Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

MỘT SỐ ĐỀ DẠNG SO SÁNH VĂN HỌC LỚP 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (177.71 KB, 18 trang )

MỘT SỐ ĐỀ DẠNG SO SÁNH VĂN HỌC LỚP 12
Đề 1/Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng của hai đoạn trích văn
xuôi sau :
( )Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình ươn
ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào
hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn vẫn phải doạ nạt hay là giật cướp. Hắn
phải làm gì cho người ta sợ. Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng. Thị Nở
thì chỉ nhìn trộm hắn, rồi lại toe toét cười. Trông thị thế mà có duyên. Tình yêu
làm cho có duyên. Hắn thấy vừa vui vừa buồn. Và một cái gì nữa, giống như ăn
năn. Cũng có thể như thế lắm. Người ta hay hối hận về tội ác khi không đủ sức
mà ác nữa. Thị Nở giục hắn ăn nóng. Hắn cầm lấy bát cháo đưa lên mồm. Trời ơi
cháo mới thơm làm sao! Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm.
Hắn húp một húp và nhận ra rằng: những người suốt đời không ăn cháo hành
không biết rằng cháo ăn rất ngon. Nhưng tại sao lại mãi đến bây giờ hắn mới
nếm vị mùi cháo( ).
( Trích Chí Phèo, Nam Cao)
( )Mỗi đêm, nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa
bùng lên, cùng lúc ấy Mỵ cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng. Mới biết
nó còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mỵ vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay.
Nếu A Phủ là cái xác chết đứng chết đấy, cũng thế thôi. Mỵ vẫn trở dậy, vẫn sưởi.
Mỵ chỉ biết, chỉ còn ở với ngọn lửa. Có đêm A Sử chợt về thấy Mỵ ngồi đấy, A Sử
ngứa tay đánh Mỵ ngã xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mỵ vẫn ra sưởi như đêm
trước.Lúc ấy đã khuya. Trong nhà ngủ yên. Mỵ trở dậy thổi lửa, ngọn lửa bập
bùng sáng lên. Mỵ trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở. Dòng nước mắt
lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen. Thấy tình cảnh thế, Mỵ chợt nhớ đêm
năm trước, A Sử trói Mỵ, Mỵ cũng phải trói đứng thế kia. Nước mắt chảy xuống
miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến
chết. Nó bắt mình chết cũng thôi. Nó đã bắt trói đến chết người đàn bà ngày
trước ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Chỉ đêm mai là người kia chết, chết
đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi, chỉ
còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi Người kia việc gì mà phải chết. A Phủ


Mỵ phảng phất nghĩ như vậy.( )
( Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài)
Đề 2/Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng của hai đoạn trích văn
xuôi sau :
( )Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng tiếng mõ trên vọng
canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã bày ra trong buông tối chật hẹp,
ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột và gián.
Trong một không khí tỏa như đám cháy, ánh sáng đỏ ngòm của một bó
đuốc tẩm dầu rọi lên trên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch
còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt làm họ dụi mắt lai lịa. Một tên tù cổ
đeo gông, chân vứơng xiềng đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng
phẳng trên mảnh ván. Tên tù viết xong một chữ, tên quản ngục lại khúm núm cất
những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phíên lụa óng. Và cái thầy thơ lại
gầy gò thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong lạc khỏan, ông Huấn
Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quản ngục đứng thẳng dậy và đĩnh đạc bảo:
- Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chỗ ở đi. Chỗ này không
phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn rõ ràng
như thế. Thoi mực kiếm được ở đâu tốt và thơm lắm. Thầy có thấy mùi thơm ở
chậu mực bốc lên không? Ta bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về quê mà ở đã ,
rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và
rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.( )
( Trích Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân)
(…)Ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt
méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào
chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác. Nhưng trên
cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy gọn ngắn tỉnh táo của người
cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. Không một phút
nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật. Ông
lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục
kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa

trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng
thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại
bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như
là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt
lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng
nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía
cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu
thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh
mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến.
Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác
luồng sinh. Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng
chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh
trúng vào cửa sinh nó trấn lấy. Còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên
phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay
giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa
đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong,
lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa
xuyên vừa tự động lái được lượn được. Thế là hết thác( )
( Trích Người lái đò sông Đà, Nguyễn
Tuân)
Đề 3/Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng của hai đoạn thơ sau :
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bấc cù bơ.
( Trích Từ ấy, Tố Hữu)
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh nin“h
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu

( Trích Việt Bắc, Tố Hữu)
Đề 4/Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng của hai đoạn thơ sau :
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi.
(Vội vàng-Xuân Diệu, Ngữ văn 11, tập một, NXB GD, tr.23)
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
(Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB GD, tr.156)

Đề 5/Nêu cảm nhận về vẻ đẹp đoạn văn sau và chỉ ra nét độc đáo của
phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân được bộc lộ qua đó:
Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời
Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi
qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng
người, cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp
có gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiềnsử. Bờ sông hồn
nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì
một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái
- Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm
nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà
như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà,
có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy

vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất
đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh bênh - Bao
nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của ‘‘một người tình nhân chưa quen biết" (Tản Đà).
Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại
trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói
êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm
vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.
(Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr. 191 - 192)
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
- Người lái đò Sông Đà là một tuỳ bút rất đặc sắc của Nguyễn Tuân rút từ tập
Sông Đà (1960). Hình ảnh con sông Đà với hai đặc tính nổi bật là “hung bạo và
trữ tình” đã được khắc hoạ thật đậm nét. Để có thể khách thể hoá được đối tượng
và “đóng đinh” nó vào trí nhớ độc giả, Nguyễn Tuân đã tung ra nhiều “độc chiêu”
ngôn ngữ chỉ mình ông mới có. Khi miêu tả những con thác vô cùng “độc dữ,
nham hiểm”, câu văn của ông mang nhịp điệu dồn dập, kích thích. Nhưng khi
ngợi ca “con Sông Đà gợi cảm”, câu văn lại thư duỗi hết sức êm ả, nghe như một
tiếng hát ngân nga. Văn Nguyễn Tuân gồm chứa cả hai cực đó, mà cực thứ hai -
cực trữ tình mềm mại và thấm đượm một thứ “mĩ học hoài cựu” độc đáo - được
thể hiện rất rõ trong đoạn văn từ ‘‘Thuyền tôi trôi trên Sông Đà” đến " khác hẳn
những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.
- Nội dung của đoạn văn là nói về vẻ thơ mộng của sông Đà ở quãng trung lưu.
Thác ghềnh lúc này chỉ còn lại trong nỗi nhớ. Thuyền được trôi êm và câu văn mở
đầu vì thế cũng trở nên lâng lâng, mơ màng, không vướng víu với một thanh trắc
nào: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà”. Cái ý “lặng tờ” được nhắc đi nhắc lại mấy
lần theo một kiểu trùng điệp rất đặc thù của thơ: “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ.
Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà
thôi”, nghĩa là không thể “lặng tờ” hơn được nữa! Thiên nhiên thật hài hoà và
mang vẻ trong trẻo nguyên sơ, dành riêng cho con mắt nhìn “xanh non” của tác
giả những hình ảnh kì thú: “Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn
hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”. Cảnh đã làm cho vị tình nhân

của non nước Đà giang hết sức xúc động. Ông thấy cần phải nói thêm nữa để diễn
tả cho cùng kiệt đặc tính của đối tượng: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử.
Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Những so sánh lạ lẫm,
chính xác mà cũng thật Nguyễn Tuân! Nhà văn đã đi ngược thói quen, đem giải
thích một đặc tính vốn đã khá trừu tượng bằng những khái niệm trừu tượng hơn
nữa, khiến cho cảm giác trực tiếp bỗng mở ra những liên tưởng trùng trùng, bát
ngát. Đi từ “hoang dại”, “hồn nhiên” là cái còn có thể cảm nhận được, đến “tiền
sử” và “nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, câu văn đã cập bờ siêu cảm giác, đòi hỏi
người đọc phải tiếp nhận nó bằng siêu giác quan chứ không phải bằng giác quan
bình thường. Trong câu tiếp theo: “Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một
tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái -
Lai Châu”, một mặt nhà văn bộc lộ thèm ước muốn có tiếng còi kéo mình ra khỏi
mạng lưới vô hình mà quấn chặt của giấc mơ xưa, mặt khác tạo nên một cái cớ
tuyệt diệu để biến cả đoạn văn thành một bài thơ siêu thực mà trong đó giữa
người với cảnh có sự tương thông rất đỗi huyền nhiệm và cái hư phút chốc biến
thành cái thực: “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm
chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt
mà như hỏi tôi bàng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông
Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”.
Người mơ cảnh cũng mơ, và cái thời điểm “ông khách Sông Đà” bỗng nghe
ra tiếng chú hươu gọi hỏi chính là đỉnh điểm của giấc mơ đó. Nhà văn đã khéo tạo
được một giấc mơ ngay giữa ban ngày để rồi sau đó sực tỉnh với tiếng động của
“Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá
đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến”. Phút sực tỉnh cũng là phút nhà văn
hiến cho độc giả một hình ảnh cực kì sống động mà ai được một lần thấy trong
đời hẳn phải nhớ mãi. Bút pháp mượn cái động để tả cái tĩnh đã được vận dụng ở
đây hết sức đắc địa. Cảnh tĩnh lặng tới mức chỉ tiếng cá quẫy cũng đủ khiến ta
phải giật mình. Nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, cái tĩnh không đồng nghĩa với
sự phẳng lặng, đơn điệu mà vẫn luôn hàm chứa sự bất ngờ, vẫn không ngót biến
hoá. Theo con thuyền thả trôi, điểm nhìn của nhà văn liên tục di động và “di

động” hơn nữa cách nhìn. Có vẻ như Nguyễn Tuân muốn học cách nhìn của “con
hươu thơ ngộ”, “vểnh tai”, “nhìn không chóp mắt” những sự vật như hiện lên từ
thế giới cổ tích, sau đó truyền sự bỡ ngỡ lại cho độc giả qua những từ dùng độc
đáo, sáng tạo, kích thích rất mạnh giác quan và vốn ngôn ngữ của chúng ta: “thơ
ngộ”, “đầu nhung”, “áng cỏ sương”, “tiếng còi sương’’ Vật nào, cảnh nào được
cây đũa thần của nhà văn động đến đều cựa quậy, không chịu ép mình làm một
tiêu bản dẹt. Có lúc, Nguyễn Tuân như vượt qua lề luật của phép diễn đạt thông
thường để viết: “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi
thoi”. Có thể nói câu văn này đã được viết theo bút pháp của hội hoạ lập thể mà
mục đích của nó là muốn cùng một lúc cho người ta thấy được sự vật ở nhiều
chiều. Trước một nét miêu tả rất cô đọng như thế, ta không chỉ thấy mà còn nghe -
thấy cái lấp lánh ánh bạc của bụng cá và nghe tiếng quẫy nước rộn ràng, vang
ngân.
Nguyễn Tuân là người hết sức nặng tình với non sông, đất nước. Trong khi
thưởng ngoạn vẻ đẹp thơ mộng của sông Đà, trong ông dậy lên bao mối liên
tưởng về lịch sử, dậy lên cảm giác hàm ơn sâu xa đối với cổ nhân. Việc ông nhắc
tới đời Lí, đời Trần, đời Lê và câu thơ của Tản Đà cho thấy rõ một thiên hướng
bộc lộ cảm xúc rất đặc thù của người từng viết Vang bóng một thời. Nhưng trước
vẻ “hoang dại” của bờ sông Đà, nhà văn cũng có những suy nghĩ mang tính tích
cực của người công dân mới, mong cuộc sống hiện đại toả chiếu ánh sáng lên cả
chốn sơn cùng thuỷ tận. “Tiếng còi sương" xuất hiện ở đây ngân nga như một
khát vọng, nó hài hoà với cảm hứng lịch sử, tạo cho đoạn văn một vẻ đẹp vừa cổ
kính, vừa hiện đại. Đối với Nguyễn Tuân, những cái gì mang trong nó hơi thở ấm
áp của cuộc đời đều để thương, để nhớ, để lưu luyến cho ông. Trong những câu
cuối của đoạn văn này, ông đã trải lòng mình ra với dòng sông, hoá thân vào nó
để lắng nghe và xúc động: “Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những
hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng
nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò
mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển
trên dòng trên”. Qua mỗi dặm đường đất nước, nhà văn đều thấy cảnh vật và con

người gắn quyện với nhau rất chặt chẽ. Yêu sông Đà cũng chính là yêu Tổ quốc
và yêu con người Việt Nam - những “đồng tác giả” của trăm vẻ đẹp từng làm đắm
đuối lòng ta trên “trăm dáng sông xuôi” (ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm).
- Chỉ mới qua một đoạn trích ngắn, ta chưa có điều kiện thấy hết những đặc sắc
của văn Nguyễn Tuân. Nhưng chừng ấy tưởng cũng đã đủ để ta quý trọng tài năng
và tấm lòng của Nguyễn Tuân - con người suốt đời đi tìm cái Đẹp trong cuộc đời
để sáng tạo nên những áng văn đẹp làm phong phú, giàu có thêm đời sống tinh
thần của tất cả độc giả chúng ta.
Đề 6/Tình huống Tràng và người đàn bà đói khát đến với nhau, nên vợ nên
chồng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân đã khiến hai người có sự thay
đổi đột ngột, bất ngờ.
Sự thay đổi biểu hiện cụ thể như thế nào ở từng nhân vật? Những điều đó có
giúp anh (chị) hiểu gì về cái nhìn của Kim Lân đối với con người?
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
- Vợ nhặt của Kim Lân là truyện ngắn viết về nạn đói khủng khiếp năm
1945 và cũng là một trong những thành tựu xuất sắc của văn xuôi Việt Nam sau
Cách mạng. Đây là một truyện ngắn thành công về nhiều phương diện, trong đó
không thể không nói đến tình huống truyện rất đặc sắc mà Kim Lân đã sáng tạo
được bằng bút pháp nghệ thuật khá cao tay.
Tình huống trong Vợ nhặt có thể tóm lược một cách ngắn gọn: trong những
ngày nạn đói đang hoành hành, khắp nơi người chết như ngả rạ, vậy mà Tràng -
một thanh niên nghèo, xấu xí ở xóm ngụ cư lại nhặt một người đàn bà lay lắt bên
bờ vực cái chết về làm vợ. Kim Lân cho biết: tình huống lạ lùng có một không hai
đó là kết quả sự tưởng tượng, hư cấu của nhà văn trên cơ sở vốn sống phong phú,
sự hiểu biết cặn kẽ về nạn đói mà ông từng chứng kiến.
- Nét độc đáo của truyện thể hiện trước hết ở nhan đề tác phẩm. Hai tiếng
“vợ nhặt” gợi ta nghĩ đến một điều thật trớ trêu. Xưa nay, chuyện dựng vợ gả
chồng là việc hệ trọng. Nó thể hiện ở tình cảm sâu nặng, nghi lễ thiêng liêng và
quá trình xây đắp gắn bó. Thế mà tác phẩm lại kể về chuyện một người “nhặt”
được vợ, chẳng khác nào tiện tay nhặt một vật gì đó. Vợ - bạn trăm năm của một

người đàn ông - mà lại rẻ rúng đến thế ư? Sự thật ở đây là như thế. Chỉ một câu
hò ghẹo vu vơ, một chầu bánh đúc, một câu mời như đùa cợt, có thế thôi mà nên
vợ nên chồng. Nếu vào một hoàn cảnh khác, những kẻ dưới đáy xã hội như anh cu
Tràng và người đàn bà kia đến với nhau thì cũng là chuyện “đôi lứa xứng đôi”,
không có gì khó hiểu. Nhưng đây lại là lúc cuộc sống đang bị dồn đuổi, truy bức
bởi nạn đói dữ dội, mạng sống từng con người trở nên hết sức mong manh. Bối
cảnh thì ngột ngạt và sặc mùi tử khí với cái chết đang rình rập từng ngày từng giờ,
vậy mà hai kẻ khốn cùng lại gắn kết với nhau. Ấy mới là sự lạ.
Để làm nổi bật tính độc đáo của tình huống truyện, Kim Lân đã soi chiếu nó
từ rất nhiều góc nhìn khác nhau. Việc Tràng dẫn về một người đàn bà xa lạ đã
thành một biến cố gây xôn xao cái xóm ngụ cư vốn đang chìm trong lặng lẽ vì đói
khát. Đám trẻ con bỗng trở nên hiếu động hơn. Trong phút chốc chúng tạm quên
đi sự hành hạ của cơn đói để bám theo vợ chồng Tràng mà reo toáng lên. Người
lớn, kẻ thì ngạc nhiên dò hỏi, kẻ thì nháy mắt tinh nghịch, kẻ lại thở dài ái ngại
nhưng hết thảy đều cảm thấy như có cái gì “tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát,
tăm tối”, làm cho những khuôn mặt u tối, hốc hác “bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên”.
Bà cụ Tứ - mẹ Tràng dĩ nhiên là vô cùng kinh ngạc. Hơn ai hết, bà hiểu con trai
bà vốn trăm đường thua thiệt. Bất luận trong trường hợp nào, việc Tràng có vợ
cũng là điều mà bà không dám nghĩ tới. Cho nên khi có người đàn bà ngồi đầu
giưòng con trai mình mà lại gọi mình bằng u thì dường như bà không dám tin đó
là điều có thật. Cuối cùng, không chỉ có người ngoài cuộc mà ngay cả những nhân
vật chính tạo ra biến cố này cũng không khỏi ngỡ ngàng. Trong sự bần thần nghĩ
ngợi của người đàn bà kia hẳn có rất nhiều bỡ ngỡ vì không hiểu chuyện gì đang
xảy ra với mình. Cũng như Tràng, trên con đường về nhà, hắn cảm nhận ở mình
có một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng biết đến bao giờ. Thậm chí khi người đàn
bà kia đã ở trong nhà mình mà hắn vẫn còn “ngờ ngợ như không phải thế".
- Nếu nói rằng truyện ngắn là một nhát cắt của dòng đời để qua đó làm lộ
hiện bản chất cuộc sống, số phận con người thì phải nói rằng tình huống truyện
trong Vợ nhặt là nhát cắt rất đúng chỗ. Bởi thế nó toát lên nhiều ý nghĩa. Nó
ngầm ẩn một triết lí sâu xa về khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc bền bỉ, bất

diệt ở con người. Đồng thời, nó cũng là thứ “thuốc thử” quan trọng buộc nhân vật
phải bộc lộ đầy đủ thế giới nội tâm sâu kín và tính cách vốn có của mình. Quan
sát sự thay đổi của các nhân vật dưới tác động của tình huống truyện ta sẽ nhận ra
điều đó.
Nhân vật Tràng
+ Trước khi diễn ra sự kiện “nhặt vợ”, ta chỉ biết Tràng là một người đàn
ông nghèo khổ, xấu xí, thô kệch, sống với một người mẹ già nua. Trong cảnh đói
khát, chết chóc, cuộc sống của mẹ con Tràng rất ảm đạm, buồn thảm. Càng đáng
buồn hơn khi ta thấy Tràng có vẻ không được như người bình thường: vừa đi vừa
nói lảm nhảm những điều vớ vẩn, thích chí thì ngửa mặt cười hềnh hệch Đích
thị là một chàng ngốc, có lớn mà chẳng có khôn theo quan niệm của dân gian.
Một nhân vật như thế không khỏi gây cho người đọc sự thất vọng.
+ Vậy mà từ khi chấp nhận người đàn bà đi theo mình, tâm tính Tràng lại
như đổi khác. Biết bao lần Tràng cất tiếng cười (tủm tỉm cười, bật cười, cười
khanh khách, tươi cười, cười khì khì ). Đó không phải những tiếng cười vô hồn
vô cảm như trước, mà là cái cười của một kẻ đang bắt đầu được nếm mùi hạnh
phúc. Ở Tràng cũng đã xuất hiện một thứ tình cảm khác lạ trước đây chưa hề có,
ấy là “tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên” - một biểu hiện tình yêu theo
kiểu riêng của Tràng. Có lẽ vì thế mà con người vốn thô kệch ấy giờ đây biết bối
rối, băn khoăn trước nỗi buồn của người khác giới. Những cử chỉ lúng túng, vụng
về cũng như những lời độc thoại của Tràng khi một mình đối diện với người đàn
bà trong căn lều tồi tàn tự nó đã nói lên rất nhiều điều. Đặc biệt, Kim Lân tỏ ra rất
tinh tế khi diễn tả những cảm giác lạ lùng lần đầu tiên Tràng mới biết đến: “một
cái gì mới mẻ, lạ lắm chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp,
mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”. Sau
đêm tân hôn, Tràng có cảm giác “êm ái, lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi
ra”. Chính điều đó làm cho Tràng có những đổi thay thật kì lạ. Một con người
quen sống tuềnh toàng, gặp chăng hay chớ như Tràng, giờ đây nhìn cảnh ấm áp
của cửa nhà đã biết vâng dạ ngoan ngoãn trước lời mẹ dặn, biết “thấm thìa cảm
động”, biết "vui sướng, phấn chấn”, thấy mình “nên người” và nhận ra bổn phận

trụ cột gia đình, phải lo lắng cho vợ con sau này. Không phải ngẫu nhiên mà tác
giả đặt vào tâm trí Tràng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng, biểu tượng của cách mạng,
viễn cảnh của một cuộc đổi thay vĩ đại. Những điều tốt đẹp ấy những tưởng
không thể có được ở Tràng, vậy mà giờ đây nó lại hiện ra một cách đầy đủ và rõ
ràng đến thế. Vậy là, bằng tình huống đặc biệt, Kim Lân đã đánh thức ở Tràng cái
chất người chân chính, những điều hoàn toàn bị khuất lấp bởi lam lũ, nhọc nhằn,
bởi đói khát, khổ cực trong một cuộc sống chênh vênh bên bờ vực thẳm.
Nhân vật "vợ nhặt"
+ So với Tràng, tình cảnh người đàn bà này còn thê thảm hơn nhiều. Trong
những ngày cao điểm của nạn đói, chị ta cùng với bao nhiêu người đồng cảnh ngộ
chỉ biết ngồi vêu trước kho thóc chờ nhặt hạt rơi hạt vãi hay chờ ai có việc gì gọi
đến để làm. Điều đáng nói là tính tình của người đàn bà này không gây thiện cảm
cho người đọc. Ăn nói thì chao chát, chỏng lỏn, thái độ thì sừng sộ, chẳng kể gì
đến thể diện, phẩm giá. Gặp Tràng, chị ta sấn vào, gạ ăn một cách trơ trẽn. Được
người ta mời ăn lại ăn uống rất tham, rất thô. Trước lời mời bông lơn của một
người đàn ông chưa hề quen biết, chị ta lập tức bám theo, liều lĩnh đến mức đáng
sợ. Những tưởng bao nhiêu sự xấu xa của con người đều dồn cả vào người đàn bà
khốn khổ này.
+ Thế nhưng từ khi cất bước theo Tràng, chị ta như trở thành một con người
khác. Đi với Tràng mà bước chân chị ta có vẻ rón rén, ngượng nghịu, chân nọ ríu
cả vào chân kia. Cái vẻ chanh chua biến đâu mất, thay vào đó là sự e thẹn, ít lời,
ngại ngùng trước ánh mắt tò mò của những người xa lạ. Đặc biệt, khi ngồi đầu
giường của Tràng, chị ta không giấu nổi vẻ bối rối, mắt nhìn xa, dáng bần thần
nghĩ ngợi. Điều này cho thấy chị không hề vô tâm trước những gì đang diễn ra.
+ Bằng cái nhìn tinh tế, Kim Lân phát hiện cái thiên chức làm vợ - điều
trước đây ta ngỡ không thể có ở người đàn bà bị cái đói tước đi cả nữ tính này. Từ
cái thế cùng đường, liều lĩnh cất bước đi theo một người đàn ông xa lạ, hình như
trong chị ta đã vấn vương những tình cảm dịu ngọt, những thức nhận mới mẻ về
bổn phận của mình. Nó thể hiện ở những câu nói, những cử chỉ thô mộc nhưng rất
tình tứ theo kiểu các cặp vợ chồng nhà quê mới cưới (thấy Tràng mua hai hào

dầu, thị mắng Tràng: “Hoang nó vừa vừa chứ.”; Tràng vươn cổ thổi tắt đèn đi
ngủ, thị củng vào trán Tràng: “Chỉ được thế là nhanh. Dơ!”). Những biểu hiện ấy
cho thấy giờ đây chị ta đã ý thức được mình là ai trong cái gia đình này. Và cũng
vì thế, người đọc sẽ không bỡ ngỡ khi thấy chị ta cùng bà cụ Tứ - mẹ chồng - quét
tước dọn dẹp cửa nhà sạch sẽ, gọn gàng. Có lẽ trước một tình huống mới, niềm hi
vọng sống, nỗi khao khát hạnh phúc đã trỗi dậy mạnh mẽ. Nó làm cho con người
trở nên thay đổi. Chính Tràng cũng rất ngạc nhiên vì trước mắt hắn giờ đây rõ
ràng là một người đàn bà “hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chóng
lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”. Sự thay đổi này nhìn bề ngoài có vẻ lạ
lùng, nhưng không hề khó hiểu, bởi bên trong con người ngỡ rất xấu xa kia vẫn
mang đầy đủ những nét đẹp vốn có của người phụ nữ Việt Nam.
- Qua nhân vật Tràng và nhân vật “vợ nhặt”, Kim Lân đã thể hiện một
niềm tin sâu sắc, mạnh mẽ đối với con người. Trong ý thức của ông, những người
nghèo khổ có thể bị biến dạng về nhân hình, nhàn tính vì đói khát, nhưng không
gì tước đoạt được của họ cái chất người quý giá. Nhà văn cũng bộc lộ cái nhìn
yêu thương, nhân hậu qua những dòng văn miêu tả vẻ đẹp của tình người và khát
vọng hạnh phúc bền bỉ của những kẻ đang đối mặt với tử thần.
Đề 7/Hãy thể hiện sự đồng cảm của anh (chị) với lời giãi bày rất
chân thực về tình yêu trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
- Trong số các nhà thơ thuộc thế hệ chống Mĩ, Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ
viết nhiều và viết rất hay về tình yêu. Thơ tình của bà mang nhiều nét tự thuật,
vẫn là những chuyện muôn thuở của tình yêu nhưng bao giờ chúng cũng có vẻ
như chuyện riêng của Xuân Quỳnh. Sóng là một bài thơ hay, in trong tập Hoa dọc
chiến hào (1968). Ở đây, khát vọng tình yêu đã được thể hiện theo một cách rất
riêng, dù hình tượng sóng mà nhà thơ dùng làm ẩn dụ vốn chẳng xa lạ gì với các
nhà thơ viết về tình yêu kim cổ.
- Trước Xuân Quỳnh, đã có biết bao nhà thơ thiên tài viết về tình yêu.
Xuân Quỳnh hình như không có ý đua tranh với họ. Nhà thơ “khiêm tốn” chỉ đem
chuyện mình ra kể, không giảng giải cho ai, không xây dựng lí thuyết, không nói

điều gì vượt quá trải nghiệm của chính mình. Khi Xuân Quỳnh nói: Nỗi khát vọng
tình yêu / Bồi hồi trong ngực trẻ thì trước hết ta nên hiểu là nhà thơ đang nói về
mình, đang thú nhận nỗi “bồi hồi” của mình cùng với sự tự biết rằng mình còn rất
trẻ. Nếu mấy câu ấy ứng hợp với nhiều người thì lại là chuyện khác. Cái nhìn của
Xuân Quỳnh xuất phát từ bên trong. Nó không giống sự suy đoán tuy già dặn,
đúng đắn nhưng lại đi từ ngoài vào của các nhà nghiên cứu tâm lí tình yêu. Củng
thế, khi nói về nơi bắt đầu của tình yêu, Xuân Quỳnh thực sự đứng giữa cái phân
vân của chính mình: Trước muôn trùng sóng bể/ Em nghĩ về anh, em / Em nghĩ
về biển lớn / Từ nơi nào sóng lên? / Sóng bắt đầu từ gió / Gió bắt đầu từ đâu? /
Em cũng không biết nữa / Khi nào ta yêu nhau. Người ta thường đối chiếu hai câu
thơ Em cũng không biết nữa / Khi nào ta yêu nhau của Xuân Quỳnh với câu Làm
sao cắt nghĩa được tình yêu? trong bài Vì sao của Xuân Diệu. Đúng là giữa chúng
có sự tương đồng nhưng cái khác vẫn rõ. Mặc dù tỏ ra “ngẩn ngơ” nhưng Xuân
Diệu vẫn cắt nghĩa, và sự cắt nghĩa của ông cũng khá rạch ròi. Xuân Quỳnh
không hẳn giống thế. Nhà thơ không ham lí giải, phân tích, dù trong lòng có bao
mối băn khoăn đòi “tìm ra tận bể” để “hiểu”, để “nghĩ”. Nhà thơ vẫn giữ nguyên
vẹn tâm lí phụ nữ của mình với cái “lắc đầu” thật dễ “động lòng’’: Em cũng
không biết nữa. Nhu cầu “hiểu” ở đây là nhu cầu của tình cảm hơn là nhu cầu của
trí tuệ. Nó cũng như con sóng, được đẩy tới rồi thoái lui và tan trong nỗi ngọt
ngào được che chở, vỗ về. Biết ta đang yêu nhau thế là đã đủ. Thắc mắc chỉ là để
yên tâm hơn với hạnh phúc hiện có. Tuy nhiên, như nhà thơ đã viết trong một bài
thơ khác (Thuyền và biển). Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên?, dù
không có gì thật gay cấn thì tình yêu vẫn động sóng, vẫn muốn vô suốt hai chiều
không gian và thời gian: Con sóng dưới lòng sâu / Con sóng trên mặt nước / Ôi
con sóng nhớ bờ / Ngày đêm không ngủ được.
- Là con người của thời hiện đại dám sống với toàn bộ những gì mình có,
Xuân Quỳnh không ngại nói thẳng ra nỗi đau đáu của mình. Trong tâm thức con
người ấy, chí có anh là đáng kể mà thôi. Nhà thơ rất “kiên định” trên “lập trường
tình yêu” và đề cao tuyệt đối lòng chung thuỷ: Dầu xuôi về phương bắc / Dầu
ngược về phương nam / Noi nào em cũng nghĩ / Hướng về anh - một phương.

Những lời khẳng định ấy thật da diết mà cũng chứa đựng thật nhiều thách thức -
thách thức với hoàn cảnh và thách thức với cả tình anh nữa! Những ai hay do dự
và có thói quen “vọng ngoại” trong tình yêu hẳn sẽ có cảm giác “chợn” trước sự
tỏ bày dứt khoát ấy. Bình thường người ta vẫn nói ngược về phương bắc, xuôi về
phương nam nhưng Xuân Quỳnh thì nói ngược lại. Đối với nhà thơ, sự xáo trộn
cũng không có gì là quan trọng. Quan trọng nhất vẫn là dù ở đâu em cũng “hướng
về” “phương anh”. Nếu nói đến sự quyết liệt của tình yêu Xuân Quỳnh thì khổ thơ
này là dẫn chứng thuộc loại tiêu biểu nhất.
- Như nhan đề bài thơ đã nói rõ, hình tượng trung tâm của bài thơ là hình
tượng sóng. Mới nhìn qua, cách biểu đạt tình yêu bằng ẩn dụ kia chưa phải đã thật
độc đáo. Dù vậy, Xuân Quỳnh đã hoàn toàn đúng khi chọn đối tượng để hoá thân.
Sóng - Xuân Quỳnh - nhân vật trữ tình tuy là ba nhưng cũng gần như là một. Ở
Xuân Quỳnh cũng có nhiều nét đối cực như sóng, cũng không bao giờ chịu yên bề
như sóng, và cũng như sóng, luôn muốn “tìm ra” với biển lớn của tình yêu, của
cuộc đời: Dữ dội và dịu êm / Ôn ào và lặng lẽ / Sông không hiểu nổi mình / Sóng
tìm ra tận bể. Căn cứ vào âm điệu dồi dào, nhiều biến đổi và thường là cuộn trào
sôi nổi của bài thơ, có thể thấy sóng là một hình tượng sống thực chứ không hề là
hình ảnh minh hoạ (hình ảnh minh hoạ chỉ là vỏ ngoài của ý tưởng, nó sẽ “chết”
khi ý tưởng đã được người đọc, người nghe lĩnh hội hết). Xuân Quỳnh đã phả vào
hình tượng sóng vốn khá quen thuộc hơi thở yêu đương nồng nàn của mình, và do
vậy, tái tạo nó, khiến nó như mới được sinh ra lần đầu với tình yêu của nhà thơ.
Đôi khi, sự hoá thân vào sóng sâu sắc đến mức sóng cũng thành ra có dáng vất
vả, lo toan, tất bật ngược xuôi. Các cụm từ dẫu xuôi, dẫu ngược cùng những câu
thơ: Ở ngoài kia đại dương / Trăm ngàn con sóng đó / Con nào chẳng tới bờ/Dù
muôn vòi cách trở cho thấy điều đó.
- Nhưng hình tượng sóng trong bài thơ của Xuân Quỳnh không phải là một
ẩn dụ hoàn chỉnh. Đây chính là điểm thú vị nhất về phương diện nghệ thuật của
tác phẩm. Ẩn dụ sóng đã được giải thích ngay từ nửa sau của khổ thơ thứ hai,
không đợi người đọc phải suy đoán, phải tìm cách giải mã, dẫu rằng cuộc giải mã
vẫn cần được tiếp tục ở một cấp độ cao hơn. Theo một góc nhìn nào đó, Xuân

Quỳnh đã để lộ ý hơi sớm, đã không tận dụng hết sức chứa của ẩn dụ này. Nhưng
điều quan trọng đối với Xuân Quỳnh không phải là sự che giấu khéo léo mà là sự
bày tỏ cùng kiệt nỗi yêu thương và khát vọng của mình. Khi cần, Xuân Quỳnh
đứng ra thuyết minh trực tiếp. Biết đâu nhà thơ chẳng nghĩ: đã thực hiện được sự
thống nhất giữa em (cái tôi tình yêu) và sóng rồi, thì để sóng nói hay em nói cũng
thế mà thôi! Thậm chí không phải thay nhau mà có lúc cả hai cùng nói, khiến cho
ý nghĩa của vấn đề càng có sức tác động mạnh vào nhận thức và tình cảm của
người đọc. Cách biểu đạt này từng xuất hiện trong bốn câu cuối bài Thuyền và
biến. Sau khổ thơ miêu tả những con sóng “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”
“Ngày đêm không ngủ được” vì “nhớ bờ”, nhà thơ “bồi” thêm hai câu rất đột
ngột, như đúng riêng ra thành một khổ, phơi lộ cái tôi của mình: Lòng em nhớ
đến anh / Cả trong mơ còn thức.
- Khi ẩn mình trong sóng, khi đứng hẳn ra xưng em, một mà hai, hai mà
một, cái tôi Xuân Quỳnh luôn thao thức, trăn trở. Vừa bộc lộ gián tiếp lại vừa giãi
bày trực tiếp, khi ẩn, khi hiện, đấy mới chính là “nhịp sóng” ngầm của bài thơ,
quy định những xao động bề mặt, biểu hiện qua câu chữ và âm điệu, nhịp điệu
tương đối dễ thấy. Ẩn dụ sóng tuy có lúc bị “phá vỡ”, nhưng đấy chỉ là sự phá vỡ
bề ngoài. Điều đó tạo điều kiện cho ta hiểu sâu hơn “tầng ẩn dụ” của cả bài thơ,
hiểu sâu hơn những lo âu, khắc khoải, những hi vọng, khát vọng, những gắng sức
kiếm tìm và hành động tất yếu phải có ở một tình yêu chân chính, khi đối diện với
cuộc đời rộng lớn, với thời gian trôi chảy không ngừng: Cuộc đời tuy dài thế/
Năm tháng vẫn đi qua / Như biển kia dẫu rộng / Mây vẫn bay về xa / Làm sao
được tan ra / Thành trăm con sóng nhỏ / Giữa biển lớn tình yêu / Để ngàn năm
còn vỗ.

×