong hệ thống sự nghiệp
BHXH chức năng thanh tra, kiểm tra rất quan trọng. Đối với những nƣớc có
quản lý Nhà nƣớc về BHXH riêng thì chức năng thanh tra, kiểm tra hoạt động
BHXH của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc rất lớn.
Tuy nhiên, trong hệ thống BHXH vẫn có chức năng thanh tra kiểm tra

của mình nhằm đảm bảo các hoạt động BHXH đúng với các quy định của
pháp luật.
Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe doạ cuộc
sống của mỗi ngƣời gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội. Rủi ro phát sinh
hoàn toàn ngẫu nhiên bất ngờ không lƣờng trƣớc đƣợc, nhƣng xét trên bình
diện xã hội, rủi ro là một tất yếu không thể tránh đƣợc. Để phòng ngừa và hạn
chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con ngƣời và xã hội là nhiệm
vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH.
1.1.3. Vai trò của BHXH và công tác thu BHXH trong nền kinh tế
thị trường
Việc tham gia BHXH là quyền lợi của ngƣời lao động, đồng thời cũng là
nghĩa vụ của ngƣời lao động và của các đơn vị sử dụng lao động. Ở nƣớc ta,
từ năm 1995 quỹ BHXH đƣợc quản lý thống nhất, tập trung, độc lập với ngân
sách Nhà nƣớc và đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ. Vì vậy, đã đảm bảo về nguồn tài
chính để cân đối thu – chi thực hiện chi trả các chế độ BHXH cho ngƣời tham
gia BHXH.
Tuy nhiên muốn chi thì phải thu, có thu mới có chi. Điều đó khẳng định
rằng: Công tác thu BHXH là chức năng nghiệp vụ đầu tiên của hoạt động

16
BHXH và luôn giữ vai trò xƣơng sống mấu chốt của ngành BHXH, bởi nó có
ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện các chế độ chính sách BHXH và sự
tồn tại, phát triển của ngành BHXH. Vì có thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thì
ngƣời tham gia BHXH mới đƣợc chi trả và thụ hƣởng các chế độ BHXH một
cách nhanh chóng và đầy đủ; Thu đúng, thu đủ góp phần đảm bảo quyền lợi
cho ngƣời tham gia BHXH; Thu đúng, thu đủ nhằm đảm bảo cân đối nguồn
quỹ BHXH; Thu đúng, thu đủ đảm bảo sự công bằng giữa những ngƣời tham
gia BHXH và đảm bảo công bằng trong xã hội.
Vai trò đó đƣợc thể hiện cụ thể đối với từng lĩnh vực sau đây:
- Thứ nhất, đối với người lao động và gia đình của họ:

Công tác thu bảo hiểm xã hội có vai trò ổn định thu nhập cho ngƣời lao
động và gia đình họ. Khi tham gia BHXH, ngƣời lao động phải trích một
khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh nhƣ: ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc
tạm thời.
Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình
cảnh khó khăn, túng quẫn. Nhờ có chính sách BHXH mà họ đƣợc nhận một
khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm
bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống.
Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo đƣợc tâm lý an tâm, tin
tƣởng cho ngƣời lao động và gia đình họ. Khi đã tham gia BHXH góp phần
nâng cao đời sống tinh thần cho ngƣời lao động đem lại cuộc sống bình yên,
hạnh phúc cho nhân dân lao động.
- Thứ hai, đối với nền kinh tế thị trường:
Khi chuyển sang cơ chế thị trƣờng, thì sự phân tầng giữa các lớp trong
xã hội trở nên rõ rệt, đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các
ngành nghề khác nhau. Nhƣng rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ

17
một ai, nếu rơi vào những ngƣời có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống
của họ trở nên bần cùng, túng quẫn. BHXH đóng vai trò góp phần ổn định đời
sống cho họ và gia đình họ.
Đối với các doanh nghiệp, khi những ngƣời lao động không may gặp rủi
ro thì đã đƣợc chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả, nhờ vậy tình hình tài
chính của các doanh nghiệp đƣợc ổn định hơn. Hệ thống BHXH đã bảo đảm
ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trƣờng.
Khi tham gia BHXH cho ngƣời lao động sẽ phát huy tinh thần trách
nhiệm, gắn bó tận tình của ngƣời lao động trong các doanh nghiệp làm cho
mối quan hệ thị trƣờng lao động đƣợc trở nên lành mạnh hơn, thị trƣờng sức
lao động vận động theo hƣớng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch

phát triển chất lƣợng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế
thị trƣờng.
Quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp đƣợc tích tụ tập trung rất lớn,
phần quỹ nhàn rỗi đƣợc đem đầu tƣ cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trƣởng,
phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động.
BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhƣng mặt
khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cƣ thông qua hệ thống phân
phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trƣờng lao động.
- Thứ ba, đối với hệ thống chính trị của một quốc gia:
Một quốc gia muốn phát triển về mặt kinh tế xã hội thì trƣớc hết cần phải
có một hệ thống chính trị vững chắc, ổn định để đƣa ra những chiến lƣợc,
sách lƣợc mục tiêu phát triển cho đất nƣớc mình.
BHXH là một trong các vấn đề xã hội, nó liên quan đến kinh tế, chính
trị, có tác động đến tinh thần và quan hệ xã hội. Vì vậy, một giai cấp chính trị,
một đảng phái chính trị hay một Nhà nƣớc nào nếu có ý thức đối với BHXH,
coi đó là một công cụ điều tiết quan trọng trong xã hội, là một chƣơng trình

18
chính trị thì tức là giai cấp, đảng phái, Nhà nƣớc đó đã thực hiện tốt chức
năng xã hội của mình, đã thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với ngƣời
dân. Điều đó sẽ giúp cho giai cấp, đảng phái, Nhà nƣớc đó củng cố và giữ
vững, thể hiện đƣợc quyền lực, thế lực của mình trên mặt trận chính trị.
- Thứ tư, đối với cộng đồng và xã hội:
Tăng cƣờng mối quan hệ giữa Nhà nƣớc, ngƣời sử dụng lao động và
ngƣời lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ
rủi ro chỉ có đƣợc trong quan hệ của BHXH.
Tuy nhiên mối quan hệ mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau.
Ngƣời lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình,
đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Ngƣời sử dụng
lao động tham gia BHXH là để tăng cƣờng tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi

ro cho ngƣời lao động nhƣng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho
các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân
văn sâu sắc của BHXH.
BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho những ngƣời
bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những
biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội
trong mỗi con ngƣời giúp họ hƣớng tới những chuẩn mực của chân - thiện -
mỹ nhờ đó có thể chống lại tƣ tƣởng “đèn nhà ai nhà ấy rạng”. BHXH là yếu
tố tạo nên sự hoà đồng mọi ngƣời, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng
tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi ngƣời hƣớng tới một xã hội nhân ái,
cuộc sống công bằng, bình yên.
BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tƣơng thân
tƣơng ái trong cộng đồng. Là nhân tố quan trọng cộng đồng giúp đỡ những
ngƣời bất hạnh nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con ngƣời, tạo
điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững.

19
BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội. Trên giác độ xã hội, BHXH
là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho ngƣời lao động. Trên giác độ
kinh tế, BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên
trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này ngƣời lao động đƣợc thực hiện bình
đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội [11].
1.1.4. Những nội dung cơ bản của công tác thu BHXH
1.1.4.1. Đặc điểm của công tác thu BHXH
- Thu BHXH có tính chu kỳ, lặp đi lặp lại nhiều lần, vì thế những ngƣời
làm công tác thu phải theo dõi kết quả thu nộp BHXH của từng cơ quan, đơn
vị sử dụng lao động theo từng tháng một, để kịp thời nắm bắt đƣợc tình hình
đóng BHXH của từng cá nhân, từng đơn vị và của toàn ngành, từ đó làm cơ
sở để lập báo cáo kết quả lên cơ quan BHXH cấp trên.
Có thể nói, công tác thu là một công việc đòi hỏi phải có nguồn nhân lực

lớn đủ năng lực, trình độ chuyên môn và cần có cơ sở vật chất đầy đủ, hiện
đại mới có thể phục vụ và làm tốt công tác thu BHXH.
- Thu BHXH có tính đa dạng và phức tạp, là một hoạt động liên quan
trực tiếp đến cả ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, mà số lƣợng lao
động, số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH ngày càng tăng, đòi hỏi
công tác quản lý phải chặt chẽ, kịp thời năm bắt thông tin về các đối tƣợng
thuộc diện tham gia.
- Mức thu BHXH đƣợc dựa trên mức thu nhập của ngƣời lao động. Hiện
nay hình thức thu BHXH chủ yếu đƣợc thực hiện thông qua ngƣời sử dụng
lao động và mức thu BHXH đƣợc xác định dựa trên mức lƣơng mà ngƣời sử
dụng lao động trả cho ngƣời lao động.
Cho nên việc xác định tổng quỹ lƣơng của đơn vị tham gia phải đƣợc
thực hiện đồng thời với việc xác định mức thu BHXH, công việc này đòi hỏi
phải có sự đôn đốc, giám sát chặt chẽ của cán bộ thu để tránh tình trạng ngƣời

×