Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (775.33 KB, 92 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*****




VŨ VĂN DUẨN



CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH





Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*****




VŨ VĂN DUẨN



CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Mã số: 60 34 05


LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH


NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ QUÂN



Hà Nội – 2014
MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC MẦM NON VÀ
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM
NON 7
1.1. Vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất

nƣớc 7
1.2. Những vấn đề chung về giáo dục mầm non 11
1.3. Tài chính và vai trò của tài chính đối với việc nâng cao chất lƣợng và
hiệu quả giáo dục mầm non 11
1.3.1. Nhận thức cơ bản về tài chính 11
1.3.2. Vai trò của tài chính đối với việc nâng cao chất lƣợng và hiệu quả
giáo dục mầm non: 13
1.3.3. Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non nƣớc
ta hiện nay: 19
1.4. Cơ chế quản lý tài chính giáo dục mầm non ở Việt Nam hiện nay 20
1.4.1.Thực trạng cơ chế tài chính giáo dục mầm non Việt Nam: 20
1.4.2. Một số tồn tại của cơ chế quản lý tài chính giáo dục mầm non nƣớc
ta hiện nay: 23
1.5. Kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới 25
1.5.1 .Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới 25
1.5.2 Những kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 30
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH
CỦA GIÁO DỤC MẦM NON TỈNH LẠNG SƠN THỜI GIAN QUA 32
2.1. Vài nét đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Lạng Sơn: 32
2.2. Cơ chế quản lý tài chính giáo dục mầm non công lập ở Lạng Sơn hiện
nay 34
2.3. Các nguồn tài chính đầu tƣ cho giáo dục mầm non hiện nay 35
2.4 Tình hình sử dụng tài chính đầu tƣ phát triển giáo dục mầm non ở Lạng
Sơn thời gian qua 40
2.5. Thực trạng GDMN tỉnh Lạng Sơn năm học 2013 - 2014 46
2.5.1.Quy mô phát triển giáo dục mầm non: 46
2.5.2. Công tác chăm sóc, nuôi dƣỡng và bảo vệ sức khoẻ cho trẻ: 47
2.5.3.Công tác xây dựng và nâng cao chất lƣợng đội ngũ CBQL và giáo viên:
48
2.5.4.Cơ sở vật chất, thiết bị và kinh phí cho giáo dục mầm non năm học

2013 - 2014: 48
2.6. Những tồn tại của giáo dục mầm non tỉnh Lạng Sơn: 49
2.7. Nguyên nhân của những tồn tại trên 52
2.8. Đánh giá các giải pháp tài chính hiện hành để thúc đẩy phát triển giáo
dục mầm non ở Lạng Sơn 53
2.9. Một số kinh nghiệm sử dụng các biện pháp tài chính thúc đẩy phát triển
giáo dục mầm non của một số địa phƣơng trong cả nƣớc. 55
2.9.1. Tỉnh Lào Cai 55
2.9.2.Tỉnh Tuyên Quang 58
2.10.Một số bài học kinh nghiệm vận dụng cho tỉnh Lạng Sơn về sử dụng
các giải pháp tài chính thúc đẩy giáo dục mầm non 60
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 63
3.1. Mục tiêu và quan điểm về sử dụng các giải pháp tài chính để thúc đẩy
phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2015 - 2020 tỉnh Lạng Sơn 63
3.1.1. Mục tiêu tổng quát 63
3.1.2.Mục tiêu cụ thể 64
3.1.3.Quan điểm 65
3.1.4. Nhu cầu kinh phí thực hiện các mục tiêu 67
3.2. Giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn 67
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84


i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT
Ký hiệu

Nguyên nghĩa
1
Bộ GD-ĐT
Bộ giáo dục-đào tạo
2
CSGD
Cơ sở giáo dục
3
CSVC
Cơ sở vật chất
4
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
5
CBQL
Cán bộ quản lý
6
CSGDMN
Cơ sở giáo dục mầm non
7
GTGT
Giá trị gia tăng
8
GDMN
Giáo dục mầm non
9
GDP
Thu nhập bình quân đầu ngƣời
10
GV

Giáo viên
11
KT-XH
Kinh tế- Xã hội
12
MN
Mầm non
13
NSNN
Ngân sách nhà nƣớc
14
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
15
THPT
Trung học phổ thông

ii
DANH MỤC CÁC BẢNG

STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Chi NSNN cho hoạt động GDMN trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011-2013
42
1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau hơn mƣời năm đổi mới và năm năm thực hiện “Chiến lƣợc phát triển
giáo dục 2001 - 2015”, giáo dục mầm non nƣớc ta đã có bƣớc phát triển đáng
kể về quy mô, loại hình trƣờng, lớp học vƣợt định mức chỉ tiêu chiến lƣợc đã
đề ra; tăng cƣờng các hoạt động phổ biến kiến thức và tƣ vấn nuôi dạy trẻ cho
gia đình. Đội ngũ giáo viên đƣợc đào tạo cơ bản và từng bƣớc nâng cao về chất
lƣợng, trình độ đào tạo. Tỷ lệ trẻ em đƣợc chăm sóc, giáo dục trong hệ thống
nhà trẻ và trƣờng lớp mẫu giáo ngày càng tăng. Chất lƣợng nuôi dƣỡng, chăm
sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục ngày càng tốt hơn; góp phần nâng cao
chất lƣợng, bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục.
Tuy nhiên, mức độ phát triển nói trên của giáo dục mầm non vẫn chƣa
đáp ứng đƣợc nhu cầu nuôi dạy trẻ và những đòi hỏi mới của sự nghiệp phát
triển đất nƣớc, thành tựu đạt đƣợc chƣa vững chắc, chƣa mang tình hệ thống.
Những yếu kém, bất cập về quy mô, mạng lƣới trƣờng, lớp, đội ngũ giáo viên
và cán bộ quản lý, cơ chế quản lý, chính sách xã hội, phƣơng thức, nội dung
chăm sóc, giáo dục trẻ, điều kiện cơ sở vật chất và một số vấn đề khác cần
đƣợc quan tâm, chăm lo phát triển.
Giáo dục mầm non gắn liền và chịu ảnh hƣởng trực tiếp của sự phát
triển chung của xã hội, không chỉ vì trẻ em là nguồn nhân lực tƣơng lai của
đất nƣớc mà còn vì cha mẹ các em là nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất ra của
cải vật chất cho xã hội. Trong hệ thống các bậc học, giáo dục mầm non là bậc
học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm,
thẩm mĩ của trẻ. Vậy mà bậc học này đang bị coi nhẹ và trên thực tế đang gặp
nhiều khó khăn.
2

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của bậc học có nhiều nét đặc thù
này, thủ tuớng đã ban hành quyết định số 239/QĐTTg phê duyệt đề án “Phổ

cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2010 – 2015”. Mục tiêu của đề
án này là hầu hết trẻ ở mọi miền đƣợc trang bị những kiến thức cơ bản về
tiếng Việt, đảm bảo chất lƣợng để trẻ vào lớp 1. Để hoàn thành đƣợc những
mục tiêu trên, phải trông chờ vào hệ thống các trƣờng mầm non trong và
ngoài công lập. Tuy nhiên, với hệ thống giáo dục mầm non tại các tỉnh, thành,
nhất là ở những vùng sâu, vùng xa nhƣ hiện nay, nhiều nhà quản lý giáo dục
lo ngại rằng, mục tiêu trên sẽ khó khả thi. Nhất là khi mà nguồn ngân sách
đầu tƣ cho bậc học mầm non, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất cho bậc học
này còn nhiều thiếu thốn, chƣa đảm bảo yêu cầu và phân bố không đồng đều.
Trong những năm gần đây, khi số trẻ mới sinh có chiều hƣớng gia tăng,
nhu cầu của gia đình phụ huynh tăng cao thì hệ thống các trƣờng mầm non,
nhất là các trƣờng công lập đã không đáp ứng đƣợc, gây ra tình trạng “quá
tải”. Đặc biệt, ở vùng thành phố, ngƣời dân có nhu cầu gửi trẻ rất lớn nhƣng
lại thiếu quỹ đất xây dựng trƣờng lớp. Việc xây dựng, quy hoạch các khu dân
cƣ đô thị chƣa gắn với quy hoạch đất đai để xây dựng trƣờng lớp cho bậc học
mầm non đã dẫn đến tình trạng nhiều trẻ em trong lứa tuổi mầm non ở đây
không đƣợc đến trƣờng. Trƣờng lớp thiếu nên không ít phụ huynh phải gửi
con ở những điểm trông giữ trẻ tƣ nhân không đảm bảo chất lƣợng, hoạt động
“chui”, không có giấy phép, điều kiện chăm sóc trẻ không đảm bảo, thậm chí
một số nơi gây ra tình trạng bạo hành đối với trẻ em.
Trong những năm qua, Lạng Sơn có những bƣớc phát triển rõ rệt trên
mọi phƣơng diện kinh tế-xã hội. Sự nghiệp giáo dục và đạo tạo của Tỉnh nói
chung và giáo dục mầm non nói riêng đã đƣợc các cấp lãnh đạo chính quyền
Đảng, Nhà nƣớc quan tâm, đầu tƣ thích đáng. Bằng nhiều nguồn vốn đầu tƣ,
mạng lƣới trƣờng lớp giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh đã có bƣớc tiến
3

đáng kể trong việc đầu tƣ nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới, đáp ứng một
phần nhu cầu chăm sóc giáo dục và học tập của trẻ, chính vì vậy giáo dục
mầm non đã có những bƣớc chuyển biến tích cực và đúng hƣớng, chất lƣợng

chăm sóc, giáo dục trẻ ở tất cả các trƣờng đƣợc từng bƣớc nâng lên. Mạng
lƣới trƣờng lớp cấp học mầm non trên địa bàn tỉnh đƣợc điều chỉnh, củng cố
và phát triển.
Tuy nhiên, so với yêu cầu của ngành học trong giai đoạn mới, mạng lƣới
trƣờng lớp và cơ sở vật chất trƣờng học của giáo dục mầm non trên toàn tỉnh vẫn
còn nhiều khó khăn và bất cập. Hầu hết các phòng học, phòng hiệu bộ còn thiếu
và không đúng tiêu chuẩn, có nhiều nơi phải học ghép với các cấp bậc khác, sân
trƣờng, nhiều nơi còn thiếu diện tích, vừa bụi vừa khô, vừa đọng nƣớc và mùa
mƣa nên ảnh hƣởng đến chất lƣợng chăm sóc giáo dục các cháu.
Hơn nữa do tác động của nhiều nhân tố nên nhu cầu gửi trẻ của nhân
dân trong thời gian tới sẽ không ngừng tăng lên, nhu cầu mạng lƣới trƣờng,
lớp phải tiếp tục đầu tƣ mở rộng.
Để thúc đẩy giáo dục mầm non phát triển, qua tìm hiểu thực trạng phát
triển giáo dục mầm non trong những năm gần đây, tôi mạnh dạn đƣa ra một
số một số giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non tỉnh Lạng
Sơn trong giai đoạn tới. Để thực hiện và hoàn thiện đƣợc luận văn tốt nghiệp
cao học của mình. Kính mong đƣợc sự đóng góp của giảng viên hƣớng dẫn và
các bạn để tôi hoàn thiện đề tài này. Đề tài: “Các giải pháp tài chính thúc
đẩy phát triển giáo mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu, dự án liên
quan đến phát triển giáo dục mầm non trên cả nƣớc nói chung và giáo dục
4

mầm non của tỉnh Lạng Sơn nói riêng. Có thể nêu một số công trình, đề án
tiêu biểu sau đây:
- Phan Thị Cúc (2012), Đổi mới và hoàn thiện các giải pháp tài chính
nhằm thúc đẩy xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục mầm non, Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đề án phát triển giáo dục mầm non

giai đoạn 2010-2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Nguyễn Mạnh Hùng (2013), Giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển
giáo dục mầm non Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Nguyễn Mai Liên (2012), Thực trạng và các giải pháp phát triển giáo
dục mầm non Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện quốc gia TP HCM.
- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn, Đề án phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2015- 2020.
- UBND tỉnh Lạng Sơn (2013), Quy hoạch mạng lưới các trường giáo
dục tiểu học, mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020.
- UBND tỉnh Lạng Sơn (2013), Quy hoạch phát triển sự nghiệp GiáoDục
Lạng Sơn đến năm 2020, Lạng Sơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của giáo dục mầm
non, vai trò của tài chính đối với việc thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non.
Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục mầm non và thực trạng sử dụng các
nguồn tài chính trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian qua, những kết quả
đạt đƣợc và những hạn chế, những nguyên nhân gây ra những hạn chế đó.
5

- Nhiệm vụ:
+) Hệ thống hóa lý luận về giáo dục mầm non, tài chính và vai trò của
tài chính trong thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non.
+) Phân tích thực trạng vai trò của tài trong thúc đẩy phát triển giáo dục
mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng.
+) Đề xuất các giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy phát triển giáo dục
mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:

Là những vấn đề lý luận và thực tiễn việc sử dụng các giải pháp tài chính
thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non ở Lạng Sơn thời gian qua.
* Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Chủ yếu đề cập tới thực trạng và các giải pháp tài chính
thúc đẩy giáo mầm non công lậpở Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay.
Về không gian và thời gian: tìm hiểu thực trạng sử dụng các nguồn tài
chính của giáo dục mầm non ở Lạng Sơn trong những năm trở gần đây. Trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp tài chính thúc đẩy giáo dục mầm non trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn phát triển.
5.Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, bám sát điều kiện
thực tế tại địa phƣơng, khái quát tài liệu có sẵn kết hợp phƣơng pháp nghiên
cứu thực tiễn: (phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia tổng kết kinh nghiệm), qua
đó xử lý số liệu: (dùng phƣơng pháp toán thống kê để xử lý số liệu, các kết
quả điều tra, khảo sát) để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
6

6.Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hóa, phân tích và hoàn thiện thêm nhận thức về khái niệm, vai
trò của giáo dục; sự cần thiết và vai trò của các giải pháp tài chính thúc đẩy
giáo dục – đào tạo phát triển.
Tổng kết và đánh giá thực trạng của giáo dục mầm non, những tác động
tích cực và hạn chế của nguồn tài chính, công cụ tài chính, cơ chế quản lý tài
chính đối với giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian
qua. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tài chính thúc đẩy sự nghiệp giáo dục
mầm non trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn phát triển.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc chia thành 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về giáo dục mầm non và vai trò của tài

chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non ở
Lạng Sơn thời gian qua.
Chƣơng 3: Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục mầm non
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
7

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC MẦM NON VÀ VAI TRÒ
CỦA TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
1.1. Vai trò của giáo dục mầm non đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
đất nƣớc
Giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng là nền tảng văn hóa
của một quốc gia, là điều kiện tiên quyết để phát triển toàn diện con ngƣời và
phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Muốn vậy, mỗi quốc gia phải thực
hiện tốt nhiệm vụ cơ bản là nâng cao hiệu quả sự nghiệp giáo dục nói chung
và giáo dục mầm non nói riêng.
Ở nƣớc ta từ thời phong kiến các vị vua đã quan tâm đến sự nghiệp
giáo dục, quan tâm đến hiền tài của đất nƣớc vì hiền tài là nguyên khí của
quốc gia. Giáo dục nói chung càng quan tâm sâu rộng hơn khi đất nƣớc ta
bƣớc vào thời kỳ mới, khi nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời. Nhân
ngày khai trƣờng đầu tiên, tháng 9 năm 1954, Bác Hồ đã gửi thƣ nhắn nhủ
học sinh cả nƣớc cố gắng học tập để rạng danh đất nƣớc, con ngƣời Việt
Nam: “ Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam
có được sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một
phần lớn công học tập của các cháu”.
Trong thời đại ngày nay, thời đại của CNH-HĐH, giáo dục có vai trò
đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Quốc gia nào càng có
nền giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng hiện đại và phát triển
thì đồng nghĩa với việc quốc gia đó có tầng lớp trí thức đông đảo, tạo điều

kiện thuận lợi để tiến sâu vào nền khoa học kỹ thuật đang phát triển của thế
giới, không ngừng đƣa nền kinh tế phát triển. Đánh giá sự tiến bộ về văn hóa
xã hội và sự phát triển kinh tế của một quốc gia, ngày nay ngƣời ta không chỉ
8

căn cứ vào tốc độ tăng trƣởng kinh tế mà còn dựa trên ba chỉ tiêu cơ bản là:
Thu nhập bình quân đầu ngƣời, tuổi thọ và trình độ giáo dục.
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trƣờng nhƣ hiện nay, cùng với sự
phát triển nhƣ vũ bão của khoa học kỹ thuật đòi hỏi phải có những con ngƣời
có trình độ hiểu biết, thực sự dám nghĩ dám làm. Đó là kết quả của một nền
giáo dục toàn diện.
Tuy nhiên, để giáo dục – đào tạo nói chung và giáo dục mầm non nói
riêng có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội không chỉ dừng lại
ở mức duy trì hệ thống giáo dục mà phải xây dựng đƣợc chiến lƣợc đầu tƣ
phát triển ngành giáo dục ngang tầm với những nhiệm vụ đặt ra. Bởi vì hệ
thống giáo dục nói chung nƣớc ta về cơ bản có tính logic. Giai đoạn đào tạo
sau là sự kế thừa và nâng cao kiến thức giai đoạn đào tạo trƣớc đó. Điều này
có nghĩa là mỗi giai đoạn đào tạo đều đóng vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp đối
với sự phát triển kinh tế xã hội.
Với sự đổi mới công nghệ, sự xuất hiện những công nghệ mới tự động
hóa, sử dụng ít lao động nhƣng đòi hỏi lao động phải có trình độ cao thì họ sẽ
bị loại ra khỏi dây chuyền sản xuất, trở thành gánh nặng xã hội cho đất nƣớc
nếu không qua đào tạo. Ngƣợc lại nếu đào tạo chu đáo, đầy đủ thì họ sẽ trở
thành nguồn nhân lực lành nghề có tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trƣởng
kinh tế của đất nƣớc.
Có thể nói, giáo dục – đào tạo nói chung luôn giữ vai trò quan trọng và
không thể thiếu đƣợc trong quá trình hình thành và hoàn thành nhân cách con
ngƣời, trong quá trình đạo tạo nguồn lao động cho đất nƣớc. Vì thế đầu tƣ vào
giáo dục nói chung có nghĩa là đầu tƣ phát triển kinh tế xã hội. Phân tích cụ
thể ta thấy đƣợc rõ vai trò của giáo dục nói chung nhƣ sau:

9

- Giáo dục nói chung có vai trò quan trọng đối với việc đào tạo nguồn
nhân lực có chất lƣợng cao từ đó góp phần tăng năng suất lao động và thúc
đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Một nền kinh tế muốn có sức mạnh để phát triển cần phải tạo ra đƣợc
một trình độ trí tuệ ngang tầm với thời đại và nguồn chất xám cũng nhƣ
nguồn nhân lực kỹ thuật luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động.
Có những quốc gia mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế nhƣng vẫn
có sự phát triển vƣợt bậc bởi họ biết đầu tƣ xứng đáng vào giáo dục nâng cao
chất lƣợng nguồn nhân lực. Nhƣ Nhật Bản mặc dù không có lợi thế về tài
nguyên thiên nhiên, song nƣớc Nhật vẫn phát triển thần kỳ sau chiến tranh thế
giới và đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Đó cũng là nhờ vào
chiến lƣợc phát triển giáo dục nói chung trong đó bao gồm cả chiến lƣợc phát
triển giáo dục mầm non nói riêng.
- Giáo dục nói chung có vai trò quyết định đến sự phát triển và làm chủ
khoa học công nghệ hiện đại – nhân tố đảm bảo sự tăng trƣởng cao và bền vững.
Vũ khí cạnh tranh kinh tế quyết định trong thế kỷ XXI là giáo dục và
kỹ năng của ngƣời lao động. Chính vì vậy, bất cứ một nƣớc đang phát triển
nào, nếu biết đề cao yếu tố tri thức và thông tin, bỏ qua chiến lƣợc phát triển
tuần tự, chuyển sang áp dụng chiến lƣợc nhảy vọt, tập trung công nghệ cao để
tiến hành công nghiệp hóa thì hoàn toàn có thể rút ngắn đƣợc thời gian CNH-
HĐH của mình. Chính sự tận dụng và phát huy những thành quả của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ mới đã làm cất cánh nhiều quốc gia với
những thành tựu phát triển KTXH vƣợt bậc.
- Giáo dục nói chung góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Công bằng xã hội là một động lực phát triển kinh tế xã hội, bởi nó là yếu
tố tác động trực tiếp đến lợi ích của chủ thể hành động. Và do vậy, nó kích thích
10


tính năng động, sáng tạo của mọi thành viên xã hội, duy động các nguồn nhân
lực, vật lực và tài lực trong và ngoài nƣớc vào phát triển kinh tế. Công bằng xã
hội cũng là mục tiêu cốt lõi của chính sách xã hội, nhằm hƣớng tới ổn định xã
hội, không ngừng nâng cao mọi mặt đời sống nhân dân và sự phát triển bền vững
của đất nƣớc. Tuy nhiên nếu xét tới công bằng xã hội trong tất cả các lĩnh vực thì
công bằng xã hội trong giáo dục nói chung là điều kiện tiên quyết không chỉ tiến
tới công bằng xã hội về thu nhập, mà còn để đạt tới công bằng xã hội nói chung.
Công bằng trong giáo dục đƣợc thực hiện bằng nhiều chính sách công bằng
trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn.
Trƣớc hết là đầu tƣ theo mục tiêu cho các địa bàn có nhiều khó khăn, phát hành
công trái giáo dục để hỗ trợ cho các tỉnh miền núi, vùng khó khăn xây dựng
trƣờng học kiên cố, đạt chuẩn chất lƣợng và thực hiện xóa đói giảm nghèo,
thông qua đó tạo nhiều cơ hội cho trẻ tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ giáo dục.
- Giáo dục nói chung góp phần quan trọng thúc đẩy việc hình thành và
chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ở Việt Nam, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH-HĐH đã
đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta xác định là con đƣờng tất yếu để Việt Nam nhanh
chóng thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển và trở thành một quốc gia
văn minh, hiện đại. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của giáo dục trong việc
thúc đẩy hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hƣớng
CNH-HĐH, văn kiện Đại hội Đảng X chỉ rõ “ Điều chỉnh hợp lý cơ cấu bậc
học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống giáo dục và đào tạo phù
hợp với yêu cầu học tập của nhân dân, yêu cầu phát triển kinh tế xã hội”.
Nhƣ vậy, ta thấy đƣợc vai trò to lớn và không thể thiếu đƣợc của giáo
dục – đào tạo nói chung đối với việc phát triển kinh tế xã hội. Qua đó cần tăng
cƣờng, mở rộng các nguồn lực tài chính đầu tƣ cho giáo dục nói chung và
11

giáo dục mầm non nói riêng, khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm năng về
nhân lực, vật lực, tài lực của toàn xã hội vào phát triển giáo dục, tạo điều kiện

cho hoạt động giáo dục nhanh hơn, có chất lƣợng và hiệu quả hơn.
1.2. Những vấn đề chung về giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non không phải là dạy trẻ thơ đọc chữ, học kiến thức
khoa học; đây là loại hình giáo dục đặc biệt, là sự chuẩn bị cho trẻ thơ những
tiền đề quan trọng trƣớc khi bƣớc vào giáo dục nhà trƣờng. Thông qua sự
chăm sóc ân cần, đúng phƣơng pháp khoa học, phù hợp với sự phát triển tâm-
sinh lý của trẻ, để nuôi dƣỡng thể chất và tâm hồn cho trẻ.
Các loại hình giáo dục mầm non hiện nay:
1 : Nhà trẻ trƣờng mẫu giáo
2 : Nhà trẻ trƣờng mẫu giáo hợp nhất
3 : Các loại hình giáo dục mầm non khác
- Nhà trẻ thu nhận trẻ từ ba tháng tuổi đến 36 tháng tuổi
- Trƣờng mẫu giáo thu nhận trẻ từ 36 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi
- Ngoài ra vì là vùng núi còn nhiều khó khăn trong giáo dục, việc huy
động trẻ đến trƣờng đúng độ tuổi còn hạn chế nên Lạng Sơn còn có các loại
hình giáo dục mầm non khác nhƣ Lớp mẫu giáo năm tuổi dành cho trẻ em
năm tuổi mà chƣa qua lớp mẫu giáo nhỏ .
1.3. Tài chính và vai trò của tài chính đối với việc nâng cao chất lƣợng và
hiệu quả giáo dục mầm non
1.3.1. Nhận thức cơ bản về tài chính
Tài chính là một phạm trù kinh tế khách quan, thuộc về lĩnh vực phân
phối. Tính chất đặc biệt thuộc về tài chính là sự phân phối chỉ diễn ra dƣới
12

hình thức giá trị và đƣợc thực hiện bằng con đƣờng tạo lập và sử dụng các
quỹ tiền tệ nhất định theo các mục đích nhất định.
Tài chính có các hoạt động cơ bản là :
Tổ chức nguồn lực tài chính của xã hội : Thông qua hàng loạt chính sách
tài chính để động viên các nguồn lực tài chính vào các quỹ tiền tệ.
Phân phối các nguồn lực tài chính đảm bảo cho hàng loạt mục tiêu phát

triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững an ninh quốc phòng.
Giám sát chặt chẽ việc tạo nguồn, phân phối nguồn và sử dụng các nguồn
tài chính.
Trong đời sống thực tiễn, hoạt động tài chính luôn gắn liền với hoạt động
KT-XH. Trong các lĩnh vực KT-XH khác nhau, khi các chủ thể ở đó tiến hành
các quan hệ tài chính khác nhau. Các nguồn tài chính gặp nhau tại một giao
điểm gọi là quỹ tiền tệ. Ở mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau có những quỹ
tiền tệ đặc thù đƣợc hình thành và sử dụng cho những mục đích khác nhau,
các hoạt động tài chính ở đó cũng có đặc điểm và vai trò riêng, nghĩa là ở đó
hình thành một mắt khâu tài chính độc lập. Tính đa dạng, phong phú đó của
các hoạt động tài chính là bắt nguồn từ tính đa dạng, phong phú của các hoạt
động kinh tế-xã hội mà hoạt động tài chính là một bộ phận. Tuy có có sự đa
dạng và khác nhau nhƣng các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực, các khâu
tài chính lại có mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau trong
sự vận động không ngừng của các nguồn tài chính kết hợp với nhau và cấu
thành hệ thống tài chính có nhiều mắt khâu tài chính hợp thành. Trong điều
kiện hiện nay ở nƣớc ta có các khâu tài chính sau: Tài chính doanh nghiệp;
Bảo hiểm; Tín dụng; Tài chính các tổ chức xã hội và tài chính hộ dân cƣ.
Trong hệ thống tài chính nƣớc ta, NSNN là khâu chủ đạo. Đây là một tụ
điểm các nguồn tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung
13

của Nhà nƣớc với mục đích phục vụ cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc
các cấp và thực hiện chức năng của Nhà nƣớc. Còn tài chính doanh nghiệp là
khâu cơ sở, là một tụ điểm của các nguồn tài chính gắn với hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Các khâu trong hệ thống tài chính đặc biệt là NSNN đóng vai trò quan
trọng đối với sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội nói chung, trong đó có
hoạt động giáo dục-đào tạo.
Do nhu cầu kinh phí phát triển sự nghiệp giáo dục mầm non rất lớn, nên

ngoài nguồn NSNN rất cầ và buộc phải thực hiện xã hội hóa nguồn lực. Trong
điều kiện đổi mới quản lý kinh tế, phát huy quyền tự chủ của các đơn vị cơ sở,
thực hiện phƣơng châm đa dạng hóa nguồn vốn cho xã hội hóa giáo dục mầm
non, các nguồn ngoài ngân sách có xu hƣớng tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn
trong toàn bộ nguồn kinh phí cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục mầm non
trong nƣớc. Tài chính của các tổ chức xã hội và tài chính hộ dân cƣ đóng vai trò
quan trọng trong việc thực hiện xã hội hóa giáo dục nhƣ: tiền ủng hộ các cơ
quan, doanh nghiệp cho các quỹ khuyến học, quỹ giúp đỡ học sinh nghèo vƣợt
khó Các khoản tặng bieus cho các trƣờng bằng hiện vật nhƣ máy vi tính, đồ
dùng thí nghiệm, đồ chơi, hình ảnh minh họa, sách, truyện Tiền tài trợ của các
tổ chức thông qua các dự án, chƣơng trình góp phần tăng nguồn đầu tƣ cho
hoạt động giáo dục mầm non để nâng cấp các cơ sở trƣờng học, lớp học, cải
thiện đời sống đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, nhằm nâng cao chất lƣợng
dạy và học. Giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nƣớc, đề cao nghĩa vụ gắn với
trách nhiệm của mỗi đối tƣợng đƣợc thụ hƣởng giáo dục mầm non.
1.3.2. Vai trò của tài chính đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả
giáo dục mầm non:
Giáo dục mầm non cần phải đƣợc quan tâm phát triển về trí tuệ, đạo đức,
thẩm mỹ và thể chất Nâng cao chất lƣợng giáo dục mầm non là nâng cao
14

hơn nữa khả năng tƣ duy sáng tạo, khả năng trí tuệ và đạo đức mà một con
ngƣời cần có sau này, thông qua các hoạt động vui chơi để giáo dục, bồi
dƣỡng cho các cháu những đức tính tốt, chuẩn bị hành trang tốt nhất cho các
cháu bƣớc vào các cấp học tiếp, giáo dục mẫu giáo tốt sẽ chuẩn bị cho một
nền giáo dục tốt, là điểm khởi đầu để hình thành nhân cách con ngƣời. Chất
lƣợng giáo dục mầm non phụ thuộc vào 4 nhân tố chính, bao gồm: Chƣơng
trình, phƣơng pháp giảng dậy; đội ngũ giáo viên ; Xây dựng cơ sở vật chất,
trang thiết bị cho dậy và học; quản lý giáo dục. Các nhân tố đó có thực sự
nâng cao chất lƣợng hiệu quả hay không là phụ thuộc vào liều lƣợng tài chính

đầu tƣ cho nó.
Tài chính Nhà Nƣớc mà cụ thể là Ngân sách Nhà Nƣớc đóng vai trò chủ
đạo trong việc nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục mầm non, thông qua
quan hệ tín dụng Nhà nƣớc có thể huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi
để đầu tƣ cho giáo dục mầm non trong việc nâng cấp trang thiết bị dạy học,
đầu tƣ cho đội ngũ giáo viên và cho từng cháu.
Bằng các hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian nhƣ ngân hàng
thƣơng mại, các công ty bảo hiểm có ý nghĩa quyết định trong lĩnh vực tiền tệ,
đi vay để cho vay, nên đã thu hút đƣợc khối lƣợng lớn tiền gửi hình thành các
quỹ tiền tệ, để cung cấp vốn cho các hoạt động trong nền kinh tế nói chung và
hoạt động giáo dục nói riêng.
Với chức năng là công cụ kiểm soát các hoạt động giáo dục nói chung và
giáo dục mầm non nói riêng, tài chính có thể phát hiện các bất hợp lý trong
đầu tƣ, để kiến nghị và uốn nắn các sai phạm về tài chính, chống tham ô, lãng
phí, chi tiêu bất hợp lý, nhờ đó nâng cao hiệu quả giáo dục mầm non nhƣ:
Bằng các quan tài chính mở rộng hợp tác liên doanh về giáo dục mầm non thu
15

hút vốn từ các nguồn ngoài tỉnh, ngoài ngân sách, gián tiếp góp phần nâng
cao đạo đức văn hóa.
Thông qua quan hệ tài chính đƣợc tính vào chi phí cho một ngƣời học, ở
một cấp, một bậc học để có căn cứ đầu tƣ sát với thực tế trong giáo dục
mầm non.
Nhƣ vậy nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục mầm non có mối liên
quan chặt chẽ với các quan hệ tài chính. Tài chính có vai trò quyết định trong
việc đổi mới chƣơng trình, phƣơng pháp giảng dạy; đào tạo và bồi dƣỡng đội
ngũ giáo viên, đầu tƣ cho xây dựng phòng học, phòng ăn, ngủ, các trang thiết
bị vui chơi của các cháu Ngoài ra quan hệ tài chính còn là công cụ để phân
tích, đánh giá, quản lý giáo dục có hiệu quả hay không.
Các nguồn tài chính thúc đẩy giáo dục mầm non phát triển bao gồm:

*Nguồn NSNN:
Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc
cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm
để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Theo Luật của
Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 01/2002/QH11 ngày
16 tháng 12 năm 2002 về NSNN.
Trong tất cả nguồn lực đầu tƣ cho sự nghiệp giáo dục mầm non thì
nguồn NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn
nhất, là yếu tố chính quyết định đối với việc hình thành mở rộng và phát triển
hệ thống giáo dục mầm non quốc dân.
Thực tế ở nƣớc ta hệ thông trƣờng công còn chiếm tỷ lệ lớn, việc phát
triển các trƣờng bán công, dân lập, tƣ thục chƣa nhiều, vấn đề xã hội hóa, đa
dạng hóa các loại hình trƣờng lớp chƣa mạnh, do vậy chƣa thu hút đƣợc các
16

nguồn lực khác đầu tƣ cho giáo dục mầm non, nên sự đầu tƣ NSNN chiếm ƣu
thế trong tổng chi cho hệ thống giáo dục mầm non, thể hiện:
+ Nguồn NSNN là nguồn tì chính cơ bản, to lớn và ổn định để duy trì và phát
triển hệ thống giáo dục mầm non theo định hƣớng và mục tiêu của Nhà nƣớc.
+ Đầu tƣ NSNN tạo điều kiện ban đầu để khuyến khích nhân dân đóng
góp sửa chữa trƣờng lớp, thu hút các nguồn từ lao động sản xuất, hợp đồng
nghiên cứu ứng dụng khoa học của các trƣờng, đóng góp của các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm thực hiện phƣơng châm Nhà nƣớc
và nhân dân cùng chăm lo đến sự nghiệp trồng ngƣời.
+ Ngân sách đảm bảo từng bƣớc ổn định đời sống của đội ngũ giáo viên.
+ NSNN có vai trò điều phối cơ cấu giáo viên trong ngành. Thông qua định
mức chi cho giáo dục mầm non, hàng năm góp phần định hƣớng cơ cấu các cấp
học, mạng lƣới các trƣờng. Tập trung NSNN cho những mục tiêu chƣơng trình
quốc gia nhƣ huy động 100% trẻ đúng tuổi đến trƣờng, phổ cập giáo dục mầm
non, xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo chuẩn giáo dục mầm non.

Vốn NSNN chi cho giáo dục mần non đƣợc tạo lập từ nguồn chi thƣờng
xuyên và chi đầu tƣ phát triển trong NSNN. Nguồn NSNN cho hoạt động giáo
dục mầm non chính là nguồn tài chính cơ sở để Nhà nƣớc thực hiện nội dung,
chiến lƣợc ban đầu, là cơ sở để Nhà nƣớc thực hiện việc kiểm soát vĩ mô và
cấn đối tổng thể nhu cầu chi cho giáo dục mầm non.
Có thể nói đầu tƣ của NSNN cho giáo dục mầm non là điều kiện ban đầu
để khuyến khích nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các thành phần kinh tế
tham gia vào các hoạt động giáo dục mầm non, đóng góp và các hoạt động
giáo dục nhằm thúc đẩy sự phát triển giáo dục mầm non, nâng cao chất lƣợng
dạy và chơi của trẻ.
17

Chi NSNN cho giáo dục mầm non bao gồm:
- Chi thƣờng xuyên của NSNN cho giáo dục mầm non là khoản chi gắn
liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thƣờng xuyên về phát triển giáo dục
mầm non cả nƣớc thuộc phạm vi cấp phát vốn của NSNN. Vốn NSNN để đáp
ứng nhu cầu chi thƣờng xuyên cho giáo dục đƣợc thể hiện qua cấu cấu các
nhóm mục chi sau:
+ Nhóm chi cho con ngƣời gao gồm: Chi lƣơng theo ngạch bậc, theo quỹ
lƣơng đƣợc duyệt, lƣơng tập sự và lƣơng hợp đồng dài hạn. Khoản thứ hai
trong chi cho con ngƣời là chi phụ cấp lƣơng bao gồm phụ cấp chức vụ, phụ
cấp độc hại, phụ cấp đứng lớp vv Tiếp đến là khoản chi thƣởng giáo viên,
phúc lợi tập thẻ vv
+ Nhóm chi quan trọng thứ hai đó là nhóm chi cho nghiệp vụ: nó đáp
ứng việc mua tƣ liệu, sách giáo khoa, đồ dùng học tập, mô hình giảng dạy
khoản chi này ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng giáo dục mầm non, nó giúp
thầy cô truyền đạt các thông tin đến các cháu một cách hiệu quả cao nhất.
+ Nhóm chi quản lý hành chính nhằm đảm bảo cho nhu cầu vật chất
phục vụ cho hoạt động của Nhà trƣờng, bao gồm: Chi hội thảo, công tác phí,
dịch vụ công

+ Nhóm chi mua sắm, sửa chữa các thiết bị, đồ dùng giảng dạy, đồ chơi vvv
* Thuế:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc. Nhà nƣớc dùng
quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình
thành quỹ Ngân sách nhà nƣớc nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nƣớc.
18

Thuế là số tiền thu của các công dân nhằm huy động tài chính cho chính
quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế
- xã hội.
Thông qua các chính sách ƣu đãi về thuế suất và miễn giảm thuế thu
nhập doanh nghiệp đối với các CSGD ngoài công lập, đồng thời mở rộng thời
gian ƣu đãi thuế tạo điều kiện cho các CSGD phát triển. Tiếp tục thực hiện
miễn thuế GTGT đối với hoạt động dạy học, phục vụ trực tiếp cho hoạt động
dạy và chơi của trẻ. Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa trong nƣớc chƣa
sản xuất đƣợc
*Tín dụng:
Tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập
và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho
quá trình tái sản xuất theo nguyên tắc hoàn trả.
Đối với các dự án đầu tƣ cho giáo dục mầm non thì Nhà nƣớc cũng cần
có các chính sách khuyến khích về tín dụng nhƣ: Mở rộng hạn mức tín dụng
đối với các dự án đầu tƣ cho giáo dục mầm non, tháo gỡ rào cản về thế chấp,
tạo điều kienj cho các CSGD có thể vay vốn. Giảm chí phí tiếp cận nguồn vốn
tín dụng bằng cách giảm lãi suất tiền vay, đơn giản hóa thủ tục hành chính,
hạn chế các chi phí khác cho các CSGD đi vay vốn tín dụng Việc thực hiện
các khoản vay này ngoài Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện thì nên cần
khuyến khích các tổ chức tín dụng khác thực hiện.
*Huy động từ các nguồn lực khác:
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu sắc, nền kinh tế của

nƣớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng việc huy động các nguồn tài chính
khác, ngoài nguồn NSNN, đầu tƣ phát triển giáo dục đào tạo là rất quan trọng,
bao gồm: tiền học phí của học sinh, tiền đóng góp xây dựng trƣờng; lớp do

×