Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Dấu ấn của Chủ Nghĩa hiện đại trong văn xuôi I.Bunin Luận văn thạc sĩ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.32 MB, 103 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




TRẦN THỊ NHUNG





DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI
TRONG VĂN XUÔI I.BUNIN




LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài








HÀ NỘI - 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




TRẦN THỊ NHUNG




DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI
TRONG VĂN XUÔI I.BUNIN



Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 02 45

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Như Trang





HÀ NỘI - 2014
3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong

Khoa Văn học và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã truyền giảng
cho tôi những kiến thức hữu ích trong quá trình học tập!

Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS.
Nguyễn Thị Như Trang – người đã tận tình, chu đáo hướng dẫn cho tôi thực hiện
và hoàn thành luận văn này!

Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, người thân –
những người luôn đồng hành, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình
học tập và thực hiện luận văn!

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn


Trần Thị Nhung
4

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Lí do chọn đề tài 6
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
5. Đóng góp của luận văn 15
6. Kết cấu luận văn 15
CHƢƠNG 1: SỰ SUY YẾU CỦA CỐT TRUYỆN TRUYỀN THỐNG 16
1.1. Quan niệm mới về cốt truyện của chủ nghĩa hiện đại 16
1.2. Cốt truyện đậm chất trữ tình 19

1.2.1. Cốt truyện tâm lí 19
1.2.2. Tự sự phi cốt truyện 22
1.3. Thay đổi cấu trúc cốt truyện 24
1.3.1. Thiếu vắng biến cố, giảm nhẹ kịch tính 24
1.3.2. Kĩ thuật liên kết các tình tiết 32
1.3.3. Kết thúc không hoàn tất 37
Tiểu kết 42
CHƢƠNG 2: NHÂN VẬT VÀ HÀNH TRÌNH CẢM XÚC PHI LÍ TRÍ 43
2.1. Chân dung nhân vật mang màu sắc ấn tƣợng 43
2.1.1. Những đường nét ấn tượng 43
2.1.2. Tăng cường yếu tố chủ quan 48
2.2. Sự lấn át của cảm xúc và hành động phi lí trí 52
2.2.1. Đời sống tâm lí nhân vật phức tạp và nhiều đột biến 53
2.2.2. Bút pháp độc thoại nội tâm 57
2.2.3. Sự giao thoa của vô thức và ý thức 60
2.3. Hình tƣợng tƣợng trƣng 63
2.3.1. Hình tượng phụ nữ Nga 64
2.3.2. Hình tượng con người nhỏ bé 67
5

Tiểu kết 69
CHƢƠNG 3: KHÔNG – THỜI GIAN ẤN TƢỢNG VÀ TƢỢNG TRƢNG 71
3.1. Không gian tƣợng trƣng 71
3.1.1. Những không gian thu nhỏ biểu tượng cho nước Nga trong tâm tưởng 71
3.1.2. Những không gian biểu tượng đậm chất triết lí - trữ tình 79
3.2. Thời gian ấn tƣợng 90
3.2.1. Thời gian quá khứ xuất hiện dày đặc 91
3.2.2. Thời gian ấn tượng – tập trung vào những khoảnh khắc 92
Tiểu kết 97
KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

6

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ivan Alekseyevich Bunin (1870 – 1953) là một trong những nhà văn độc đáo
của văn học Nga thế kỉ XX. Ngay từ những tác phẩm đầu tay, ông đã nhận được
những đánh giá cao của các bậc đại thành. A.Chekhov tin rằng: “Bunin sẽ trở thành
nhà văn lớn”; M.Gorky nhiều lần khen ngợi I.Bunin như các bức thư của mình:
“Anh biết không? Bunin quả là một trí tuệ trác việt. Anh ấy cảm nhận vẻ đẹp thật
tinh tế” hay “Bunin là bậc thầy hàng đầu trong văn học Nga hiện đại”,…
Cùng các tên tuổi rực rỡ như A.Chekhov, M.Gorky, I.Bunin đã mở rộng
cánh cửa đưa nền văn chương Nga bước vào “thế kỉ Bạc”, tiếp bước ánh hào
quang của “thế kỉ vàng” thế kỉ XIX. Ông là nhà văn Nga đầu tiên được Viện Hàn
lâm Thụy Điển trao tặng giải thưởng Nobel vào năm 1933 vì “có tài năng trác
tuyệt về nghệ thuật mà với tài năng này, ông đã tái hiện được một tính cách Nga
điển hình trong văn xuôi của nền văn học Nga” [46].
I.Bunin mang một số phận đặc biệt phức tạp, lại nằm trọn trong giai đoạn
văn học cuối thế kỉ XIX, nửa đầu thế kỉ XX đang chuyển mình mạnh mẽ, nên sự
nghiệp của ông cũng mang đầy đủ sự phong phú và biến động. Bên cạnh những
sáng tác thơ ca, những công trình dịch thuật và tiểu luận, không thể không nhắc tới
một bộ phận vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông là truyện ngắn,
truyện vừa và tiểu thuyết. Đặc biệt, truyện ngắn của ông cùng với Chekhov,
Maupassant là những truyện ngắn mẫu mực của văn chương thế giới.
I.Bunin từng bị quên lãng trên quê hương và văn đàn nhân loại. Nhưng từ
những năm của thập niên 50 thế kỉ XX, tác phẩm của ông đã giành được nhiều sự
quan tâm, nghiên cứu từ giới phê bình bản địa và thế giới. Đến nay, Ivan Bunin đã
là gương mặt quen thuộc trong giới văn chương Âu – Mỹ nhưng đó vẫn là mảnh đất
hứa ở Việt Nam.

Không ít nhà nghiên cứu đã xếp I.Bunin vào hàng ngũ những nhà hiện thực
chủ nghĩa. Tuy nhiên, họ cũng nhận ra rằng, ông là một nhà hiện thực đặc biệt, nhà
hiện thực đang “mở cửa” đón lấy những vang động mới mẻ của văn chương hiện
đại. Bản thân I.Bunin cũng tự khẳng định: “Tôi không tự coi mình là người theo
7

phái suy đồi, phái tượng trưng, phái lãng mạn hay phái hiện thực”. Như vậy, chắc
chắn I.Bunin không chỉ là một nhà hiện thực truyền thống, ông còn chịu ảnh hưởng
của chủ nghĩa hiện đại, trong đó rõ nhất và đậm nét nhất là chủ nghĩa ấn tượng và
chủ nghĩa tượng trưng. Những quan niệm hiện đại chủ nghĩa đã thôi thúc Bunin đổi
mới trong từng tác phẩm.
Bản thân người viết cũng đã bị lôi cuốn bởi cái dư vị nhẹ nhàng, sâu lắng,
bởi phong cách vừa cổ điển vừa hiện đại trong văn xuôi I.Bunin. Hành trình khám
phá những đặc điểm làm nên sức hấp dẫn cho các tác phẩm giản dị, nhỏ nhắn của
nhà văn cũng chứa đựng nhiều điều thú vị và bất ngờ.
Vì những lí do trên, người viết chọn đề tài Dấu ấn của chủ nghĩa hiện
đại trong văn xuôi Ivan Bunin mong góp một phần nhỏ vào việc đánh giá thế
giới nghệ thuật và những giá trị thẩm mĩ độc đáo trong văn xuôi của nhà văn
Nga tài năng này.
2. Lịch sử vấn đề
I.Bunin viết văn làm thơ và sớm nổi tiếng từ khi còn rất trẻ. Sau cách mạng
tháng Mười, như nhiều trí thức khác, Bunin rời nước Nga, sống lưu vong ở Pháp
cho đến cuối đời. Năm 1933, ông đã được nhận giải Nobel văn học với những tác
phẩm đã “tái hiện được một tính cách Nga trong văn xuôi của nền văn học Nga”
(Lời đánh giá của hội đồng giải thưởng Nobel). Tuy nhiên, Bunin lại được độc giả
xô viết biết đến khá muộn màng so với các nhà văn cùng thời khác. Do những hiểu
lầm về Cách mạng tháng Mười và những người Bolshevich, Bunin luôn mang trong
mình tinh thần chống đối với chính quyền xô viết. Từ đó, khoảng cách giữa ông với
cả một thế hệ độc giả Liên Xô ngày càng xa.
Mãi đến giữa những năm 1950, sau khi Bunin qua đời, Liên Xô bước vào

thời kì tan băng, tác phẩm của ông mới được xuất bản rộng rãi. Nhà văn bị lãng
quên dần trở về với dân tộc qua rất nhiều tập thơ, truyện ngắn, ký, tiểu luận. Cũng
từ đó, các công trình nghiên cứu về I.Bunin cũng ngày càng dày lên, không chỉ ở
Liên Xô mà trên toàn thế giới.
Ở Nga, những năm 1960 –1980, I.Bunin và các sáng tác văn xuôi của ông
được tiếp cận chủ yếu ở các phương diện như tiểu sử - con người, đề tài, nghệ thuật
8

miêu tả, phong cách sáng tác,… Các vấn đề nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực, sự
kết hợp giữa tính trữ tình và tự sự trong sáng tác của I.Bunin bắt đầu được quan
tâm. Văn nghiệp của I.Bunin được đặt vào dòng chảy chung của văn học Nga, đặt
trong cái nhìn xuyên suốt với sáng tác của các nhà văn Pushkin, Chekhov, Tolstoy,
Kuprin, Gorky,…
Từ những năm 90 đến nay, các sáng tác trong thời kì lưu vong của I.Bunin
được đặc biệt chú ý. Các nghiên cứu bắt đầu đi theo hướng chuyên sâu như công
trình như chuyên khảo I.A.Bunin: cuộc đời và sáng tác (1991) của
L.A.Smirnova. Một số hướng khác như nghiên cứu hiện tượng luận, thể loại tự
thuật,… đặc biệt là tìm hiểu chủ nghĩa hiện đại của L. Kolobaeva (1998) và tiểu
thuyết tượng trưng như E. Kalinia (1998) – khá gần gũi với hướng nghiên cứu
của luận văn. Những hướng nghiên cứu này đã đem lại những đã đem đến những
đánh giá mới mẻ cho các sáng tác của I.Bunin. Do hạn chế về ngoại ngữ nên
chúng tôi mới nắm được một cách khái quát và sơ lược về các công trình nghiên
cứu về I.Bunin bằng tiếng Nga. Chúng tôi sẽ có những đánh giá cụ thể hơn về
một số nghiên cứu đã được dịch ra tiếng Việt.
Ở các nước phương Tây, sáng tác của I.Bunin cũng được các nhà khoa
học nghiên cứu sâu và đưa vào các chương trình giảng dạy đại học như ở Mỹ,
Canada và Tây Âu. Các vấn đề về thời gian, không gian, thể loại được đặc biệt
quan tâm. Do những hạn chế về ngoại ngữ, chúng tôi chỉ xin đánh giá một vài
công trình nghiên cứu cụ thể, có liên quan trực tiếp tới nội dung của luận văn:
Between Tolstoy and Nabokov: Ivan Bunin Revisited (Tạm dịch: Giữa Tolstoy và

Nabokov: Nhìn lại Ivan Bunin) của Thomas Karshan, đặc biệt là cuốn Luận án Tiến
sĩ Into the Heart of Darkness: Ivan Bunin and the modernist poetics of memory
(Tạm dịch: Đi vào trung tâm của bóng tối: Ivan Bunin và thi pháp kí ức của chủ
nghĩa hiện đại) của Mary Petrusewicz.
Trong Between Tolstoy and Nabokov: Ivan Bunin Revisited, Thomas
Karshan đặt I.Bunin giữa hai nhà văn lớn Tolstoy và Nabokov, giữa một nhà văn
hiện thực cổ điển với một nhà văn hậu hiện đại. Bài viết đã khẳng định trong sáng
tác của Bunin vừa có những đề tài và thủ pháp của văn học cổ điển vừa có những
9

dấu hiệu rất rõ của chủ nghĩa hiện đại. Bài viết đã gợi mở nhiều ý tưởng mới mẻ về
vị trí gạch nối của I.Bunin trong sự vận động của lịch sử văn học Nga.
Luận án Into the Heart of Darkness: Ivan Bunin and the modernist poetics of
memory là một công trình công phu nghiên cứu về thi pháp kí ức trong các sáng tác
của I.Bunin, đặc biệt là Cuộc đời của Arseniev và Những lối đi dưới hàng cây tăm
tối. Tác giả luận án cho rằng I.Bunin chịu ảnh hưởng của Bergson, Proust, và chỉ ra
những yếu tố của chủ nghĩa hiện đại châu Âu trong tác phẩm của I.Bunin như vô
thức, dòng chảy ý thức, trực giác, các hình ảnh biểu tượng,… Ông liên tục khẳng
định rằng I.Bunin có kế thừa thành tựu của chủ nghĩa hiện thực Nga nhưng đến gần
với chủ nghĩa hiện đại hơn là chủ nghĩa hiện thực.
Qua các bản dịch từ tiếng Anh và tiếng Nga, chúng tôi có thể tiếp cận một số
công trình khác về I.Bunin như bài viết của Paustovsky trong Một mình với mùa
thu, chương nghiên cứu về Hơi thở nhẹ trong cuốn Tâm lí học nghệ thuật, L.
Vygotsky hay bài phát biểu của Per Hallström trong lễ trao giải Nobel,…
Bài tiểu luận nhan đề Ivan Bunin trong cuốn Một mình với mùa thu của
Paustovsky là một tài liệu hiếm hoi được dịch sang tiếng Việt. Bài viết đã cung cấp
cho chúng tôi những tư liệu quý về cuộc đời, quê hương, một số tác phẩm được
đánh giá cao của I.Bunin cũng như vài nét khái quát về phong cách nghệ thuật của
nhà văn. Paustovsky đã bước đầu nhận ra dấu ấn ấn tượng chủ nghĩa qua một số tác
phẩm như Hơi thở nhẹ, Cuộc đời Arsenev. Ông viết: “Tôi không biết liệu có thể gọi

tác phẩm này (Hơi thở nhẹ) là truyện ngắn được không? Đó không phải là truyện ngắn
mà là sự lóe sáng bất ngờ của tâm thế, là chính cuộc sống bồi hồi run rẩy và chan chứa
tình yêu, là sự suy ngẫm đượm buồn bình thản của nhà văn…” [32, tr. 95]. Paustovsky
đã đánh giá cao về tài năng quan sát và miêu tả thiên nhiên cũng như đời sống bên
trong của con người: “Bunin đã nhìn thấy từng cử chỉ nhỏ, từng biến động nhỏ
trong tâm hồn con người và ông đã viết về thiên nhiên thật rõ ràng, nghiêm ngặt và
dịu dàng, một thiên nhiên không bao giờ tách biệt với cuộc sống” [32, tr. 96] hay
“Bunin là người có cảm nhận chân xác hiếm thấy về màu sắc và ánh sáng” [32, tr.
99]. Tuy vấn đề dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại chưa thực sự được gọi tên và phân tích
10

một cách rõ ràng nhưng bài viết đã mở đường cho những nghiên cứu chuyên sâu và
có tính lí luận hơn về Bunin sau này.
Trong cuốn Tâm lí học nghệ thuật, L.Vygotsky đã dành chương bảy để nói
về tác phẩm Hơi thở nhẹ. Nhà khoa học này đã vận dụng những lí thuyết cấu trúc,
loại hình nhằm giải mã những vấn đề “sinh lí học”, những mâu thuẫn cảm xúc, bố
cục, các thủ pháp hình thức tiêu diệt nội dung của truyện ngắn này cũng như truyện
ngắn nói chung. Sự sắp xếp tuyến tính thời gian và trình tự các sự kiện trong tác
phẩm là yếu tố được Vygotsky quan tâm. Dựa trên một hệ thống các tình tiết chính,
ông đã tiến đến hành sơ đồ hóa truyện ngắn theo cách thức riêng. Cuối cùng nhà
nghiên cứu này kết luận: “Nếu chúng ta theo dõi những sự kiện ấy trình bày trong
truyện ngắn theo một trật tự như thế nào, thì thay vì cho sự phân bố nói trên ra đã có
bố cục của truyện ngắn và ta sẽ nhận ra ngay rằng nếu trên sơ đồ các sự kiện diễn ra
theo trật tự bảng chữ cái, tức là theo trình tự thời gian, thì ở đây cái hình tượng thời
gian ấy đã hoàn toàn bị phá vỡ” [40, tr. 281]. Bằng cách xáo trộn các mốc sự kiện,
Bunin đã tạo nên sự thay đổi ngoạn mục về ý nghĩa và chủ đề tác phẩm. Trật tự
tuyến tính không được coi trọng trong truyện I.Bunin tạo nên kiểu truyện “phi cốt
truyện”. Từ việc gọi ra đặc điểm riêng này của Bunin, nhà nghiên cứu đã khẳng
định dấu ấn của chủ nghĩa ấn tượng trong tác phẩm của Bunin. Vygotsky đã dành
cho truyện ngắn này những đánh giá cao: “nó như một mẫu hình của cả truyện ngắn

cổ điển lẫn truyện ngắn hiện đại, ở đây mỗi đặc điểm phong cách cơ bản vốn có ở
thể loại này đều bộc lộ hết sức rõ ràng. Xét về phẩm chất nghệ thuật, truyện ngắn
này chắc hẳn thuộc số hay nhất trong tất cả những gì được nghệ thuật văn chương
tự sự tạo nên và không phải ngẫu nhiên mà những ai từng viết về nó đều nhất trí
thừa nhận nó là mẫu mực của truyện ngắn nghệ thuật” [40, tr. 279].
Trong bài phát biểu tại buổi lễ trao giải Nobel Văn học năm 1933 đã được
dịch ra tiếng Việt, Per Hallström đã tinh ý nhận thấy: “Ông nhanh chóng thu hút
được sự chú ý của độc giả nhờ những vần thơ mô phỏng khuôn mẫu cổ điển. Chủ đề
của các tác phẩm thường miêu tả cái đẹp sầu muộn của cuộc sống trong những thái
ấp cũ. Cùng lúc đó ông viết những bài thơ văn xuôi miêu tả thiên nhiên với những
ấn tượng phong phú, được thể hiện trung thực và tinh tế phi thường… Ông đơn độc
11

trong một kỉ nguyên có nhiều thay đổi mạnh mẽ” [46]. Bunin không chỉ được đánh
giá cao bởi đã lưu giữ và bất tử hóa hồn cốt của nước Nga mà còn bởi những sáng
tạo của ông về mặt thể loại, những kế thừa từ văn học Nga cổ điển và những đổi
mới hiện đại của ông.
Trong bài viết Sự cám dỗ của cảm giác trong “Cuộc đời Arsenev” của Ivan
Bunin, nhà nghiên cứu Z. Hainade đã nhấn mạnh bố cục thời gian đặc biệt trong các
sáng tác của I.Bunin: “Tác phẩm của Bunin là dạng tiểu thuyết phi tuyến, nhiều thời
gian – không gian cảm xúc được đặt gần nhau: quá khứ, hiện tại, tương lai. Trong
đó, chúng tương tác với nhau: quá khứ bây giờ và sau đó thâm nhập vào hiện tại và
làm giàu hiện tại bằng kinh nghiệm của mình, luôn luôn tác động đến tương lai…”
[45, tr. 1-2]. Những nhận định về thời gian đã hé mở cho người viết ý tưởng về đặc
điểm không – thời gian mang dấu ấn hiện đại chủ nghĩa trong sáng tác của Bunin.
Ở Việt Nam, I.Bunin được giới thiệu khá muộn và đón nhận có phần dè dặt
hơn so với các nhà văn Nga đầu thế kỉ XX khác. Tới nay vẫn chưa có nhiều công
trình nghiên cứu nào có tầm cỡ và hệ thống về sáng tác của I.Bunin. Phần lớn chỉ là
bài giới thiệu sự nghiệp, đánh giá khái quát về phong cách sáng tác,… Xin dẫn ra ở
đây một số tài liệu nổi bật nhất và liên quan ít nhiều đến hướng triển khai luận văn

của chúng tôi.
Năm 1987, lần đầu tiên tác phẩm của Bunin được dịch ra tiếng Việt và xuất
bản. Những bài giới thiệu cho tập Những lối đi dưới hàng cây tăm tối (Hà Ngọc
dịch), Hơi thở nhẹ (Phan Hồng Giang dịch), bài viết I.Bunin – nhà văn, nhà thơ bậc
thầy trong văn học Nga hiện đại của Phạm Quốc Ca đăng trên Tạp chí văn học
nước ngoài, số 6, năm 2003,… đã giới thiệu tới độc giả những đặc điểm về nội
dung đề tài, bút pháp nghệ thuật nổi bật của văn xuôi I.Bunin. “Cái chất tạo hình –
biệt tài tả cảnh và khắc họa chân dung – cái chất nhạc trong thứ văn xuôi mượt mà,
dịu ngọt thì còn lưu lại mãi trong các văn phẩm của Bunin, đưa ông vào số nhà văn
ít ỏi trong văn học Nga đạt đến uy tín tuyệt đối về sử dụng ngôn từ.”[9, tr. 6],
“những truyện ngắn và truyện vừa – bộ phận cốt lõi trong di sản văn học của ông –
mới đọc tưởng chừng như đơn giản về cốt truyện, nhưng thực ra lại cực kì sâu sắc,
chúng bao la cả về thời gian lẫn không gian…”[7, tr. 7], “sau Chekhov, Bunin đã
12

đem lại sự đổi mới cho thể loại truyện ngắn Nga, mỗi truyện ngắn của ông vừa là
một áng văn xuôi lại vừa là một bài thơ, ông đã viết chúng với trí tuệ và trái tim của
một nhà tư tưởng, một nhà triết học và một nhà thơ” [7, tr. 8] hay “Di sản văn học
Bunin để lại không đồ sộ lắm… song được xem là sự đánh dấu một chương mới
trong lịch sử phát triển văn học Nga thế kỉ XX bởi sự sâu sắc, tinh tế cả về nội dung
lẫn hình thức nghệ thuật” [6, tr. 6]. Là những bài giới thiệu mang tính gợi mở cho
người đọc, vì thế những bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc định hình đề tài, phong
cách sáng tác của I.Bunin mà chưa có sự gợi mở về những sáng tạo nghệ thuật
mang dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại.
Bài báo Sự chuyển biến của tư duy nghệ thuật trong văn học Nga cuối thế kỉ
XIX, đầu thế kỉ XX của PGS. TS Phạm Gia Lâm đăng trên Tạp chí văn học số 11,
năm 1997 đã nhận định về I.Bunin: “Bunin thể nghiệm kết hợp những truyền thống
hiện thực chủ nghĩa với những biện pháp nghệ thuật mới và những nguyên tắc kết
cấu gần với chủ nghĩa ấn tượng (impressionism)”. PGS. TS Đỗ Hải Phong cũng
cùng chung quan điểm này khi viết trong phần Khái quát của Giáo trình Văn học

Nga: “Bunin bắt đầu sự nghiệp sáng tác bằng chủ nghĩa hiện thực theo “kiểu
Chekhov”, nhưng kết thúc sự nghiệp sáng tác bằng khuynh hướng gần với chủ
nghĩa ấn tượng.” Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học khi viết về chủ
nghĩa Ấn tượng đã khẳng định một lần nữa rằng sáng tác của những nhà văn lớn
như Maupassant, Chekhov, Bunin mang đậm dấu ấn của phong cách ấn tượng [2, tr.
47]. Đây là những luận điểm quan trọng, gợi ý cho chúng tôi triển khai đề tài luận
văn này.
Bùi Việt Thắng trong Truyện ngắn những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại
đã nhiều lần lấy sáng tác của Bunin để chứng minh cho các luận điểm viết về đặc trưng
thể loại truyện ngắn. “Những truyện ngắn hay (Những quả táo Antonov) thường thoạt
trông chẳng có gì, nhưng rồi càng đọc càng thấm, càng đau” [37, tr. 354].
Ngoài ra, bài giảng về Bunin với những nghiên cứu trường hợp về Hơi thở
nhẹ, Ngày thứ hai chay tịnh, Những quả táo Antonov… do PGS.TS Phạm Gia Lâm
và TS. Nguyễn Thị Như Trang soạn và cung cấp là những tài liệu quan trọng để
chúng tôi hoàn thành luận văn này.
13

Về luận văn, tính đến năm 2014, chúng tôi tìm thấy hai luận văn Thạc sĩ
nghiên cứu I.Bunin theo hướng chủ nghĩa hiện đại là Chủ nghĩa ấn tượng trong
truyện ngắn của Ivan Bunin (Hà Hồng Nhung, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005) và
Các mô hình tượng trưng trong văn xuôi I.Bunin (Đặng Thu Hương, Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, 2008).
Luận văn của Hà Hồng Nhung khai thác những đặc điểm của chủ nghĩa ấn
tượng trong truyện ngắn trong sự soi chiếu với chủ nghĩa ấn tượng trong hội họa. Do
đó, luận văn chủ yếu khai thác dấu ấn của chủ nghĩa ấn tượng trong bút pháp miêu tả
thiên nhiên và con người của I.Bunin mà chưa dành sự quan tâm đúng mức tới các yếu
tố vô thức, trực giác, kí ức của nhân vật và nghệ thuật tự sự của nhà văn.
Luận văn của Đặng Thu Hương đã cho chúng tôi những gợi ý về chủ nghĩa
tượng trưng trong văn xuôi của I.Bunin. Luận văn đã khai thác khá đầy đủ các cấp
độ tượng trưng, bước đầu có những lí giải về bản chất và nguồn gốc của các mô

hình tượng trưng.
Dẫu vậy, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đề cập đầy đủ đến những
biểu hiện các mặt của chủ nghĩa hiện đại trong văn xuôi I.Bunin, cũng như lí giải
nguồn gốc, lí do sự xâm nhập của chủ nghĩa hiện đại vào trong tác phẩm của ông.
Tóm lại, có thể thấy rằng, các sáng tác của Bunin đã nhận được sự quan tâm
của giới nghiên cứu ở Việt Nam tuy nhiên vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
chuyên sâu và xứng đáng với tầm vóc của nhà văn này. Luận văn vì vậy là sự nỗ lực
vượt qua điểm dừng, lấp đầy khoảng trống mà những công trình trước đây để lại.
3. Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm văn xuôi của I.Bunin đã
được dịch ra tiếng Việt, khoảng ba mươi truyện ngắn và một truyện vừa Nàng Lika.
Luận văn khảo sát văn xuôi I.Bunin trong các ấn phẩm:
Hơi thở nhẹ, Phan Hồng Giang dịch, Nxb Hội nhà văn, 2006.
Những lối đi dưới hàng cây tăm tối, Hà Ngọc dịch, Nxb Văn học, 2013.
14

Một số truyện ngắn do Thái Bá Tân dịch và in trong Tạp chí văn học nước
ngoài, 1996 – 1; do Thái Hà, Vũ Đình Phòng, Phạm Quốc Ca, Nguyễn Văn Chiến
dịch, in trong Tạp chí văn học nước ngoài, 2003, số 6.
Nàng Lika, Phan Hồng Giang dịch, Nxb Tác phẩm mới, 1988.
Tuyển tập tác phẩm, Phan Hồng Giang giới thiệu, Hà Ngọc, Phan Hồng
Giang, Thái Bá Tân, Hữu Việt, Đoàn Tuấn dịch, Nxb Lao động – Trung tâm Văn
hóa ngôn ngữ Đông Tây.
Những truyện đã được dịch này đều là những tác phẩm rất đặc sắc, điển hình
cho phong cách và bút pháp của Bunin. Tuy nhiên, chúng tôi không phân tích mọi
khía cạnh của các tác phẩm này mà lựa chọn những mặt tiêu biểu và rõ rệt nhất để
làm nổi bật nên luận điểm của từng dấu ấn hiện đại.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến xác định những dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại, cũng

như cách tri nhận mới về hiện thực trong văn xuôi của I.Bunin. Từ đó, chúng tôi
muốn đưa ra những đánh giá về vị trí của I.Bunin trong dòng chảy chung của văn
học Nga, đồng thời, đề xuất cách tiếp cận tác phẩm của nhà văn này.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại, rõ nhất là chủ nghĩa ấn tượng
và chủ nghĩa tượng trưng, trong sáng tác của I.Bunin, trên các phương diện lớn như
cốt truyện, nhân vật và không – thời gian nghệ thuật.
- Bước đầu lí giải cho sự xuất hiện của các dấu ấn hiện đại này trong tác
phẩm của I.Bunin.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Với cách phương pháp tiếp cận này, người
nghiên cứu xem tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật, một thế giới nghệ thuật
gồm nhiều yếu tố, nhân tố tương tác với nhau. Vì thế khi nghiên cứu về nhân vật,
người viết vẫn đặt trong mối liên hệ với cốt truyện và không – thời gian nghệ thuật,
chứ không cô lập từng yếu tố.
15

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Tìm hiểu tác phẩm của I.Bunin bằng
phương pháp tiếp cận thi pháp học giúp ta khám phá ra những yếu tố nghệ thuật
ngầm ẩn có tác động mạnh mẽ tới tâm tưởng và tình cảm của người đọc.
- Phương pháp so sánh: Để chỉ ra và chứng minh những dấu ấn của chủ
nghĩa hiện đại trong văn xuôi I.Bunin, chúng tôi so sánh, đối chiếu những đặc điểm
trong sáng tác của Bunin với các sáng tác của chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa cổ
điển trước đó.
Để giúp cho sự phân tích, đánh giá có sơ sở khoa học chúng tôi sẽ sử dụng
các thao tác thống kê, phân tích, tổng hợp.
5. Đóng góp của luận văn
Ivan Bunin là nhà văn vừa cổ điển vừa hiện đại, vậy nét hiện đại trong tác

phẩm của ông là gì? Bằng việc tìm hiểu những dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại trên
các phương diện cơ bản của tự sự, trong một chừng mực nhất định, sẽ giúp bạn đọc
hiểu rõ hơn được những sáng tạo nghệ thuật hiện đại của I.Bunin cũng như có cái
nhìn tương đối toàn diện về phong cách sáng tác của ông. Trên cơ sở đó, những
đánh giá về vị trí của I.Bunin trong lịch sử văn học Nga hiện đại cũng trở nên có
căn cứ và thích đáng hơn.
Bằng việc đi sâu nghiên cứu một tác giả tiêu biểu - I.Bunin, bạn đọc có được
những hình dung cụ thể hơn về sự chuyển mình của văn học Nga giai đoạn cuối thế
kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Kết quả nghiên cứu của luận văn là những gợi ý hữu ích cho
những người nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử văn học Nga thế kỉ XX cũng như
các sáng tác của I.Bunin.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Sự suy yếu của cốt truyện truyền thống
Chương 2: Nhân vật và hành trình cảm xúc phi lí trí
Chương 3: Không – thời gian ấn tượng và tượng trưng.
16

CHƢƠNG 1: SỰ SUY YẾU CỦA CỐT TRUYỆN TRUYỀN THỐNG
Cốt truyện là hệ thống các sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩm tự sự, thể
hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh xã hội nhất định nhằm
thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Có thể nói đó là một thành phần quan trọng
trong tác phẩm văn xuôi. Các nhà nghiên cứu thuộc những trường phái khác nhau trên
thế giới, từ cổ điển đến hiện đại đều đề xuất tiếp cận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ qua
hệ thống cốt truyện, bởi nó giúp ta tìm ra mô hình tự sự mang dấu ấn phong cách riêng
của nhà văn. Và cốt truyện cũng là một trong những yếu tố thể hiện rõ nhất dấu ấn của
chủ nghĩa hiện đại và làm nên sự khác biệt cho văn xuôi Bunin.
1.1. Quan niệm mới về cốt truyện của chủ nghĩa hiện đại
Cốt truyện là “hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng
và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức

động của tác phẩm văn học” [15, tr. 99]. Ngay từ khi ra đời, lí thuyết tự sự đã xác
định cho cốt truyện một vị trí khá quan trọng, là thành phần không thể thiếu để làm
nên cái hay của bất cứ tác phẩm tự sự nào. Bởi thế mà Goethe đã khẳng định: “Còn
gì quan trọng hơn cốt truyện và nếu thiếu nó thì cả nền lí luận nghệ thuật sẽ còn ra
gì nữa?” [37, tr. 69]. Maugham, nhà văn người Anh cũng khẳng định: “Nhà văn
sống bằng cốt truyện, y như họa sĩ sống bằng màu và bút vẽ vậy” [37, tr. 69]. Giá trị
của cốt truyện với một tác phẩm nghệ thuật là không thể phủ nhận và đã được lịch
sử văn học chứng minh.
Trong các tác phẩm tự sự truyền thống, nhà văn đặc biệt quan tâm và dụng
công kĩ càng trong việc tạo ra các cốt truyện chuẩn mực. Theo các nhà văn cổ điển,
truyện phải có chuyện, cốt truyện càng công phu bao nhiêu thì chất lượng tác phẩm
càng tăng lên bấy nhiêu. Thậm chí có nhà văn còn tuyệt đối hóa vai trò của cốt
truyện đến mức “nếu không có cốt truyện thì nó sẽ không là truyện ngắn nữa.” Như
vậy, chính cốt truyện li kì, độc đáo đã làm nên sức lôi cuốn cho tác phẩm tự sự.
Chức năng của cốt truyện trong tác phẩm văn xuôi là tạo nên mạch vận hành của sự
kiện, “một mặt, cốt truyện là một phương diện bộc lộ nhân vật, nhờ cốt truyện, nhà
17

văn thể hiện sự tác động qua lại giữa các tính cách nhân vật; mặt khác, cốt truyện
còn là phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội” [18, tr. 100].
Theo quan niệm truyền thống, mọi cốt truyện đều trải qua một tiến trình vận
động có hình thành, phát triển và kết thúc: “Mỗi cốt truyện thường bao gồm các
thành phần: trình bày, khai đoan (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết
thúc (mở nút)” [18, tr. 100]. Tương ứng với các thành phần này, bạn đọc khi đọc tác
phẩm văn xuôi truyền thống đều quan tâm trước hết ở khía cạnh là xem truyện kể về
chuyện gì, diễn biến kết quả ra sao. Có thể câu chuyện được kể không có gì là to tát,
lớn lao nhưng nó phải là vấn đề của đời sống, xã hội và con người đang diễn ra
xung quanh ta, nói cách khác, văn xuôi cổ điển là bức tranh chân thực của đời sống
hiện thực một cách khách quan. Truyện ngắn Chekhov giai đoạn đầu, truyện ngắn
O. Henry, Jack London là những ví dụ điển hình của cốt truyện truyền thống.

Truyện ngắn của Chekhov chứa đựng những câu chuyện rất thực, mang đậm màu
sắc đời thường của đời sống xã hội và con người Nga đương thời. Mỗi số phận,
mảnh đời được kể qua một câu chuyện hết sức nhẹ nhàng mà thấm thía. “Chuyện
đời vặt vãnh”, “Cái chết của một viên chức”, “Nhà tu hành vận đồ đen”… đều hấp
dẫn bởi cốt truyện hết sức độc đáo.
Truyện ngắn O. Henry, Jack London hầu hết đều xây dựng cốt truyện đầy đủ
năm thành phần: phần mở đầu dẫn dắt con người tới các trạng thái, các mối quan hệ
để triển khai nội dung. Tiếp đến là những sự gặp gỡ và xung đột, tạo cơ sở cho các
mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm. Khi đó câu chuyện bước vào giai đoạn cao trào
và giải quyết. Kết thúc câu chuyện là khi có kết quả cuối cùng và cao trào được mở
nút. Soi chiếu vào câu chuyện quen thuộc Chiếc lá cuối cùng của O. Henry, bạn đọc
sẽ thấy rất rõ các thành phần cốt truyện này. Câu chuyện xoay quanh hoàn cảnh đặc
biệt trong số phận của nhân vật Johnsy Johnsy, cô ngày ngày nằm trên giường bệnh
và nhìn những chiếc lá thường xuân rơi, khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống cô cũng sẽ
về với đất. Kịch tính xảy ra vào ngày cuối cùng, khi trên cành chỉ còn một chiếc lá,
ai cũng nghĩ rằng Johnsy sẽ qua đời; nhưng cụ Behrman đã xuất hiện. Cụ đem lại sự
sống cho Johnsy nhờ tác phẩm nghệ thuật của mình nhưng sau đó cụ lại ra đi. Từng
18

bước phát triển của cốt truyện đã ghi lại đầy đủ những biến chuyển trong suy nghĩ
và số phận nhân vật. Tình huống bất ngờ đã đem lại cái kết có hậu cho tác phẩm:
Johnsy tin tưởng vào sự sống và cụ Behrman có được tác phẩm cuối cùng xứng
đáng là tuyệt tác. Có thể thấy rất rõ rằng cốt truyện truyền thống chặt chẽ, đầy đặn
từ mở đầu đến kết thúc, tạo nên sự ổn định cho tác phẩm.
Bản thân các thể loại tự sự không ngừng biến đổi qua các giai đoạn văn học
nên các thành phần như cốt truyện thay đổi theo thời gian cũng là điều dễ hiểu. Có
thể thấy những quan niệm về cốt truyện của chủ nghĩa hiện đại có nhiều biến
chuyển rõ rệt.
Truyện ngắn hiện đại không phủ định tính cần thiết của cốt truyện nhưng nó
không còn là yếu tố mang tính quyết định. Câu chuyện được viết ra đôi khi chẳng

có gì to tát, thậm chí còn không có chuyện để kể nhưng nó vẫn thành truyện. Thói
quen “kể chuyện bằng văn xuôi” của văn xuôi truyền thống đã khiến cho nhà văn
“cứ bám mãi cốt truyện, nghĩa là cái có thể kể được, trong khi đời sống hiện đại cho
thấy nhiều sự thực cực kì phong phú nhưng lại không có diễn trình của một cốt
truyện và không thể kể được” [39, tr. 80]. Người đọc hiện đại vì thế chỉ có thể đọc
mà không thể tóm tắt hay kể lại câu chuyện một cách rõ ràng, “chỉ có thể thưởng
thức chúng đúng như nguyên dạng của chúng”, vì thực ra không có một câu chuyện
cụ thể nào cả mà là một chỉnh thể trọn vẹn như một bản nhạc, một bài thơ vậy. Kiểu
truyện không có cốt truyện xuất hiện từ đó và được coi là một cách tân độc đáo của
văn xuôi hiện đại.
Như Chekhov từng nhận định: “Không việc gì phải tìm bằng được những cốt
truyện thật lắt léo. Trong cuộc sống, tất cả cứ lẫn lộn với nhau, cái sâu sắc và cái
tầm thường, cái vĩ đại và cái bé nhỏ, cái bi thảm và cái hài hước” [28, tr. 102]. Theo
ông, công việc của nhà văn là viết một cách chân thực những gì anh ta cảm thấy chứ
không phải là những gì anh ta quan sát thấy từ cuộc sống. Có thể dễ dàng nhận ra
điều này trong văn xuôi hiện đại khi cốt truyện không chỉ có những hành động bên
ngoài, những sự kiện bề nổi, mà còn có những hành động bên trong, những sự kiện
tâm lí. Thay vì chỉ cố gắng tái hiện những khoảnh khắc, sự kiện của bức tranh đời
19

sống chân thực, văn xuôi hiện đại còn hướng vào nội tâm của con người, thể hiện
những trạng thái tình cảm, tâm tưởng sâu kín nhất. Mục đích lớn nhất của cốt truyện
hiện đại là tạo được ấn tượng sâu đậm trong độc giả và đem lại cho họ những suy
ngẫm, liên tưởng về nhiều vấn đề của cuộc sống.
Văn xuôi I.Bunin, Pauxtôpxki là ví dụ điển hình cho đặc điểm của cốt truyện
hiện đại. Cốt truyện của các nhà văn này không cần đến những tình huống cô đặc,
những xung đột căng thẳng, mà đơn giản chỉ là những lát cắt, những khoảnh khắc của
cảm xúc, tâm trạng. Theo Pauxtôpxki, “một cử chỉ, một lời nói, một việc làm tưởng
như nhỏ nhất cũng có khả năng chứa đựng bản chất của cả con người” [32, tr. 305].
Từ quan niệm mới mẻ về cốt truyện, các nhà văn của chủ nghĩa hiện đại đã

thay đổi hoàn toàn cấu trúc quen thuộc của cốt truyện truyền thống. Nhà văn không
quá dụng công vào việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, các biến cố đầy kịch
tính. Thậm chí mở đầu và kết thúc – thành phần đặc biệt quan trọng đối với văn
xuôi truyền thống, cũng không được quan tâm, thậm chí còn dang dở. Bạn đọc hiện
đại không ngại ngần đón nhận kiểu cốt truyện tâm lí bên cạnh cốt truyện hành động
quen thuộc và kiểu văn xuôi đậm đặc chất trữ tình. Những cách tân về cốt truyện
của chủ nghĩa hiện đại đã in dấu khá rõ nét trong văn xuôi I.Bunin, làm nên màu sắc
lạ cho các tác phẩm của ông.
1.2. Cốt truyện đậm chất trữ tình
1.2.1. Cốt truyện tâm lí
Truyện ngắn hiện đại thiên về tính trữ tình, nghĩa là gần với thơ, bạn đọc sẽ
cảm nhận được tâm thức và nhân cách nhân vật rõ hơn cả những sự kiện, hành động
được kể. Yếu tố trữ tình tăng dần, yếu tố tự sự giảm dần trong văn xuôi Bunin phần
nào xuất phát từ quan niệm của nhà văn, rằng “viết văn là cố gắng chiêm nghiệm
khuôn mặt của thế giới và để lại nơi đó khuôn hình của tâm hồn mình”. Vì thế sáng
tác của ông là sự kết hợp giữa kể chuyện và diễn tả cảm xúc trữ tình. Bunin là nhà
văn của phong cách ấn tượng nên truyện ngắn của ông bộc lộ mãnh liệt tính chủ
quan, sự suy tư của nhà văn về đời sống – chính là những “dấu ấn tâm hồn mình”.
Để phản ánh thế giới và con người thông qua cách nắm bắt những ấn tượng tức thời,
20

vụt thoáng, Bunin cần đến một phong cách kể chuyện tự do, tự sự phi cốt truyện là
một lựa chọn.
Đọc Bunin, người đọc không khỏi liên tưởng tới lời nhận xét của Pauxtopxki
về cái gọi là chất thơ của văn xuôi, đại ý rằng đó là khả năng nhìn cuộc sống, lúc
nào cũng như mới, như lần đầu tiên được thấy, trong tất cả dáng vẻ tươi nguyên và
đầy ý nghĩa của từng hiện tượng cho dù là có vẻ nhỏ nhặt nhất. Đó là cái nhìn tinh
tường thu nhận được mọi màu sắc, khả năng dùng ngôn ngữ mà vẽ lên sự vật như
hiển hiện, không phải phác tả mà chỉ ra, phơi bày được ra hiện thực, hành vi và tâm
thế con người. Đó là khả năng cảm nhận và truyền đạt chất thơ đậm đà, tản mát

quanh ta.
Chất thơ trong văn xuôi Bunin nhen lên nhiều nhất và trước hết ở cách xây
dựng cốt truyện tâm lí. Hầu hết các truyện của nhà văn thường chọn kiểu tình huống
gợi mở tâm lí – những tình huống rất khéo để nhân vật bộc lộ cảm xúc như tình
huống lựa chọn, tình huống gặp gỡ, tình huống trở về. Các nhân vật thường suy
nghĩ, hồi tưởng, hầu như không hành động nên để khai thác được thế giới cảm xúc,
tâm trạng, nhà văn phải đặt nhân vật vào tình huống có tác dụng gợi mở tâm lí. Điều
cốt yếu của tình huống này là tạo được một bối cảnh, một không khí, một duyên cớ
phù hợp bao quanh nhân vật nhằm khơi gợi mạch nguồn tự sự, để tâm trạng, xúc
cảm của nhân vật được bộc lộ.
Say nắng là truyện ngắn tiêu biểu cho kiểu cốt truyện tâm lí của Bunin. Sự
gặp gỡ tình cờ của viên sĩ quan và người con gái không quen biết ấy chỉ là cái cớ để
nhà văn diễn tả lại thế giới đa chiều, phong phú trong tâm hồn con người. Say nắng
– một “cú đấm của mặt trời vào tim” làm cho con người cảm thấy ngột ngạt, cảm
thấy nhịp sống đời thường thật vô vị, thấy lòng mình trống trải, buồn lặng lẽ khi
không có được người mình yêu. Mùa thu lạnh, một câu chuyện tình yêu và cuộc đời
của cô gái từ độ thanh xuân tới khi “sắp sửa ra đi” với rất nhiều ngã rẽ, nhưng
Bunin không có ý định gây ấn tượng với người đọc bằng những sự kiện cuộc đời
đó. Điều còn lại trong lòng nhân vật trữ tình và người đọc “chỉ có mỗi buổi chiều
thu lạnh ấy”. Một buổi chiều thu khiến người đã ra đi muốn sống mãi để nhớ về nó
21

và người đang sống giữ nó như kỉ vật đẹp nhất trong cuộc đời. Câu chuyện cuộc đời
cuối cùng là để khẳng định sự bất tử của những phút giây đáng nhớ ấy.
Trước Bunin, truyện ngắn vẫn phản ánh tâm lí của con người nhưng chưa
từng xuất hiện kiểu cốt truyện tâm lí với dòng tâm trạng dẫn lối. Trong cốt truyện
tâm lí, nhân vật thường mang một đời sống nội tâm phong phú, chủ yếu xuất hiện
với những hành động bên trong, những biến cố từ đời sống nhường chỗ cho những
suy ngẫm, cảm xúc trước các biến cố đó. Chính nhân vật “tôi” trong Natali đã tự
nói về mình: “Cuộc đời của tôi bề ngoài đơn điệu trôi qua, nhưng trong thâm tâm,

không bao giờ tôi được hưởng lấy một phút yên tĩnh”, “tôi đã quen với cái cảnh
sống của một người trong lòng có điều uẩn khúc đau đớn nhưng bề ngoài tôi vẫn
sống như mọi người khác” [9, tr. 502]. Nhân vật không đơn giản như vẻ bề ngoài
mà ta quan sát được, cốt truyện cũng lựa chọn đi theo dòng cảm xúc, tâm lí bên
trong của nhân vật – đi vào bề sâu chứ không chờn vờn với những hành động, lời
nói bề nổi. Những hình ảnh về cuộc sống khách quan dường như cũng được nhà văn
làm cho mờ nhòa, không còn sắc cạnh nữa. Giống như nghệ thuật điện ảnh hiện đại,
chỉ nhân vật chính với dòng chảy cảm xúc hiện lên rõ nét, tất cả cảnh vật bên ngoài
đều được làm mờ, trở thành phông nền để tôn lên nhân vật chính.
Cao trào của cốt truyện tâm lí là sự phát triển đến đỉnh điểm của cảm xúc, tư
tưởng của nhân vật. Những cảm xúc trong truyện của Bunin không đến mức đấu
tranh, giằng xé, day dứt, phần lớn chỉ là những tâm trạng nhớ, buồn, cô đơn, bâng
khuâng – nhẹ nhàng và tinh tế nhưng khi dồn nén, chúng cũng đủ để làm nên cao
trào. Trong Nàng Lika, mạch cảm xúc của nhân vật xưng “tôi” và tâm lí của nàng
Lika là những miếng ghép quan trọng trong cốt truyện của chương tiểu thuyết thiện
toàn này. Những chuyến đi, những lần gặp gỡ rồi chia xa giữa “tôi” và “nàng” sẽ
chỉ là những sự lặp lại nhạt nhẽo nếu thiếu đi những gia vị cảm xúc. Nàng Lika sẵn
sàng đánh đổi tương lai yên ổn với một lái buôn giàu sang để bắt đầu một hành trình
dài tới vùng Ucraina, sẵn sàng “từ bỏ bản thân mình” và tin rằng ở người đàn ông
mình yêu “được có cái gọi là quyền được có thứ tình cảm và hành vi đặc biệt” [6, tr.
254]. Những hi vọng: “Ít nữa chúng mình làm lễ cưới anh ạ. Em vẫn rất muốn thế
mà sau nữa, có gì đẹp hơn lễ cưới không! Có lẽ rồi chúng mình sẽ có con…”[6, tr.
22

253-254] dần tan theo năm tháng. Những chuyến đi nhân danh “chất nghệ sĩ”, tìm
kiếm những điều mới lạ và niềm say mê của nhân vật “tôi” dần đẩy cảm xúc của
Lika lên đến cao trào. Ban đầu là sự trách móc: “Anh ngày càng ít để ý đến em hơn!
Nhất là khi không phải chỉ có chúng mình bên nhau. Em sợ rằng em đã thành cái gì
đó như không khí đối với anh, không thể sống thiếu nó nhưng cũng chẳng để ý tới
nó” [6, tr. 248]; lớn dần thành nỗi buồn lo cố cất giấu, một chút lòng ghen, đọng

thành những giọt nước mắt vì cô đơn: “Anh bỏ em lại một mình còn chưa đủ sao?”
Rồi những nỗi lo về hạnh phúc: “tôi không còn mang theo nỗi buồn khát khao hy
vọng về tương lai nữa, chỉ còn chìm trong nỗi lo cho hạnh phúc hiện tại…” [6, tr.
257]. Tất cả những xúc cảm dồn nén và đưa nàng đến quyết định ra đi: “Em không
thể tiếp tục chứng kiến cái cảnh anh cứ mỗi ngày một xa em thêm, em không còn đủ
sức để tiếp tục chịu đựng những điều xúc phạm mà anh càng ngày càng gây ra
nhiều hơn cho tình yêu của em, em không thể giết chết tình yêu ấy trong em, em
không thể không hiểu rằng mình đã bị khinh rẻ hoàn toàn, đã bước xuống nấc thang
cuối cùng của sự tuyệt vọng…” [6, tr. 273]. Cao trào của cảm xúc đẩy mạch cốt
truyện phát triển, bạn đọc hứng thú với tác phẩm bởi những phát hiện bất ngờ về
chiều sâu của tâm hồn nhân vật.
Trong cốt truyện tâm lí, tác giả sử dụng các yếu tố tâm lí như kí ức, liên
tưởng để mở rộng không gian và thời gian: không gian được mở rộng đến những
chốn xa xôi, những miền đất nhân vật đã từng một thời gắn bó; thời gian không
dừng lại ở hiện tại mà thường trở về quá khứ hay hướng tới tương lai. Thời gian hồi
tưởng xuất hiện với tần suất cao trong truyện ngắn của Bunin, thậm chí có nhà
nghiên cứu còn gọi Bunin là nhà văn của hoài niệm.
Trong truyện của Bunin, các hình ảnh, sự kiện của cuộc sống bên ngoài đều
được nhìn nhận qua đôi mắt tâm trạng của nhân vật trữ tình, nhất là trong các truyện
được kể từ ngôi thứ nhất, bị chen ngang bởi những liên tưởng, những cảm xúc bột
phát. Đó lí do tại sao truyện của Bunin giàu chất thơ đến vậy.
1.2.2. Tự sự phi cốt truyện
Kiểu truyện phi cốt truyện là dấu hiệu dễ thấy của tự sự hiện đại. Với những tác
phẩm coi nhẹ cốt truyện hoặc “phi cốt truyện”, bạn đọc chỉ có thể đọc mà không thể kể
23

lại một cách tuần tự. Nhà văn cũng xác định rõ ràng rằng không quan trọng là nó kể
chuyện gì mà là nó mang lại cho người đọc những cảm xúc, những suy nghĩ gì.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng văn xuôi Bunin là những văn bản nghệ thuật
không có cốt truyện, hay chất truyện bị mờ hóa, thậm chí có khuynh hướng hủy diệt

cốt truyện. Toàn bộ câu chuyện là những suy tư dàn trải, miên man của các nhân
vật. Câu chuyện rất khó để kể – chỉ cảm được, thậm chí còn rất khó nhớ được các
chi tiết, sự kiện trong truyện – chỉ lưu giữ được những tâm trạng mà nhân vật và
bản thân người đọc vừa trải nghiệm mà thôi. Bởi thế, khi nói về truyện Bunin, nhà
nghiên cứu Phạm Gia Lâm gọi đó là những “sườn truyện lỏng lẻo”.
Những quả táo Antonov là một truyện ngắn thể hiện rõ nét kiểu truyện phi
cốt truyện của Bunin. Đọc tác phẩm bạn đọc nhận thấy sự kết hợp của những tình
tiết, những cảm nhận của nhà văn khi nhớ về quê hương mình. Đó là những buổi
sáng mùa thu trong các khu vườn “khô và thưa lá”, với mùi thơm nhẹ nhàng của táo
Antonov, những mùa táo bội thu, những ngày hội rực rỡ, những buổi đi săn trong
trang trại quý tộc… Nhìn bề ngoài ta thấy, bốn mảnh ghép dường không có liên hệ
gì với nhau, các chi tiết nhà văn “zoom” cận cảnh cũng không có mối liên quan chặt
chẽ mà chỉ đơn thuần là những điểm nhấn ấn tượng theo cảm quan của nhà văn.
Bạn đọc khó lòng tìm thấy một cốt truyện hoàn chỉnh và xuyên suốt. Thế nhưng
điều làm nên sự thống nhất lại chính là dòng chảy tâm trạng của nhân vật xưng
“tôi”, của một tâm hồn yêu mến, nuối tiếc về những nét đẹp của quá khứ một đi
không trở lại.
Say nắng là một truyện như không có chuyện. Nếu kể lại câu chuyện, có lẽ
bạn đọc chỉ cần tóm gọn trong vài ba câu ngắn: Nàng thiếu phụ gặp chàng trung úy
trên tàu. Sau một đêm, nàng bỏ đi, để lại chàng day dứt, nhớ nhung, đau khổ.
Nhưng rồi chàng cũng nhanh chóng trở về với cuộc sống hiện tại. Cốt truyện chỉ
bám vào một sự kiện duy nhất là sau một đêm nàng thiếu phụ kiên quyết bỏ đi, sau
đó cốt truyện phát triển không hề chặt chẽ. Bạn đọc có thể cắt bớt, có thể thêm vào
cốt truyện mà không làm ảnh hưởng tới nội dung của truyện…
24

Natali, được kể từ ngôi thứ nhất, cứ lặp đi lặp lại những cảm xúc tình yêu và
dục vọng của nhân vật xưng “tôi” với Sonia và Natali trong “mùa hè năm ấy”. “Mọi
việc cứ phẳng lặng trôi qua theo cái thứ tự của một ngày hè”, ngày hôm nay tiếp nối
ngày hôm qua, nhân vật ngày càng gắn bó với Sonia hơn, “gắn bó với những cuộc

gặp gỡ ngọt ngào, đắm đuối, mệt nhọc về đêm với nàng” nhưng “lại càng đau đớn
hơn, say mê hơn mà thầm kín theo dõi Natali, theo dõi từng cử chỉ, từng bước đi
của nàng” [9, tr. 502]. Chàng trai sinh viên, nhân vật trữ tình luôn băn khoăn, luôn
phải tự đấu tranh giữa hai tình yêu vụng trộm của mình, chàng tự trách “vì lẽ gì mà
ông trời trừng phạt tôi như vậy, vì lẽ gì mà cùng một lúc đem đến cho tôi hai mối
tình rất khác nhau và cùng say đắm như nhau – cái đẹp phụng thờ đầy đau đớn với
Natali và cái đắm đuối về thể xác với Sonia” [9, tr. 502]. Mạch truyện không có sự
xáo trộn về trật tự thời gian quá khứ, được ngắt thành 7 mảnh đoạn nhưng gần như
không có những sự kiện lớn và cốt truyện đều đều, mờ nhạt. Ngay cả những biến cố
mấu chốt như Natali chứng kiến mối tình vụng trộm của nhân vật “tôi” và Sonia, cái
chết của chồng Natali hay khi nhân vật “tôi” trở lại với mối tình “đến khi chết” của
mình,… cũng không làm cho cốt truyện trở nên sắc cạnh. Dường như cảm xúc đã
làm mờ đi những điều rõ ràng, khiến cốt truyện cũng trở nên bình lặng.
Khi đọc những câu chuyện gần như không có cốt truyện này, bạn đọc cũng
dần thay đổi cách tiếp nhận. Thay vì phải cố gắng khám phá sự kì công mà nhà văn
dành cho đứa con tinh thần của mình trong việc xây dựng biến cố, sự kiện, tình
huống, kết cấu, bạn đọc đến với tác phẩm một cách tự nhiên nhất – độc giả được
hòa nhịp vào dòng tâm trạng của nhân vật và người cầm bút. Đọc trở thành hành
trình khám phá tâm hồn và cả tài năng ngôn ngữ đặc biệt của nhà văn.
1.3. Thay đổi cấu trúc cốt truyện
1.3.1. Thiếu vắng biến cố, giảm nhẹ kịch tính
Nhà tự sự học Tamachenko xác định ba thành phần của cốt truyện là tình
huống, biến cố và xung đột. Trong đó, biến cố có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nó
chuẩn bị cho sự bùng nổ của xung đột. Biến cố được phân biệt với sự việc ở ba tiêu
chí, đó là “tính hữu hạn (sự việc xảy ra có đầu, cuối, trọn vẹn), tính đơn nhất (xảy ra
25

một lần), và quan trọng nhất là ý thức chủ quan của chủ thể tiếp nhận nó” [28, tr.
58]. Khi sử dụng ba tiêu chí này để xác định biến cố trong truyện Bunin, bạn đọc có
thể khẳng định rằng văn xuôi Bunin thường thiếu vắng các biến cố. Kể cả trong

những câu chuyện sự việc có khả năng trở thành biến cố, Bunin vẫn cố ý lảng tránh
để nó chỉ dừng lại là sự việc đơn thuần.
Xây dựng cốt truyện thiếu vắng biến cố, giảm nhẹ kịch tính là một thủ pháp
góp phần tạo nên chất trữ tình đặc trưng trong văn xuôi I.Bunin. Nhà văn không
dành đất cho những nút thắt đột ngột và mâu thuẫn đối kháng nảy lửa giữa các
tuyến nhân vật, thay vào đó, Bunin chỉ đưa vào trang viết những gì quen thuộc của
cuộc sống, hướng ngòi bút về phía các nhân vật mà nhà văn tình cờ kết nối trong
một cảm nhận chủ quan. Mỗi truyện đơn giản chỉ là sự truyền đạt lại những cảm
nhận tinh tế và đầy chủ quan của tâm hồn con người. Sức hấp dẫn của văn xuôi
Bunin không nằm ở các biến cố, cao trào mà cuốn hút bởi những cảm nhận tinh tế
và đầy chủ quan của ấy.
Trong Mùa thu lạnh bạn đọc khó tìm được một sự kiện nào thực sự là sự
kiện – nghĩa là đem đến bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật. Từ khi thanh xuân cho
tới khi sắp sửa ra đi, nhân vật “tôi” đã trải qua bao nhiêu sóng gió, rất nhiều sự việc
trong đời có tiềm năng trở thành sự kiện như sự hi sinh của người yêu ở Galixia,
cuộc hôn nhân với một người lính đã đứng tuổi có tâm hồn tuyệt vời, cái chết của
người chồng,… Nhưng thời gian văn bản dành cho những sự việc này không đủ dài,
tất cả lướt qua như một thước phim tua vội. Toàn văn bản chỉ vỏn vẹn gần 7 trang,
nhà văn dành tới hơn 4 trang để viết về cuộc chia tay của gia đình và nhân vật “tôi”
với người cô yêu trước khi ra chiến trường. Toàn bộ thời gian ba mươi năm sau khi
nghe tin về sự hi sinh của người yêu được kể lại trong phần dung lượng ngắn ngủi
còn lại. Những sự kiện trong đời nhân vật “tôi” được kể lại rất nhanh, chỉ có phần
kết quả mà không có cái gốc, cái nguyên cớ dẫn dắt. Phải chăng đó cũng là một
dụng ý của nhà văn. Ba mươi năm qua nhân vật “tôi” vẫn sống, vẫn chịu đựng được
cái chết của người yêu thuở thanh xuân nhưng dường như cuộc sống ấy rất hời hợt,
“những gì còn lại chỉ là một giấc mơ thừa.” Giấc mơ thật sự đã chôn vùi trong buổi

×