Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

Cơ chế tiền lương tạo động lực cho người lao động

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (196.96 KB, 30 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần I - Lời mở đầu
Tiền lơng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế- xã
hội, là động lực tăng trởng kinh tế và giải quyết công bằng, tiến bộ xã hội,nâng
cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nớc, khai thác tiềm năng sáng tạo của ngời
lao động. Trong điều kiện nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa, một mặt chúng ta vẫn tuân thủ qui luật phân phối theo lao động,
trong đó tiền lơng là một công cụ đIều tiết quan trọng; mặt khác do tác động của
qui luật cung cầu, đIều kiện kinh tế xã hội có bớc cải thiện, đòi hỏi chúng
ta phải có giải pháp thích ứng về định hớng tiền lơng nói chung và tiền lơng tôí
thiểu, tiền lơng vùng, ngành nói riêng. NGhị quết hội nghị lần 7 Ban chấp hành
trung ơng Đảng (khoá VIII) đã nêu rõ: Tiền lơng gắn liền với sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nớc, trả lơng đúng cho ngời lao động chính là thực hiện đầu t
cho phát triển, góp phần quan trọng làm lành mạnh, trong sạch đội ngũ cán bộ,
nâng caô tinh thần và hiệu suất công tác. Tiếp đó, báo cáo chính trị của Ban chấp
hành trung ơng Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, phần 4 mục IV
một lần nữa khẳng định: Cải cách cơ bản chế độ tiền lơng cán bộ, công chức
theo hớng tiền tệ hoá đầy đủ tiền lơng, đIều chỉnh tiền lơng tơng ứng với nhịp độ
tăng thu nhập trong xã hội, hệ thống bậc lơng đảm bảo tơng quan hợp lý, khuyến
khích ngời có tài, ngời làm việc giỏi.
Trong thực tế 8 năm qua, kể từ 1993 đến nay chính phủ đã bốn lần thực
hiện nâng lơng tối thiểu. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời cha giải quyết
đợc vấn đề cốt lõi - đảm bảo thu nhập cho ngời lao động, kích thích sản xuất. Sau
đây em xin nêu một số ý kiến của em về vai trò của chế độ tiền lơng trong quá
trình tạo động lực cho ngời lao động, trong thời gian qua.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần II - Nội dung của chế độ tiền lơng
Chơng I: Lý luận chung về tiền lơng và tạo động lực.
I-Tiền lơng
1. Khái niệm và đặc điểm chung về tiền l ơng.
Tiền lơng là số tiền mà ngời sử dụng sức lao động (ngời mua sức lao động)


trả cho ngời lao động (ngời bán sức lao động).
Do tính chất đặc biệt của loại hàng hoá sức lao động mà tiền lơng không chỉ
thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội rất quan trọng, liên quan tới
đời sống và trật tự xã hội. Trong quá trình hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh
doanh, đối với các chủ doanh nghiệp, tiền lơng là một phần chi phí cấu thành chi
phí sản xuất kinh doanh. Vì vậy, tiền lơng đợc tính toán và quản lý chặt chẽ.
Đối với ngời lao động, tiền lơng là thu nhập từ quá trình lao động, nó là phần thu
nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã hội, tiền lơng có ảnh hởng trực
tiếp tới mức sống của họ. Phấn đấu nâng cao tiền lơng là mục đích của hết thảy
mọi ngời lao động. Mục đích này tạo động lực để ngời lao động phát triển trình
độ và kĩ năng lao động của mình. Trong điều kiện của một nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần nh ở nớc ta hiện nay, phạm trù tiền lơng đợc thể hiện cụ thể
trong từng thành phần và khu vực kinh tế. Trong thành phần kinh tế nhà nớc và
khu vực hành chính sự nghiệp (khu vực lao động đợc nhà nớc trả lơng), tiền lơng
là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan, tổ chức của nhà nớc trả
cho ngời lao động theo cơ chế và chính sách của nhà nớc, nó đợc thể hện trong hệ
thống thang lơng, bảng lơng do nhà nớc quy định. Trong các thành phần về khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiền lơng chịu sự tác động, chi phối rất lớn của thị
trờng và thị trờng lao động. Tiền lơng trong khu vực này dù vẫn nằm trong khuôn
khổ của luật pháp và theo những chính sách của chính phủ, nhng là những giao
dịch trực tiếp giữa chủ và thợ, những mặc cả cụ thể giữa một bên làm thuê và
một bên đi thuê.
2.Yêu cầu của tổ chức tiền l ơng.
Đảm bảo tái sản xuất lao động và không ngừng nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho ngời lao động. Đây là một yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo
thực hiện đúng chức năng và vai trò của tiền lơng trong đời sống xã hội. Yêu cầu
này cũng đặt ra những đòi hỏi cần thiết khi xây dựng chính sách tiền lơng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao. Tiền lơng là đòn bẩy quan
trọng để nâng cao năng suất lao động, tạo cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Do vậy, tổ chức tiền lơng phải đạt yêu cầu làm tăng năng suất lao động. Mặt khác
đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển, nâng cao trình độ và kỹ năng
của ngời lao động.
Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu. Tiền lơng luôn là mối quan tâm
hàng đầu của mọi ngời lao động. Một chế độ tiền lơng đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu
có tác động trực tiếp tới động cơ và thái độ làm việc của họ, đồng thời làm tăng
hiệu quả của hoạt động quản lý, nhất là quản lý tiền lơng.
3.Các nguyên tắc của tổ chức tiền l ơng.
Trả lơng ngang nhau cho lao động nh nhau. Nguyên tắc này xuất phát từ
nguyên tắc phân phối theo lao động. Nguyên tắc này dùng thớc đo lao động để
đấnh giá, so sánh và thực hiện trả lơng. Những ngời lao động khác nhau về tuổi
tác, giới tính, trình độ v..v nhng có mức hao phí sức lao động (đóng góp sức lao
động) nh nhau thì đợc trả lơng nh nhau. Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì
nó đảm bảo đợc sự công bằng, đảm bảo sự bình đẳng trong trả lơng. Điều này sẽ
có sức khuyến khích rất lớn đối với ngời lao động. Nguyên tắc trả lơng ngang
nhau cho lao động nh nhau bao hàm ý nghĩa đối với những công việc khác nhau
thì cần thiết phải có sự đánh giá đúng mức và phân biệt công bằng, chính xác
trong tính toán trả lơng.
Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lơng bình quân. Năng
suất lao động không ngừng tăng lên, đó là một qui luật. Tiền lơng của ngời lao
động cũng tăng lên không ngừng do tác động của nhiều nhân tố khách quan.
Tăng tiền lơng và tăng năng suất lao động có liên quan chặt chẽ với nhau. Xét các
yếu tố, các nguyên nhân trực tiếp làm tăng tiền lơng và tiền lơng bình quân, ta
thấy tiền lơng tăng là do trình độ tổ chức và quản lý lao động ngày càng hiệu quả
hơn. Đối với tăng năng suất lao động, ngoài các yếu tố gắn liền với việc nâng cao
kỹ năng làm việc và trình độ tổ chức quản lý lao động nh trên thì tăng năng suất
lao động còn do các nguyên nhân khác tạo ra nh đổi mới công nghệ sản xuất,
nâng cao trình độ trang thiết bị kỹ thuật trong lao độngkhai thác và sử dụng hiệu
quả nguồn tài nguyên thiên nhiên. Rõ ràng là năng suất lao động có khả năng
khách quan tăng nhanh hơn tiền lơng bình quân. Trong từng doanh nghiệp thì

thấy rằng, tăng tièn lơng dẫn đến tăng chi phí sản xuất, kinh doanh ; tăng năng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
suất lao động làm giảm chi phí cho từng đơn vị sản phẩm.Một doanh nghiệp chỉ
thực sự kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chung cũng nh chi phí cho một
đơn vị sản phẩm giảm đi, tức mức giảm chi phí do tăng năng suất lao động phải
lớn hơn mức tăng chi phí do tăng tiền lơng bình quân. Rõ ràng nguyên tắc này là
cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao đời sống
của ngời lao động và phát triển kinh tế.
Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lơng giữa những ngời lao động làm
các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân. Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về
tiền lơng giữa những ngời lao động làm việc trong các nghề khác nhau nhằm đẩm
bảo sự công bằng, bình đẳng trong trả lơng cho ngời lao động. Thực sự nguyên
tắc này là cần thiết và dựa trên những cơ sở nh: trình độ lành nghề bình quân của
ngời lao động ở mỗi ngành; điều kiện lao động; ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành
trong nền kinh tế quốc dân; sự phân bổ theo khu vực sản xuất.
Nếu có một lực lợng lao động có trình độ và đợc bố trí vào những vị trí
thích hợp nhng chính sách tiền lơng không phù hợp thì tinh thần công nhân viên
sẽ sa sút, năng suất lao động thấp, làm cho giá của sản phẩm cao dẫn đến thất bại
trong kinh doanh . Do đó cần phải tạo động lực trong lao động thông qua chính
sách tiền lơng.
II-Tạo động lực
1.Khái niệm tạo động lực trong lao động :
Là tạo ra những kích thích sự nỗ lực, sự khát khao đạt đợc những mục tiêu
trong lao động. Tạo động lực là đáp ứng các nhu cầu của con ngời (tức là đem lại
lợi ích cho ngời lao động).
2.Một số học thuyết.
a)Thuyết hệ thống phân cấp các nhu cầu của Abraham Maslow:
Chúng ta đã lập luận rằng, hành vi của một cá nhân tại một thời điểm nào
đó thờng đợc quyết định bởi nhu cầu mạnh nhất của họ. Bởi vậy, đIều quan trọng
đối với các nhà quản lý là phải biết đợc những nhu cầu thông thờng quan trọng

nhất. Abraham Maslow đã triển khai một sơ đồ rất thú vị có tác dụng lý giải.
Theo Maslow, dờng nh có một hệ thống phân cấp trong đó nhu cầu của con ngời
đợc xếp nh đã minh hoạ qua hình 1.
Theo hình1 thì nhu cầu sinh lý đợc đặt ở đỉnh hệ thống phân cấp vì chúng
có xu hớng, có sức mạnh cao nhất cho tới khi chúng đợc thoả mãn. Đây là những
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhu cầu cơ bản của con ngời ;thức ăn, quần áo, nhà ở. Cho tới khi các nhu cầu
này cha đợc đáp ứng đủ đến mức cần thiết cho cơ thể con ngời hoạt động, phần
lớn các hoạt động của con ngời có lẽ sẽ ở mức này và các nhu cầu khác sẽ ít có
động cơ thúc đẩy.
Nhng điều gì sẽ xảy ra đối với động cơ thúc đẩy của một ngời khi những
nhu cầu cơ bản này bắt đầu đợc đáp ứng đầy đủ. Khi các nhu cầu sinh lý đợc đáp
ứng đầy đủ, thì các nhu cầu khác sẽ trở nên quan trọng, chúng thúc đẩy và khống
chế hành vi của cá nhân.Và khi những nhu cầu này đợc đáp ứng tới một mức độ
nào đó, những nhu cầu khác lại xuất hiện và tiếp tục nh vậy tiến xuống phía dới
của hệ thống phân cấp.
Khi các nhu cầu sinh lý đợc đáp ứng, các nhu cầu về an toàn hoặc an ninh
trở nên nổi trội hơn (hình2). Những nhu cầu này chủ yếu là nhu cầu không bị đe
doạ thân thể và bị tớc mất các nhu cầu sinh lý cơ bản. Nói cách khác, đây là một
nhu cầu tự duy trì. Ngoài ra, ngời ta còn lo lắng tới tơng lai nh có thể duy trì đợc
của cải hoặc công việc để có thể cung cấp thức ăn và nơi ở cho ngày mai không.
Nên sự an toàn hay an ninh của một cá nhân bị đe doạ thì những điều khác dờng
nh không quan trọng.
Hình1: Hệ thống phân cấp các nhu cầu của Maslow

Sinh lý
An toàn
(an ninh)
Xã hội
(hội nhập )

Tôn trọng
(nhận biết)
Tự k.định mình
Hình2 Nhu cầu an toàn khi trở nên nổi trội trong cấu trúc nhu cầu.
An toàn
Sinh lý Xã hội
Tôn trọng
Tự k.định mình
Khi các nhu cầu sinh lý và an toàn đã đợc thoả mãn khá tốt thì nhu cầu xã
hội hoặc hội nhập (liên kết, giao kết) sẽ xuất hiện với t cách là các nhu cầu nổi
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trội trong cấu trúc nhu cầu, nh minh hoạ qua (hình3). Vì mọi ngời là thành viên
của xã hội, họ có một nhu cầu đợc thuộc về các nhóm khác nhau và đợc các
nhóm chấp thuận. Khi nhu cầu xã hội trở nên nổi trội, một ngời sẽ cố gắng có đợc
các quan hệ tốt đẹp với ngời khác.
Sau khi các cá nhân bắt đầu thoả mãn nhu cầu nhập cuộc của họ, nói
chung họ muốn nhiều thứ khác nữa chứ khong phải chỉ trở thành thành viên trong
nhóm. Khi đó họ có nhu cầu đợc tôn trọng cả tự trọng và sự nhận biết từ ngời
khác, nh thể hiện qua (hình 4). Hầu hết mọi ngời có một nhu cầu đợc đánh giá
cao dựa trên cơ sở thực tế sự nhận biết và sự tôn trọng từ phía ngời khác. Việc
thoả mãn những nhu cầu đợc tôn trọng này tạo ra cảm giác tự tin, uy tín, quyền
lực và sự kiềm chế. Con ngời bắt đầu cảm thấy họ có ích và có chút ảnh hởng đối
với môi trờng xung quanh. Thế nhng cũng có nhũng trờng hợp con ngời không
thể thoả mãn nhu cầu đợc tôn trọng của họ bằng hành vi có tính xây dựng. Khi
nhu cầu này trở nên mạnh thì một cá nhân có thể sử dụng những hành vi phá hoại
hoặc không chín chắn để thoả mãn mong muốn đợc chú ý, chẳng hạn một đứa trẻ
có thể tức giận, các cá nhân có thể giảm bớt giờ làm việc hoặc tranh luận với
công nhân khách hoặc với chủ.Vì vậy, sự nhận biết không phải lúc nào cũng đạt
đợc thông qua hành vi chín chắn hoặc hành vi thích hợp. đôi khi nó có thể có đợc
do những hành động mang tính phá hoại hoặc vô trách nhiệm. Thực tế, một vài

vấn đề xã hội mà chúng ta đang gặp phải hiện nay có thể có nguồn gốc sâu xa do
sự vỡ mộng về các nhu cầu đợc tôn trọng.
Hình3 Nhu cầu xã hội khi trở nên nổi trội trong cấu trúc nhu cầu.
Xã hội
An toàn Tôn trọng
Sinh lý Tự k.định mình
Hình 4 Nhu cầu đợc tôn trọng khi trở nên nổi trội trong cấu trúc n.cầu
Tôn trọng
Xã hội Tự k.định mình
An toàn
Sinh lý
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khi các nhu cầu đợc tôn trọng bắt đầu đợc thoả mãn đầy đủ, nhu cầu tự
khẳng định mình trở nên mạnh hơn, nh thể hiện qua (hình 5). Tự khẳng định mình
là nhu để tăng đến mức tối đa tiềm năng của một ngời. Một nhạc sĩ phải chơi
nhạc, một nhà thơ phải sáng tác, một vị tớng phải cầm quân, một giáo s phải
giảng dạy. Maslow nói : một con ngời có thể là gì, thì anh ta sẽ phải là cái
đó.Vì vậy, tự khẳng định mình là một mong muốn làm cái điều mà ngời ta có
thể đạt đợc. Các cá nhân thoả mãn nhu cầu này theo các cách khác nhau. Ơ ngời
này nó đợc thể hiện dới dạng mong muốn trở thành một bà mẹ lý tởng; ở ngời
khác nó lại đợc thể hiện trong việc quản lý một tổ chức; hoặc ở ngời khác nữa nó
có thể là nhà thể thao, còn ở ngời tiếp theolà nghệ sĩ chơi piano.
Hình 5 Nhu cầu tự khẳng định mình khi trở nên nổi trội trong cấu trúc
nhu cầu.
Tự khẳng định mình
Tôn trọng
Xã hội
An toàn
Sinh lý
Tuy nhiên cấu trúc nhu cầu trên không nhất thiết phải theo các phần nh

Maslow đã mô tả. Ông không có ý định nói rằng cấu trúc này có thể áp dụng phổ
biến. Maslow thấy đây là một mô hình đặc trng hầu nh luôn vận hành. Đồng thời
ông cũng nhận ra rằng, có rất nhiều ngoại lệ đối với xu hớng chung này.Ví dụ,
nhà lãnh đạo Ân Độ Mahatma Gandhi thờng xuyên hy sinh nhu cầu sinh lý và an
toàn để đáp ứng các nhu cầu khác, khi Ân Độ đang đấu tranh giành độc lập, thoát
khỏi chế độ thực dân Anh. Trong các sự kiện lịch sử của ông, Gandhi đã đI hàng
tuần mà không ăn uống để phản đối sự bất công của chính phủ Anh. Ông đã hành
động ở mức tự giác trong khi một số nhu cầu khác của ông không đợc thoả mãn.
b)Thuyết hai nguyên tố (Thuyết hệ động cơ - vệ sinh) của Fredrick Herzberg.
Phân tích dữ liệu thu thập đợc từ các cuộc phỏng vấn, Herzbergkết luận
rằng, con ngời có hai loại nhu cầu, về cơ bản độc lập với nhau và ảnh hởng tới
những hành vi theo những cách khác nhau. Ông thấy rằng, khi con ngời cảm thấy
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không thoả mãn với công việc của mình, họ rất lo lắng về môi trờng họ đang làm
việc. Mặt khác, khi cảm thấy hài lòng về công việc thì con ngời lại quan tâm tới
chính công việc. Herzberg đã gọi loại nhu cầu đầu tiên là vệ sinh hoặc các nhân tố
bảo trì : vệ sinh vì chúng mô tả môi trờng của con ngời và bảo đảm chức năng sơ
đẳng là ngăn ngừa sự chán nản của công việc, bảo trì vì chúng không bao giờ đợc
thoả mãn hoàn toàn chúng phải tiếp tục đợc duy trì. Ông gọi loại nhu cầu thứ
hai là các động cơ thúc đẩy vì dờng nh chúng có hiệu quả trong việc kích thích
con ngời thực hiện công việc tốt hơn.
Các nhân tố vệ sinh.
Các chính sách của công ty và công tác quản trị, giám sát các điều kiện
làm việc, các quan hệ liên nhân cách, tiền, vị thế và sự an toàn có thể đợc coi là
các nhân tố bảo trì. đây không phải là một phần vốn có bên trong cong việc, mà
chúng có liên quan tới các điều kiện trong đó công việc đợc thực hiện. Herzberg
đề xuất việc sử dụng độc đáo từ vệ sinh với ý nghĩa y học của nó (bảo vệ và môi
trờng). Ông thấy rằng, các nhân tố vệ sinh không tạo ra sự tăng trởng khả năng
sản xuất của công nhân ; chúng chỉ ngăn chặn những tổn thất do những hạn chế
của công việc gây ra khi công nhân vận hành công việc. Đây là nguyên nhân gần

đây Herzberg đã gọi chúng là những nhân tố bảo trì.
Các động cơ thúc đẩy.
Các nhân tố làm thoả mãn những cảm giác về thành tích, sự trởng thành
nghề nghiệp và sự thừa nhận rằng ai cũng có thể có những kinh nghiệm trong
công việc tuỳ theo mức độ khó khăn và phạm vi, đều đợc coi nh các động cơ thúc
đẩy. Herzberg đã xử dụng thuật ngữ này bởi vì những yếu tố ấy dờng nh có khả
năng gây ảnh hởng tích cực đến sự thoả mãn nghề nghiệp, thờng dẫn tới nâng cao
tổng sản phẩm đầu ra của ngời đó.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng1 - Động cơ thúc đẩy và các nhân tố vệ B sinh
Động cơ thúc đẩy Các nhân tố vệ sinh
Bản thân công việc Môi trờng
Thành tích Chính sách và quản trị
Sự thừa nhận thành tích đạt đợc Giám sát
Công việc có tính chất thử thách Điều kiện làm việc
Trách nhiệm cao Quan hệ liên nhân cách
Tăng trởng và phát triển Tiền, vị thế, sự an toàn
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu hệ đông cơ - vệ sinh đợc mở
rộng nhờ các nhà khoa học và kế toán nhằm bao quát mọi cấp độ của tổ chức, từ
giới quản lý cấp cao cho tới những ngời làm thuê Theo giờ. Ví dụ, trong một
nghiên cứu quy mô lớn tại nhà máy chế tạo công cụ texas, scott Meyers kết luận
rằng, thuyết động cơ - vệ sinh của Herzberg có thể dễ dàng giải trình thành hoạt
động giám sát ở tất cả các mức độ trách nhiệm. Đó là một khuôn mẫu dựa vào đó
các giám sát viên có thể đánh giá và lờng hết đợc triển vọng của sự ủng hộ thờng
xuyên qua các gợi ý có lợi, mà họ phải chịu đựng, và do đó, tăng cảm giác của
mình về khả năng tự tin và tự chủ. Có lẽ bằng ví dụ sẽ phân biệt rõ hơn về nhân
tố vệ sinh - động cơ, và giúp giải thích lý do phân loại các nhu cầu nh herzberg đã
làm.
Chúng ta hãy giả định một ngời đang có hệ động cơ cao và đang làm việc
ở mức độ 90% khả năng. Anh ta có mối quan hệ tốt với giám sát viên và hoàn

toàn thoả mãn với tiền lơng, đIều kiện làm việc của mình, và là thành vên của một
nhóm làm việc tâm đầu ý hợp. Giả sử giám sát viên của anh tabỗng nhiên chuyển
đi và thay thế vào đó là một ngời mà anh ta không thể làm việc đợc, hoặc giả sử
anh ta thấy rằng một ngời nào đó nhận thù lao nhiều hơn nhng công việc của ngời
này kém hơn so với công việc của anh ta. Những nhan tố này sẽ ảnh hởng tới
hành vi của cá nhân đó nh thế nào? Vì trình độ vận hành hoặc năng suất phụ
thuộc vào cả khả năng lẫn hệ động cơ nên những nhu cầu vệ sinh không đợc thoả
mãn này (giám sát và tiền) có thể dẫn tới hạn chế sản lợng. Năng suất bị tụt giảm
có thể trong trờng hợp không chủ định hoặc có thể ngời thợ không nhận thứcrõ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ràng đợc mình đang thụt lùi. Trong tất cả hai trờng hợp, năng suất sẽ giảm nh
minh hoạ trên hình 6.
Hình 6 - ảnh hởng của sự không thoả mãn các nhân tố vệ sinh.
90% (khi các nhân tố vệ sinh đợc thoả mãn)
----------------------- 60%(sau khi không đợc thoả mãn)

Trong minh hoạ trên, thậm chí nếu giám sát viên trớc đây của ngời công
nhân đó trở lại và lơng của anh ta dợc đIều chỉnh lên trên mức anh mong muốn,
thì năng suất của anh ta có lẽ chỉ tăng tới mức ban đầu. Ngợc lai, chúng ta hãy lấy
ví dụ cũng nh ngời đó và giả điịnh rằng không xảy ra tình trạng bất mãn nh trên,
anh ta sẽ làm việc với 90% khả năng. Giả sử anh ta có cơ hội trởng thành và thoả
mãn các nhu cầu động cơ của mình trong một môi tròng cho phép anh ta tự do
thử nghiệm những sáng kiến và sáng tạo nào đó quyết định giải quyết vấn đề và
gánh vác trách nhiệm. Tình huống này sẽ có ảnh hởng gì đối với cá nhân đó? Nếu
anh ta có thể đáp ứng đợc mông muốn của giám sát viên trong việc thực hiện các
trách nhiệm mới này, anh ta có thể vẫn làm việc với 90% khả năng, nhng với t
cách cá nhân, anh ta có thể đã có đủ chín chắn và trởng thành về khả năng và có
thể có năng suất cao hơn nữa, nh minh hoạ trên hình 7. Khả năng của anh ta tăng
lên.
Hình 7 - ảnh hởng của việc làm thoả mãn các động cơ thúc đẩy .

--------------------- 90%(sau khi có các động cơ thúc đẩy)
90%(trớc khi có cácđộng cơ thúc đẩy)

Các nhân tố vệ sinh khi đợc thoả mãn có xu hớng loại trừ sự bất mãn và
hận chế trong công việc, nhng chúng ít thúc đẩy cá nhân vơn tới đặc tính vận
hành cao hơn hoặc khả năng cao hơn. Tuy nhiên, sự thoả mãn các động cơ sẽ cho
phép cá nhân lớn lên và phát triển một cách chắc chắn, thôngthờng là tăng khả
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng. Do đó, các nhân tố vệ sinh ảnh hởng tớithiện ý hoặc hệ động cơ của cá
nhân.
c)Thuyết kỳ vọng của victor Vroom.
Chúng ta từng nói tới độ mạnh của nhu cầu. Vậy những yếu tố nào ảnh h-
ởng đến độ mạnh của nhu cầu. Victor Vroom đã đua ra một cách tiếp cận trong
thuyết kỳ vọng nhằm cố gắng trả lời câu hỏi này. Hơn nữa, thuyết của ông phù
hợp với điều khẳng định trớc đây của chúng ta là, nhu cầu đợc cảm nhận tạo nên
hành vi của con ngời.
Dói hình thức đơn giản hoá, nhu cầu đợc cảm nhận tạo nên hành vi, và
việc tạo lập hành vi đợc thúc đẩy này trong một công việc sẽ tăng lên, nếu một
ngời nhận thức đợc mối quan hệ tích cực giữa cố gắng và thực hiện. Hành vi đợc
thúc đẩy tiếp tục tăng lên, nếu có mối tơng quan thuận giữa việc thực hiện tốt
công việc và kết quả hoặc giải thởng, đặc biệt nếu kết quả hoặc giải thởng đợc
đánh giá cao. Do đó, có ba mối quan hệ nâng cao hành vi đợc thúc đẩy: một mối
quan hệ tích cực giữa cố gắng và thực hiện, một mối quan hệ tích cực giữa thực
hiện tốt và giải thởng và sự phân phát hoặc đạt đợc kết quả cao hoặc giải thởng đ-
ợc đánh giá cao. Hãy xem xét một ví dụ. Có một nhà quản lý mới hiểu rõ tuần
làm việc 60 giờ là điều kiện sống còn để thực hiện tốt công việc. Hơn nữa, nhà
quản lý cũng hiểu đợc là việc thực hiện tốt một công việc có thể sẽ là điều kiện để
thăng tiến sớm, và đi liền với điều kiện này là sự tăng lơng thêm 10%. Nếu chuỗi
sự kiện này xảy ra, ngời quản lý sẽ sẵn sàng làm việc tích cực hơn, củng cố thêm
lòng tin vào kiểu hành vi đó thành công nuôI dỡng thành công. Nhng nếu tình

hình thực hiện công việc đợc cải thiện, nhà quản lý không đợc thăng chức hoặc l-
ơng tăng ít hơn mức hy vọng thì động cơ thúc đẩy,sự tự nguyện và lòng tin của
anh ta sẽ giảm xuống.
III-Vai trò của tiền lơng với tạo động lực cho ngời lao
động.
Nh chúng ta đã biết tiền lơng là một trong những vấn đề nhạy cảm đợc cá
nhân, ngời lao động, tập thể và xã hội quan tâm.Vì nó liên quan đến đời sống
trực tiếp của từng ngời lao động, liên quan đến công tác-sản xuất của từng cơ sở
sản xuất kinh doanh, từng đơn vị hành chính-sự nghiệp cũng nh hoạt động của
toàn xã hội. Mỗi ngời lao động khi làm việc mục đích đầu tiên của họ là nhận về
một khoản tiền lơng mà khoản tiền lơng này trớc hết phải đủ để ngời lao động tái
sản xuất lại sức lao động mà họ đã bỏ ra để sản xuất ra những sản phẩm dựa trên
những nguyên nhiên vật liệu mà ngời sử dụng lao động đã sẵn có.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để tái sản xuất lại sức lao động mà ngời lao động đã bỏ ra thì ngời sử
dụng lao động phải đảm bảo cho ngời lao động có đủ lơng thực, thực phẩm tối
thiểu để duy trì cuộc sống hàng ngày và thời gian nghỉ ngơi, giải trí đủ để họ tái
sản xuất lại sức lao động mà họ đã bỏ ra. Để thoả mãn đợc nhu cầu này thì ngời
lao động phải nhận đợc một khoản tiền lơng từ ngời sử dụng sức lao động của
họ.Nếu số tiền lơng mà họ nhận đợc thấp chỉ đủ để họ duy trì đợc cuộc sống hàng
ngày thì đổi lại sức lao động mà họ bỏ ra để sản xuất sản phẩm cho doanh nghiệp
cũng chỉ là cầm chừng chứ không hề có sự cố gắng nâng cao năng suất lao động
trong sản xuất . Nếu tiền lơng mà họ nhận đợc cao thì đủ cho họ duy trì đợc cuộc
sống và thoả mãn đợc một số nhu cầu khác của họ. Chẳng hạn nh tiên lơng không
những đủ nuôi sống bản thân mà còn nuôi sống đợc gia đình và mua sắm đợc một
số đồ dùng phục vụ cho sinh hoạt Điều đó làm cho họ có thêm động lực để làm
việc.Họ làm việc không những tận tình có trách nhiệm với công việc của mình mà
còn có xu hớng tìm tòi học hỏi thêm kĩ năng kĩ xảo để làm việc đạt hiệu quả năng
suất lao động cao hơn để không phụ lòng mong mỏi của ngời sử dụng sức lao
động. Còn nếu tiền lơng quá thấp không đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho họ thì

sẽ dẫn đến tình trạng bê trễ trong công việc, khi làm việc thì tỏ ra mệt mỏi, không
muốn làm việc vì tiền lơng không đủ để họ tái sản xuất sức lao động.Và có xu h-
ớng đi tìm việc khác để có thể có mức tiền lơng cao hơn đủ để họ tái sản xuất sức
lao động và tái sản xuất mở rộng sức lao động của mình.
Trong cuộc sống hàng ngày thì nhu cầu là những đòi hỏi khách quan sẵn
có của con ngời.Nhu cầu phụ thuộc vào đIều kiện kinh tế xã hội nhất định, mà
chủ thể của nhu cầu là con ngời, nhóm ngời của cả xã hội.Nhu cầu không phải là
cố định, cứng nhắc mà luôn thay đổi theo hớng tăng lên theo sự phát triển của xã
hội.Trong cuộc sống nếu một nhu cầu đợc thoả mãn thì ngay sau nó lại phát sinh
thêm một nhu cầu mới cao hơn nhu cầu trớc. Để thoả mãn đợc nhu cầu thì con
ngời cần phải sống và làm việc một cách tích cực,để đáp lại sự làm việc tích cực
đó thì chính là tiền lơng.Tiền lơng có cao thì lợng nhu cầu đợc thoả mãn cũng cao
hơn, vậy tiền lơng không những là bộ phận cơ bản để tái sản xuất mở rộng sức lao
động mà tiền lơng còn giúp cho ngời lao động mua sắm đợc các vật dụng cần
thiết phục vụ cho nghỉ ngơi, giải trí và còn tích luỹ để đề phòng khi ốm đau. Do
đó tiền lơng là một bộ phận cơ bản quan trọng đối với mỗi con ngời vì nó đảm
bảo cho tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao động đồng thời còn đáp ứng
đợc cả nhu cầu về vật chất nữa.

×