Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

Bài viết số 3 lớp 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (144.82 KB, 19 trang )

Bài viết số 3 lớp 12
đề 1: a) Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu) được biểu
hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu
dẫn chứng minh hoạ.
b) Phân tích tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền Tây Bắc Bộ
và những người đồng đội trong những bài thơ sau:
Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khủyu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đềm đêm Mường Hịch cọp trêu người
nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Bài làm
a) Gợi Ý :
A- Mở Bài
Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một thành
tựu quan trọng của thơ ca kháng chiến chống Pháp.Bài thơ được Tố
Hữu sáng tác vào tháng 20 năm 1954 nhân một sự kiện lịch
sử.Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu về thủ đô Hà Nội.Từ
điểm xuất phát ấy bài thơ thể hiện tình gắn bó thắm thiết giữa người
ra đi và người ở lại,giữa miền xuôi và miền ngược,giữa người cán
bộ với Việt Bắc quê hương của cách mạng,với đất nước và nhân
dân,với Đảng và Bác Hồ,với cuộc kháng chiến đã thành kỉ niệm sâu


nặng trong tâm hồn.
Như thế nghĩa là trong niềm vui thắng lợi và đón nhận cuộc sống
thanh bình nhà thơ vẫn không quên tình nghĩa gắn bó trong những
năm gian khổ đã qua và coi đây là cội nguồn sức mạnh tinh thần to
lớn cho những ngày hiện tại và tương lại.Có thể nói,bài thơ Việt Bắc
là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca mà cội nguồn sâu xa của nó
là tình cảm quê hương đất nước,là truyền thống ân nghĩa,đạo lý thuỷ
chung của dân tộc.
B-Thân bài
1.Việt Bắc với vẻ đẹp của cảnh và người
a) Nét độc đáo của cảnh Việt Bắc.
b)Sự hoà quyện giữa cảnh và người.

Trước hết với kiểu kết cấu đối đáp rất đậm đà tình nghĩa của bài thơ
Việt Bắc là tình yêu với thiên nhiên đất nước được biểu hiện cụ thể
qua sự gắn bó với núi rừng Việt Bắc trong nỗi nhớ của người cán bộ
sắp về xuôi.Cảnh Việt Bắc hiện ra những vẻ đẹp hiện thực và thơ
mộng,thi vị gợi rõ nét độc đáo của Việt Bắc so với nhiều miền quê
khác của đất nước.Việt Bắc đó là hình ảnh “Trăng lên đầu núi,nắng
chiều lưng nương”,hình ảnh bản làng mờ trong sương sớm,những
bếp lửa hồng trong đêm khuya,là những “rừng nứa bờ tre,ngòi
thưa,sông Đáy” là tiếng mõ trâu về trong rừng chiều,tiếng “Chày đêm
nện cối đều đều suối xa”.
Nhưng có lẽ nổi bật nhất là nỗi nhớ của Tố Hữu về Việt Bắc là sự
hoà quyện với người,là ấn tượng không thể phai mờ về những người
dân Việt Bắc cần cù trong lao động,thuỷ chung trong nghĩa tình:

Ta về mình có nhớ ta

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.


Qua đó có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện ra với những vẻ đẹp
phong phú,đa dạng,thay đổi theo thời tiết,từng mùa.Gắn với cảnh
tượng ấy là con người giản dị,người đi làm nương rẫy,người đan
nói,người hái măng…Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của
mình họ đã góp phần tạo ra sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng
chiến.Chính tình nghĩa gắn bó và san sẻ cũng nhau chịu đựng gian
khổ thiếu then,cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề,khó khăn giữa
nhân dân với bộ đội và cán bộ tất cả càng làm cho hình ảnh Việt Bắc
sáng ngời trong hồi tưởng của nhà thơ.Việt Bắc- đó là hình ảnh
những mái nhà “Hắt hiu lau xám,đậm đà lòng son”,hình ảnh người
mè “Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”,là những ngày tháng đồng cam
cộng khổ:

Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa,chăn sui đắp cùng

Có thể nói âm hưởng trữ tình vang vọng suet b ài thơ tạo nên khúc
ca ngọt ngào,đằm thắm của tình yêu đồng chí với đồng bào,của tình
yêu thiên nhiên,yêu đất nước,yêu đời.
2.Việt Bắc hào hùng trong chiến đấu
a)Khung cảnh sử thi
b)Vai trò Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến.
Theo dòng hồi tưởng của Tố Hữu bài thơ dẫn ta vào khung cảnh Việt
Bắc chiến đấu với những hình ảnh hào hùng,những hoạt động sôi
nổi,những âm thanh náo nức,phấn chấn.ở đây bài thơ tràn đầy âm
hưởng anh hùng ca mang dáng vẻ sử thi hiện đại bởi vì chỉ cần miêu
tả khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc,Tố Hữu đã nêu bật khí thế
chiến đấu vô cùng mạnh mẽ của dân tộc.


Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá,muôn tàn lửa bay.

Dân tộc ấy đã vượt qua bao gian khổ hi sinh để lập nên những kì
tích,những chiến công ,đèo Giàng,sông Lô,phố Ràng,Hoà Bình,Tây
Bắc,Điện Biên… Nhưng Tố Hữu không thể miêu tả diễn biến của
cuộc kháng chiến mà chỉ còn đi sâu vào lý giải những cội nguồn sức
mạnh đã dẫn tới chiến thắng.Đó là sức mạnh của lòng căm thù :
“Miếng cơm chấm muối,mối thù nặng vai”,sức mạnh tình nghĩa thủy
chung: “Mình đây ta đó,đắng cay ngọt bùi” nhất là sức mạnh của khối
đoàn kết toàn dân,của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với
thiên nhiên-tất cả tạo thành hình ảnh “đất nước đứng lên”

Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội,rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.

Đặc biệt bằng những lời thơ trang trọng mà tha thiết Tố Hữu đã đi
sâu nhấn mạnh,hình ảnh và vai trò của Việt Bắc như là quê hương
của cách mạng,căn cứ vững chắc của cuộc kháng chiến.Trong
những năm đen tối trước cách mạng,hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ
mờ xa “mưa nguồn suối lũ,những mây cùng mù” cho đến xác định
như chiến khu kiên cường nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu

tranh,nơi sản sinh nhiều địa danh đã đi vào lịch sử dân tộc.

Mình về có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật,thủa còn Việt Minh
Mình đi mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình ,cây đa.

Trong những năm tháng kháng chiến gian lao Việt Bắc là nơi có “cụ
Hồ soi sáng”,có “Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công để kiên
định niềm tin yêu của cả nước đối với Việt Bắc,Tố Hữu lại dùng
những câu thơ mang sắc thái ca dao dạt dào những âm hưởng
nghĩa tình của hồn thơ dân tộc.

Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền
Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên cộng hoà.
3.Việt Bắc trong cảm hứng về ngày mai
a)Vẽ ra viễn cảnh tươi đẹp
b)Dự đoán về sự tha hoá.
Từ tình cảm yêu mến,gắn bó với cảnh và người Việt Bắc từ niềm tin
tưởng vững chắc vào sức mạnh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Bác Hồ,Tố Hữu vẽ ra viễn cảnh tươi đẹp của Việt Bắc ngày
mai trong khung cảnh xây dựng cuộc sống mới hoà bình,phồn vinh.
Ngày mai rộn rã sơn khê
Ngược xuôi tàu chạy ,bốn bề lưới giăng
Than Phấn Mễ,thiết Cao Bằng
Phố phường như nấm như măng giữa trời.
Những hình ảnh ấy là mơ ước,khát vọng và cũng là tình nghĩa mà
những người cán bộ kháng chiến muốn đền đáp nơi từng là cội

nguồn của cách mạng,nơi đã cưu mang,che chở họ trong những
ngày đầy gian nan hi sinh.
+Đặc biệt ở những dòng cuối cùng của bài thơ người đọc càng hiểu
sâu thêm sự sắc sảo,nhạy bén của bài thơ Tố Hữu khi hướng về
ngày mai,nhà thơ không quên,một nét đẹp trong đạo lý truyền thống
của dân tộc đó là tình nghĩa thuỷ chung,có mới mà không nới cũ,luôn
nghĩ đến nhau và vì nhau giữa miền xuôi và miền ngược,giữa cán bộ
và nhân dân của mình.
Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông còn nhớ bản làng
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?
Có thể coi đây là lời cảnh báo về sự tha hoá khi có sự thay đổi môi
trường,khi người ta có thể quên đi tất cả tình nghĩa năm xưa để chỉ
nghĩ đến mình và vì mình.Cho đến hôm nay những lời thơ ấy của Tố
Hữu vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự chứ không hề cũ xưa.
C-Kết luận
Nhìn chung Việt Bắc là một bài thơ trữ tình,chính trị bởi vì thơ ở đây
là thơ với căn cứ cách mạng,với truyền thống cách mạng,với đất
nước và nhân dân.Nhưng quan trọng hơn cả chuyện công tác cái đã
làm cho người ta cảm động là bài thơ đã thể hiện hết được truyền
thống ân nghĩa của dân tộc Việt Nam,thể hiện một khát vọng về một
chiến sĩ chan hoà tình yêu thương,hạnh phúc,thanh bình,bền vững
mãi mãi trên đất , quê hương
b) Xem bài làm câu b tại đây.

Bài viết số 3 lớp 12 đề 2: a) Vẻ đẹp bi tráng cùa hình tượng
người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
b) Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và con
người Việt Bắc trong đoạn thơ sau:

Ta về, mình có nhớ ta
Ta vê, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Bài làm
a)

Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên
hình ảnh của những anh hùng vô danh nhưng văn học với sứ mệnh
thiêng liêng của nó đã khắc tạc một cách vĩnh viễn vào tâm hồn
người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã
xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. ở
trong thơ Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử
như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ
chống thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là bức tượng đài đã làm
cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những
tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian
“Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hnội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
“Tây Tiến” của Quang Dũng là dòng hồi ức vô cùng thương nhớ về
những đồng đội của
nhà thơ, những người đã từng sống, từng chiến đấu nhưng cũng có
người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ yêu thương,
nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên
cương hay miền viễn xứ. Chính vì thế QDũng không chỉ dựng lại cả
một hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến trên những chặng đường hành
quân gian khổ hy sinh mà “đời vẫn cứ tươi” như ở 14 dòng thơ đầu
tiên. Và QDũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người
lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm
lớn lao là tình quân dân. QDũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng
dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà
thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những
thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn
tượng mạnh để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc
hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dtộc. Đó là
bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không
gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ
“Tây Tiến đoàn quân … khúc độc hành”
Bức tượng đài người lính Tây Tiến trước hết được khắc hoạ lên từ
những đường nét nhằm tô đậm cuộc sống gian khổ của họ. Nếu như
ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong đoàn
quân mỏi trong câu:
” Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ”
hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm
lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không
mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của QDũng
đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải
chịu đựng. Những cơn sốt rét

rừng làm tóc họ không thể mọc được (chứ không phải họ cố tình cạo
trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì
sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu
lá nguỵ trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế giới tinh
thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh
anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ
dũng mãnh như hổ báo, hùm beo. Cái giỏi của QDũng là mô tả
người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng vẫn gợi ra âm
hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ “Tây Tiến đoàn
binh không mọc tóc” với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của
câu thơ như “tiến”, “mọc tóc”. Nhờ những thanh trắc ấy mà âm
hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một đoàn
binh. 2 chữ “đoàn binh” âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức
nghiêm trang, hùng dũng. Và đặc biệt hai chữ “Tây Tiến” mở đầu câu
thơ không chỉ còn là tên gọi của đoàn binh nữa, nó gợi ra hình ảnh
một đoàn binh dù đầu không mọc tóc vẫn đang quả cảm tiến bước
về phía Tây. Thủ pháp tương phản mà QDũng sử dụng ở câu thơ
“Quân xanh màu lá dữ oai hùm” không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh
tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân
tộc. ở đây, nhà thơ không chỉ muốn nói rằng những người lính Tây
Tiến như chúa sơn lâm, không phải muốn “động vật hoá” người lính
Tây Tiến mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng
một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca
ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ
“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu
Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu” Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng
sơn” cũng viết
“Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu Thể diện sài long xâm lược
quân”
Có thể nói QDũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc

phương Đông để câu thơ mang âm vang của lsử, hình tượng người
lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dtộc. Đọc
câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy âm
hưởng của một hào khí ngút trời Đông á.
Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi
QDũng bổ sung vào bức tượng
đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng
về Thủ đô. Người lính dẫu ở
nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về
HNội. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:
“Từ thuở mang gươm đi mở nước Nghìn năm thương nhớ đất Thăng
Long”
Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” mà niềm
thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Đã một thời,
với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ vẻ
đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian
khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người
Việt Nam. QuDũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc –
những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính
là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây
Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông
mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ
vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ
đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa.
Bức tượng đài người lính Tây Tiến đã được khắc tạc bằng những
nguồn ánh sáng tương phản
lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn. Từng đường nét đều như nổi

bật và tạo được những ấn tượng mạnh mẽ. Đây cũng là đặc trưng
của thơ QDũng.
Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh
một đoàn binh với những
bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm
hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến
được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ.
Nếu chỉ đọc từng câu thơ, chỉ phân tích từng hình ảnh riêng rẽ độc
lập, người ta dễ cảm nhận một cách bi luỵ về cái chết của người lính
mà thơ ca kháng chiến thuở ấy rất ít khi nói đến. Bởi thơ ca kháng
chiến phần lớn chỉ quan tâm đến cái hùng mà không quan tâm đến
cái bi. Nhưng nếu đặt các hình ảnh, các câu thơ vào trong chỉnh thể
của nó, ta sẽ hiểu QDũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh
của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng
những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng.
Có thể thấy câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” nếu tách riêng
ra rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết, về
nấm mồ của người lính Tây Tiến ở nơi “viễn xứ”. Từng chữ từng chữ
dường như mỗi lúc một nhấn thêm nốt nhạc buồn của khúc hát hồn
tử sĩ. Chẳng phải thế sao? Nói về những nấm mồ, lại là những nấm
mồ “rải rác” dễ gợi sự hoang lạnh, lại là “rải rác” nơi “viễn xứ”, những
nấm mồ ấy càng gợi sự cô đơn côi cút. QDũng muốn nói tới nơi yên
nghỉ của những người đồng đội
Trong Chinh phụ ngâm:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
“Hồn tử sĩ gió về ù ù thổi Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn”
Tuy nhiên với câu thơ thứ hai, ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải
rác nơi biên cương đã trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của
nhân dân, của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ của những người

con anh dũng
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Đồng thời cũng chính câu thơ thứ 2 đã làm cho những nấm mồ rải
rác kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng niệm, của Tổ
quốc đối với người lính đã vì tiếng gọi của chiến trường mà hiến
dâng tuổi xanh của mình. Trong thơ QDũng luôn là một sự nâng đỡ
nhau của nhiều hình ảnh như vậy.
Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ
“Áo bào thay chiếu anh về đất”
Bao nhiêu thương yêu của QDũng trong một câu thơ như vậy về một
đồng đội của mình. Ai bảo QDũng không xót thương những người
đồng đội của mình ra đi trong cách tiễn đưa ấy, cảnh tiễn đưa với
bao thiếu thốn, khó khăn, cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì
sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận. Lại trong cảnh kháng chiến còn
rất khó khăn nên tiễn đưa người chết không có cả một chiếc quan
tài. Hoàng Lộc trong “Viếng bạn” cũng đã viết về cảnh tiễn đưa như
thế
” Ở đây không manh ván Chôn anh bằng tấm chăn Của đồng bào
Cứa Ngàn Tặng tôi ngày sơ tán”
Chỉ có điều câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà
đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn
đưa trở nên trang nghiêm, cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc
chiếu cũng không có, chỉ có chính tấm áo của người lính. Dù hiểu
theo cách nào thì cũng phải thấy QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn
đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người
lính đã được coi là sự trở về với đất nước, với núi sông. Cụm từ “anh
về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi
thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Mạch cảm xúc ấy đã dẫn
tới câu thơ đầy tính chất tráng ca “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm

hứng lãng mạn, QDũng đã dựng lên bức chân dung , một bức tượng
đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu
biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả
dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực
dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng
của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng
cả tình yêu của QDũng đối với những người đồng đội, đối với đất
nước của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca
của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh
hùng ấy.
b) Xem bài làm tại đây

Bài viết số 3 lớp 12 đề 3:
a) Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong đoạn trích
Đất Nước ( trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn
Khoa Điềm) và bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi.
b) Cảm nhận của anh chị về hình tượng người lính Tây Tiến
trong đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh mà lá dữ oai hùng
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
óa bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong đoạn trích Đất
Nước ( trong trường ca Mặt đường khát vọng của
Nguyễn Khoa Điềm) và bài thơ Đất nước của Nguyễn
Đình Thi

Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu. Nghe dịu nỗi đau của mẹ. Ba lần
tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ. Các anh không về mình mẹ
lặng im (Tạ Hữu Yên). Cứ mỗi lần nghe lại bài hát này lòng ta xốn
xanh da diết ! Nhớ những ngày bé thơ đến lớp, cô giáo dạy tôi viết
hai chữ “Việt Nam” và gọi đó là Đất Nước. Tôi mơ hồ chả hiểu, chỉ
biết rằng đó là cái gì lớn lao và thật quý báu lắm ! Thời gian trôi qua
nhanh, mang tuổi thơ bé bỏng của tôi đi xa. Cho đến hôm nay, qua
bao nhiêu vần thơ đọc được tôi đã thấm thía hai tiếng thiêng liêng
“Đất Nước”. Nhưng rất buồn là tôi không thể viết thành thơ. Trong
những vần thơ “ Đất nước” mến yêu dạt dào cảm hứng ấy, có tác
phẩm của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm.

Hai nhà thơ đã truyền cho tôi cảm xúc mạnh mẽ. Những vần thơ
giúp tôi nhìn ra chân dung của đất nước. Bình dị và trong sách, hồn
hậu và nhân ái, nghèo khổ nhưng oai hùng. Có lẽ chính những điều
ấy đã khơi gợi cảm hứng cho các bài thơ, đã gieo vào lòng từng nhà
thơ bao suy tư và trăn trở. Từ cảm xúc của những ngày sống hết
mình với chiến đấu, từ vốn tri thức khá phong phú của mình, qua
chương “Đất nước” Nguyễn Khoa Điềm đã cắt nghĩa sâu xa cho tuổi
trẻ thành thị miền Nam lúc này. Những hiểu biết về lịch sử dân tộc
như sống dậy, lay động tâm hồn tác giả. Mỗi câu chuyện cổ tích,
những thời khắc lịch sử của những cuộc đấu tranh giữ nước và
dựng nước ngày càng thiêng liêng, tha thiết hơn bao giờ
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay
kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân ta biết trồng tre và đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó.
Trong hai câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm man mác âm hưởng sử
thi. Yếu tố cổ điển và hiện đại hoà quỵên vào nhau tạo thành một cấu
trúc hai cực. Đất nước mình chân thật như cuộc sống. Những câu
thơ dài tuôn chảy êm dịu như dòng sông. Một dòng cảm xúc dào dạt
âm thầm nhưng mãnh liệt. Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa
Điềm bắt nguồn từ những huyền thoại : “Ngày xửa ngày xưa mẹ
thường hay kể”. Dường như nhà thơ đã huy động vào đây nhiều vốn
liếng, trí tuệ, sự từng trải, gửi gắm vào đây bao kỉ niệm suy tư.
Nguyễn Khoa Điềm đã cùng ta hành hương về với cội nguồn dân tộc
và rồi tham gia vào cuộc chiến đấu chung là con đường đúng đắn
duy nhất đối với người thanh niên yêu nước. Nhà thơ mạnh dạn để
cái “tôi” của mình xuất hiện. Có thể nói rằng , muốn viết những vần
thơ tuyệt vời về Đất nước không chỉ đơn thuần là nhà thơ biết rung
động trước một vầng trăng, một tia nắng, một điệu dân ca hay một
tiếng thơ cổ điển. Đây là cả một quá trình suy ngẫm, và “nhìn lại” đất
nước. Từng lời thơ đầm ấm giàu ý thức của tuổi trẻ đã nhận ra vai
trò của mình trước thời đại và nhận thức được đất nước này là của
nhân dân. Chúng ta phải chiến đấu để bảo vệ đất nước tươi đẹp.
Nhà thơ cảm nhận phát hiện ra đất nước từ csai nhìn tổng hợp ,
nhiều mặt và dường như đã toàn vẹn. Với Nguyễn Đình Thi cảm
hứng về đất nước bắt nguồn từ những chất liệu hình ảnh cụ thể, sinh
động của cuộc kháng chiến chín năm cứu nước thần thánh của
chúng ta. Bài thơ mang tính khái quát về cảm hứng lịch sử và truyền
thống của dân tộc. Có phải chăng, cái cảm hứng ấy của hai nhà thơ
này đều bắt nguồn từ lòng yêu nước sâu sắc? Do hoàn cảnh và thời
điểm lịch sử mà mỗi nhà thơ lại có cảm nhận khác nhau. Cảm hứng
về đất nước đến với Nguyễn Đình Thi trong lúc cuộc kháng chiến

đang diễn ra dữ dội và tàn khốc. Người thanh niên Hà Nội ấy, cũng
đã bước vào cuộc kháng chiến nhưng tâm hồn anh thanh niên vẫ đủ
sức cảm nhận:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa.
Chính “mùa thu Hà Nội” ngày hôm nay đã gợi cảm hứng cho tác giả.
Nhìn mùa thu này nhà thơ lại nhớ đến mùa thu xưa. Dường như lời
hát “Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy
biến. Rên khắp trời, lời hoan hô quân, dân ta tiến ra trận tiền” còn
vang vọng bên tai. Hôm nay đứng giữa đất trời chiến khu trong buổi
sáng mùa thu mát lành nhà thơ suy tư về đất nước. Cái cảm giác
đầu tiên mà Nguyễn Đình Thi bắt gặp là cái rất riêng, rất đặc trưng
về, rất Hà Nội : mùi hương cốm mát. Phải là một chàng trai Hà Nội
chính gốc mới có được cái cảm nhận ấy. Phải gắn bó máu thịt với
thủ đô mới chan hoà tình thương nơi này đến thế ! Niềm cảm xúc
dâng trào. Những hồi tưởng về mùa thu trước tuy êm ái nhưng thật
ra lòng nhà thơ dạt dào biết bao
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Người ra đi mang dáng dấp của cậu học trò, tỏng sáng lưu luyến bao
nhiêu kỉ niệm đẹp với từng con phố dài xao xác hơi may. Có một chút
lưu luyến bâng khuâng trong lòng người, nhưng không hề bi luỵ. Câu
thơ mang màu sắc lãng mạn tươi mát trong lành:
Sau lăng thềm nắng lá rơi đầy
Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Đình Thi cũng bắt đầu vui phơi
phới của người tự do. Đứng giữa một vùng chiến khu tự do nhà văn
đón nhận đất nước với những điều mới mẻ:

Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.
Phải có con mắt tinh tế, giao cảm với thiên nhiên nhà thơ mới nhận
được sự”thay áo mới” của mùa thu. Tất cả như nô nức, muôn âm
thanh trong trẻo xanh biếc của trời thu như hoà quyện vào nhau; đất
nước như “đang cười, đang nói”. Tâm hồn nhà thơ dạt dào mênh
mông thấy đất nước mình như “rừng tre phấp phới”. Hình ảnh cây tre
cũng được các nhà thơ nhắc đến khi viết về đất nước:
Ta yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ bát ngát câu Kiều bờ tre, mái rạ
Mái đình cong con như em gái giữa đêm chèo
Cánh cò Việt Nam trong hơi mát xấm xoen cò lả
Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo
(Chế Lan Viên)
Từ xúc cảm mãnh liệt dạt dào nhà thơ cảm nhận được đất nước
mình không giống Chế Lan Viên với lối trầm ngâm, lắng đọng mà ở
đây, đất nước hiện lên nô nức, tươi mát nhưng cũng hết sức hào
hùng:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nhà thơ không thiên tả cảnh mà nghiêng về yếu tố tượng trưng. Chỉ
một vài hình ảnh cụ thể như : “ núi rừng, những cánh đồng, ngả
đường, dòng sông” nhà thơ đã vẽ nên đất nước. Một đất nước được
khẳng định chủ quyền “ Trời xanh đây là của chúng ta”, giống Lý
Thường Kiệt ngày xưa đã khẳng định : “Nam quốc sơn hà nam đế

cư”. Mượn một vài hình ảnh cụ thể nhưng có tính khái quát cao nhà
thơ đã gửi găm stình cảm, gửi gắm tâm trạng của mình trong đó.
Niềm tự hào nhà thơ thể hiện qua điệp nhữ “của chúng ta”. Rất đẹp,
rất thơ với “những cánh đồng, những dòng sông, rừng núi” Cảm
hứng lịch sử với truyền thống dân tộc đã nhắc nhở nhà thơ đừng
quên:
Nước chúng ta
Nước của những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Có nhìn về quá khứ xa xôi mới quý hơn những ngày mình đang sống
. ở đây càng thấy quý hơn bởi chữ “tâm” của nhà thơ. Không chỉ có
cảm nhận đất nước trong hiện tại với biết bao niềm vui chào đón mà
còn nhìn lại lịch sử dân tộc. Có phải chăng những tiếng “rì rầm” trong
đất ấy, những buổi ngày xưa vọng về thôi thúc bước chân và trái tim
nhà thơ? Cảm hưúng thời đại đã kết hợp nhuần nhuyễn với cảm
hứng lịch sử truyền thống đã tạo ra những câu thơ tuyệt vời. Thi sĩ
Gớt( Đức) có nói rằng : “Nhà thơ phải biết nắm lấy cái riêng biệt và
từ đó, nếu cái riêng biệt là chân chính nhà thơ biểu hiện cái khái
quát”. Nguyễn Đình Thi đã đi theo cái hướng này và đã thành công.
Bằng những liên kết sóng đôi nhà thơ thường đi từ cái cụ thể đến cái
khái quát.
Do đó mạch thơ tuôn trào theo cảm xúc không bị dàn trải. Nhà thơ
cảm nhận đất nước bằng chính cái tâm hồn của mình, đáy lòng
mình, không triết lý, không ồn ào nhưng đầy khích lệ. Chính vì vậy
mà đất nước Việt Nam hiện lên rất hiện thực. Đó là một đất nước tạo
hình trong đau khổ. Chíên tranh kéo dài không biết bao năm từ Đinh,
Lý, Trần, Lê và cho đến ngày hôm nay vẫn chưa hết. Đất nước vẫn
còn:
Những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều.
Từ xúc cảm khôgn chỉ là niềm vui mà còn là nỗi đau nên trong bài
thơ Đất nước lại có những vần thơ “đẫm nước mắt” như thế. Hình
ảnh “cánh đồng quê chảy máu” đã tố cáo tội ác của giặc. Lấy “máu
đỏ mà tưới trên cánh đồng vàng” không phải là tàn nhẫn hay sao?
Cái hay của Nguyễn Đình Thi là ở chỗ đó. Hiện thực, quá khứ đã hội
tụ về đây đó trong bài thơ nhưng với tâm hồn của một người lính
mang dáng dấp học trò. cảm hứng lãng mạn luôn luôn chi phối.
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Tình cảm riêng tư cũng đã trở thành cảm hứng về đất nước. Trong
cái chung bao giờ cũng có cái riêng Nguyễn Đình Thi đã từng nói “Ta
yêu em như yêu đất nước”. Chính những tình cảm này đã góp phần
tạo nên “Đất nước” đôn hậu, ân tình và trìu mến hơn. Cảm hứng về
đất nước của Nguyễn Khoa Điềm cũng được khơi gợi từ chuyện
giữa “anh và em”.
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
Nguyễn Khoa Điềm đã tiếp nhận đất nước trên nhiều phương diện.
Từ địa lý cho đến lịch sử , rất cụ thể. Những câu thơ dài xen lẫn
những câu ngắn và lối chiết tự khiến cho lời thơ có vẻ trầm tư. Tình
yêu lứa đôi nảy sinh trong tình yêu đất nước. Cảm hứng đất nước
bắt nguồn từ cách cảm nhận của nhà thơ qua những trắc nghiệm
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tư tưởng của nhân dân đã chi
phối toàn bộ cảm hứng, cấu từ hình tượng thơ. Nhà thơ cảm nhận
rằng chính nhân dân đã làm nên đất nước và đất nước đã muôn đời
là của nhân dân. Đất nước đối với nhà thơ vừa cụ thể mà cũng
huyền ảo. Bởi vì cảm hứng ấy bắt nguồn từ những câu chuyện cổ, từ

những điều gần gũi thân thương với cuộc sống của chúng ta:
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.
Rất cụ thể, gần gũi và bình dị : “Tóc mẹ gừng cay muối mặn”.
Nhưng đây cũng là sự sáng tạo. Nhà thơ cảm nhận đất nước theo
chiều dài, lẫn chiều sâu, xuyên suốt từ quá khứ cho đến hiện tại.
Truyền thống, phong tục được coi là chất sống vĩnh hằng. Đất nước
là tất cả những gì có trong cuộc sống, là mối quan hệ giữa cá nhân
và cộng đồng:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Em ơi em Đất Nước là một phần trong máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời
Lời nhắn nhủ có vẻ riêng tư nhưng thật ra tác giả muốn nói chung
với tất cả chúng ta. Không phải là lời giáo huấn mà là nỗi tâm tình,
đầm ấm và thắm thiết. Những gì đã qua mà nhà thơ chứng kiến, đã
biết, đã hiểu là nguồn cảm hứng chủ yếu của bài thơ. Tình yêu nước
thể hiện thầm kín trong từng câu thơ. Dường như đối với Nguyễn
Khoa điềm đất nước mênh mông rông lớn lắm nhưng nó không xa lạ
gì với chúng ta, nó ở ngay trong ta. Tất cả những gì có trong cuộc
sống đều góp phần tạo nên đất nước. Đó là cảm nhận của lớp người
đi trước. Nhà thơ đã khắc hoạ lại đất nước hết sức điển hình. Một
đất nước Việt Nam với những chuyện cổ tích, ca dao, bình dị, chân
tình nhưng người dân giàu lòng yêu thương, sẵn sàng hi sinh mình
để tạo nên dáng hình xứ sở. Cảm hứng về đất nước của Nguyễn
Khoa Điềm không dừng lại ở một giới hạn nào, bởi vì đất nước kết

tinh trong mỗi con người. Đất nước hoá thân trong đời sống của mỗi
cá nhân và mỗi cá nhân đang sống đều mang di sản đất nước của
cha ông để lại.
Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta
Vì vậy, chúng ta hôm nay có trách nhiệm giữ gìn và truyền cho thế
hệ mai sau. Cảm hứng thời đại xen với cảm hứng truyền thống. Lịch
sử dân tộc tạo ra mạch thơ dài không ngơi nghỉ. Nhưng điều đó
khiến ta liên tưởng đến đất nước mình Trong từng thời điểm, đất
nước có những phút giây thơ mộng nhưng qua bao nhiêu chặng
đường mà nhà thơ đã đi đất nước sống trong cực nhọc, nặng nề
dưới bom đạn , chiến tranh. Nhưng mà cha ông ta:
Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gươmg ta mềm mại bút hoa
Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà
(Huy Cận)
Chính nỗi đau đớn mà đất nước đã phải chịu đựng làm xốn xang tâm
hồn của nhà thơ. Thật vậy, bốn ngàn năm qua tổ quốc ta chưa hề
châm dứt chiến tranh:
“Đất nước tôi, đất nước tôi, từ thuở còn nằm nôi sáng chắn bão
giông, chiều ngăn nắng lửa ”
Những buổi trưa hè giọng ca dao vẫn cất lên trên đất nước đau
thương. Cung xlà một đất nước Việt Nam nhưng mỗi nhà thơ đều
cảm nhận ở những điều khác nhau. Cảm hứng về “đất nước” bắg
đầu từ hiện thực. Nhưng ở mỗi nhà thơ đều mang hình nét lãng
mạn, lạc quan:
Đất Nước của nhân dân, Đất Nước cả ca dao thần thoại
Dạy anh biết “Yêu em từ thuở trong nôi”
“Đất nước” là chủ đề bao trùm thơ Việt Nam trong giai đoạn 1945-

1975. Biết bao nhà thơ đã viết về đề tài nay. Nhưng tôi cho rằng
trong tất cả những bài thơ Đất nước Nguyễn Đình Thi là người thành
công hơn cả. Đất nước của Nguyễn Đình Thi rất chân thật nhưng rất
nghệ thuật nhờ nhà thơ đã chọn hình tượng đặc sắc. Tuy nhiên ở
mỗi bài thơ Đất nước nhà thơ nào cũng có nét hay riêng.
Tóm lại, cảm hứng đất nước của nhà thơ bắt ngùôn từ lòng yêu
nước chân thành, sâu sắc ! Cảm hứng đó không bắt gặp trong hiện
tại mà họ còn tìm về quá khứ. Với những năm tháng gian khổ chiến
tranh với truyền thống tốt đẹp của dân tộc Chính các nhà thơ cũng
có một phần tạo ra: “Nam quốc sơn hà” tươi đẹp ! Để chúng ta có
thể tự hào : “Đất nước tôi sáng ngời muôn thuở. Khi trăng đã vào
cửa sổ đòi thơ ”
Cảm nhận của anh chị về hình tượng người lính Tây Tiến
trong đoạn thơ sau
Tìm hiểu đề
- Đề bài thuộc dạng phân tích tác phẩm văn học. Cụ thể là phân tích
một đoạn thơ.
- Để có thể phân tích sâu sắc đoạn thơ này, cần phải có cái nhìn
tổng quát về cả bài thơ Tây Tiến. Bài thơ có hai đặc điểm nổi bật,
bao trùm : cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Cả hai đặc điểm
ấy đều được thể hiện rất rõ trong đoạn thơ cần phân tích.
- Đoạn thơ này, về thực chất khắc họa hình tượng tập thể những
người lính Tây Tiến. Vì thế, khi phân tích, cần phải làm sáng tỏ vẻ
đẹp của hình tượng này.
Gợi ý làm bài
I. Đặt vấn đề :
- Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài
thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông
đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.
- Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những

người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng
lớp khác nhau, trong đó có cả học sinh, sinh viên.
- Đoạn thơ cần phân tích là đoạn thứ ba của bài thơ, trong đó Quang
Dũng đã khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến
bằng bút pháp lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.
II. Giải quyết vấn đề :
1. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến :
Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng
bút pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường,
sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan
người đọc, kích thích trí tưởng tượng phong phú của người đọc.
- Trong bài thơ, Quang Dũng đã tạo được một không khí, chuẩn bị
cho sự xuất hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ
thứ ba này. Trên cái nền hoang vu hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội
khác thường của núi rừng (ở đoạn một), và duyên dáng, mĩ lệ, thơ
mộng của Tây Bắc (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh
những người lính Tây Tiến trực tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc
đáo và kì lạ :
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
- Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những
người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát
những gương mặt chung của cả đoàn quân. Qua ngòi bút của ông,
những người lính Tây Tiến hiện ra đầy oai phong và dữ dội khác
thường. Thực tế gian khổ thiếu thốn đã làm cho người lính da dẻ
xanh xao, sốt rét làm họ trụi cả tóc. Quang Dũng không hề che giấu
những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn lãng mạn của ông đã
thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái hình hài tiều
tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường. Và ngòi bút lãng
mạn của ông đã biến họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai

hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính,
qua cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ
nơi rừng thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện
quan ánh mắt giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ
- Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên
qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến
là những tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu
đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Như vậy, trong bốn câu
thơ trên, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể những người
lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vẻ bề
ngoài mà con thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng
mơ của họ.
2. Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến :
- Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái
chết, sự hi sinh nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Cảm
hứng lãng mạn đã khiến ngòi bút ông nói nhiều tới cái buồn, cái chết
như là những chất liệu thẩm mỉ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
- Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng
không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng
của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi
cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh
những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị
mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến.
Cái sự thật bi thảm những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường
không có đến cả mảnh chiếu che thân, qua cái nhìn của nhà thơ, lại
được bọc trong những tấm ào bào sang trọng. Và rồi, cái bi thương
ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã :
Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ
miêu tả thật trang trọng. Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu
sắc ở thiên nhiên. Và dòng sông Mã đã trân trọng đưa tiễn linh hồn
người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng.
- Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này
thấm đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng
vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.
III. Kết thúc vấn đề :
- Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng
của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập
thể những người lính Tây Tiến, miêu tả được vẻ đẹp tinh thần của
những con người tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không trở
lại.
- Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh
người lính. Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình,
đã góp vào viện bảo tàng hình ảnh những người lính đó bức chân
dung người lính Tây Tiến rất độc đáo của mình.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×