Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

Nhân vật tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh Thái Luận văn ThS. Văn học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (853.61 KB, 119 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




VŨ ĐÌNH VỤ



NHÂN VẬT THA HÓA
TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ ANH THÁI




LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC





HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




VŨ ĐÌNH VỤ



NHÂN VẬT THA HÓA
TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ ANH THÁI


CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC


Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. TRƢƠNG ĐĂNG DUNG


HÀ NỘI - 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trính nghiên cứu của riêng tôi.
Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS. Trương Đăng Dung. Mọi tham khảo dùng trong luận
văn đều được trìch dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trính, thời gian, địa điểm
công bố. Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá,
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.


Tác giả



Vũ Đình Vụ

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu cùng với sự tận tính chỉ bảo của PGS.TS
Trương Đăng Dung, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn này. Qua luận văn,
tôi xin gửi đến PGS.TS Trương Đăng Dung lời cảm ơn chân thành và lòng
biết ơn sâu sắc nhất. Trong suốt thời gian thực hiện, thầy đã luôn tận tính chỉ
dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Qua luận văn, tôi cũng xin gửi lời biết ơn chân thành đến quý thầy cô
trong khoa Văn học, các thầy cô phòng sau đại học, thầy cô trong thư viện
trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi
nhất giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi mong luận văn này như một lời cảm ơn để gửi tới bạn
bè, gia đính và đặc biệt là người vợ thân yêu đã cổ vũ, động viên và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trính học tập cũng như nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Một lần nữa, xin chân trọng cảm ơn.



Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn



VŨ ĐÌNH VỤ

1

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Lì do chọn đề tài. 3
2. Lịch sử vấn đề. 5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu. 9
4. Đối tượng nghiên cứu 9
5. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu. 10
6. Cấu trúc luận văn. 10
B. PHẦN NỘI DUNG 11
Chƣơng 1. VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI SAU ĐỔI MỚI 1986 VÀ HIỆN
TƢỢNG HỒ ANH THÁI. 11
1.1. Tính hính chình trị xã hội và tính hính văn học. 11
1.1.1. Tính hính chình trị xã hội. 11
1.1.2. Tính hính văn học. 12
1.2. Hồ Anh Thái – hiện tượng độc đáo của nền văn học đương đại. 17
1.2.1. Vài nét về tác giả. 17
1.2.2. Sự nghiệp văn chương. 18
1.2.3. Quan niệm văn chương. 19
Chƣơng 2. NHÂN VẬT THA HÓA VÀ MỘT SỐ KIỂU NHÂN VẬT
THA HÓA TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ ANH THÁI. 26
2.1. Nhân vật tha hóa trong tác phẩm văn học. 26
2.1.1. Nhân vật trong tác phẩm văn học 26
2.1.2. Kiểu nhân vật tha hóa trong văn học. 28
2.2. Một số kiểu nhân vật tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh Thái. 37
2.2.1. Nhân vật đam mê danh vọng, quyền lực. 39
2.2.2. Nhân vật say sưa dục vọng. 48
2.2.3. Nhân vật tham lam của cải, vật chất. 55
2.2.4. Nhân vật sống sa đọa 58

2

2.2.5. Nhân vật sống nhẫn tâm, độc ác. 65
2.2.6. Nhân vật biến dạng. 72
Chƣơng 3. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT THA HÓA
TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ ANH THÁI 77
3.1. Nghệ thuật mờ hóa nhân vật. 79
3.1.1. Không lai lịch. 79
3.1.2. Không ngoại hính. 81
3.1.3. Không đời sống nội tâm. 83
3.2. Nghệ thuật đặt tên nhân vật. 84
3.3. Nghệ thuật miêu tả ngôn ngữ nhân vật. 89
3.4. Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật. 92
3.5. Giọng điệu giễu nhại. 95
3.6. Nghệ thuật xây dựng nhân vật bản năng. 99
3.7. Nghệ thuật xây dựng nhân vật biến dạng. 101
C. PHẦN KẾT LUẬN. 104
THƢ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

3
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Con người luôn là chủ đề trung tâm của văn học từ văn học dân gian,
văn học Trung đại đến văn học hiện đại và văn học hậu hiện đại. Với tư cách
là sinh vật cao cấp nhất, là tinh hoa của muôn loài, con người luôn sống có ý
thức và tự tạo nên "cái tôi" riêng biệt. Sự hính thành và phát triển của nhân
cách là sự thống nhất của các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội để xác lập "cái
tôi" cá nhân. Sự biến đổi to lớn, sâu sắc của đời sống kinh tế – xã hội tác động
mạnh mẽ đến con người cũng như sự hính thành nhân cách con người.
Khi đất nước chuyển sang phát triển theo nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa hội nhập, nước ta tiến một bước dài về
kinh tế xã hội cũng như đời sống và quyền con người. Nhưng khi mà giá trị

vật chất được con người đặt lên quá cao, khi mà đại đa số mọi người đều chạy
theo lối sống thực dụng thí tính trạng tha hóa, biến chất về đạo đức của một số
bộ phận con người trong xã hội lại càng nhiều và tốc độ càng nhanh chóng.
Vấn đề đạo đức con người đã được những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, đạo diễn
phim… đề cập đến. Nhưng những tác phẩm văn học, những bài báo, bộ phim
hay công trính nghiên cứu của các nhà khoa học mới chỉ lột tả được phần nào
trong lối sống và đạo đức của con người trong xã hội hiện nay. Nhà văn chình
là những người nhanh nhạy nhất với vấn đề đạo đức của con người, đồng thời
cũng là người đau đời nhất. Thiên chức của nhà văn là làm cho con người trở
nên hoàn thiện, hoàn mỹ hơn ví trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại hai
mặt: tốt đẹp – tha hóa, thiện – ác, cao cả – thấp hèn, buồn, tiêu cục – tìch
cực… Ở đó, con người đứng trên ranh giới nhỏ nhoi giữa hai bờ thiện ác, nếu
không giữ được mính, con người sẽ bị tha hóa một cách nhanh chóng.
Văn xuôi Việt Nam từ sau đổi mới 1986 có những bước tiến dài và ghi
dấu ấn với nhiều tên tuổi như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Ma

4
Văn Kháng, Nguyễn Bính Phương, Phạm Thị Hoài, Phan Vàng Anh, Nguyễn
Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu… Trong lớp những nhà văn
kể trên không thể không kể đến Hồ Anh Thái – một gương mặt văn học có
nhiều cá tình và kĩ thuật viết hậu hiện đại.
Hồ Anh Thái là nhà văn có ý thức trách nhiệm trước đời sống nên anh
nhanh chóng thấu hiểu bản chất thật của sự sống đang diễn ra trước mắt.
Trước mắt anh là cuộc sống xô bồ ví xã hội ta bây giờ lắm loại người, nhiều
kiểu sống. Ví thế, nhân vật tha hóa trở thành một tuyến nhân vật rất quan
trọng trong sáng tác của Hồ Anh Thái.
Con người vốn rất phức tạp, cho nên Hồ Anh Thái đặc biệt quan tâm
đến con người tự nhiên, bản năng. Theo anh, con người có những khao khát
bản năng mang tình, nhân bản nhưng cũng có những bản năng lại nhấn
chím con người trong hố đen của sự suy đồi. Bên cạnh con người bản năng,

Hồ Anh Thái còn nhín thấy sự tha hóa ở con người đương đại. Với Hồ Anh
Thái, xã hội càng phát triển thí con người càng trở nên tha hóa. Đằng sau
sự tha hóa của con người là cả một xã hội nhố nhăng, ngổn ngang không gí
cải biến được.
Tác phẩm của Hồ Anh Thái luôn nhận được sự quan tâm của công
chúng bởi phong cách viết trẻ trung và cách nhận thức đời sống sâu sắc. Sáng
tác của Hồ Anh Thái có nhiều cách tân nghệ thuật, với cách viết và lối tư duy
nghệ thuật mới mẻ theo hướng hội nhập với kĩ thuật viết hậu hiện đại so với
các nhà văn cùng thời. Đặc biệt, cách xây dựng nhân vật của Hồ Anh Thái
thường mang đến những bất ngờ cho độc giả, nhất là cách xây dựng nhân vật
tha hóa. Tím hiểu con người tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh Thái là góp
phần tím hiểu thế giới nhân vật trong sáng tác của tác giả nói riêng và của các
nhà văn hiện nay nói chung, đó là lì do chúng tôi chọn “Nhân vật tha hóa
trong sáng tác của Hồ Anh Thái” làm đề tài cho luận văn này.

5
2. Lịch sử vấn đề.
Với lối viết trẻ trung cùng kĩ thuật viết hiện đại, sáng tác của Hồ Anh
Thái luôn thu hút sự quan tâm của dư luận từ bạn đọc đến giới phê bính trong
và ngoài nước. Dư luận về Hồ Anh Thái tập trung chủ yếu tập trung trong giới
chuyên môn qua những công trính nghiên cứu, phê bính, đánh giá, giới thiệu
sách, những khóa luận tốt nghiệp của sinh viên và luận văn của học viên trong
các trường đại học. Những công trính nghiên cứu, đánh giá về sáng tác của
Hồ Anh Thái là khá cô đọng, có giá trị định hướng và khơi gợi sự khám phá.
Chúng tôi có thể lược ra những bài viết, phê bính, đánh giá tiêu biểu về
nhà văn Hồ Anh Thái cũng như sáng tác của anh:
Trong Giấc mơ lạ tặng cho người đọc, Nguyễn Thị Minh Thái nhận
xét: “Trong tình hình bộn bề xuất bản hôm nay, lạ nhất là tiểu thuyết Hồ Anh
Thái vẫn có chỗ đứng riêng trên thương trường sách văn học, vẫn được số
lớn người có nhu cầu đọc, và nóng lòng chờ đợi; và chờ đợi theo cách riêng

mà Hồ Anh Thái được quyền “ấn định”: cung cấp một giấc mơ tiểu thuyết
thật mới” [80. tr. 469]. Những tác phẩm của Hồ Anh Thái ngay khi ra đời đã
thu hút sự chú ý rộng rãi của bạn đọc cũng như giới phê bính bởi tình độc đáo
của nó. Tình độc đáo trong văn phẩm Hồ Anh Thái có thể phân tìch từ nhiều
góc độ như: cấu trúc tác phẩm, đề tài, ngôn ngữ và đặc biệt là giọng điệu tác
phẩm không lẫn với bất cứ tác giả nào. Tác phẩm của Hồ Anh Thái mỗi lần
xuất bản lên đến hàng nghín cuốn, cùng với đó là một số lượng lớn độc giả,
giới phê bính đón đọc. Chình ví thế, Hồ Anh Thái là nhà văn “hốt” nhất trong
nền văn chương đương đại nước nhà. Không chỉ nổi tiếng trong nước, các tác
phẩm của Hồ Anh Thái còn được dịch ra hơn 10 thứ tiếng như Mỹ, Pháp,
Thụy Điển, Hàn Quốc, Đan Mạch, Ấn Độ… Không những vậy, tác phẩm của
Hồ Anh Thái được sinh viên và các nhà nghiên cứu Mỹ sử dụng làm tư liệu
nghiên cứu và giảng dạy.

6
Trong Hồ Anh Thái – người lúc nào cũng đang viết, Hoài Nam cũng
khẳng định: “Nhà văn chuyên nghiệp là người phải biết tự ép mình vào một
thứ kỉ luật viết. Và nhà văn chuyên nghiệp là người có đủ kỹ năng và nghệ
thuật để khi ngồi vào bên bàn, có thể huy động cảm hứng đến. Hồ Anh Thái
đã làm được điều ấy” [56]. Trong số những nhà văn Việt Nam hiện nay, Hồ
Anh Thái là người viết khỏe nhất, viết đều đặn nhất, được bạn đọc đón nhận
nồng nhiệt nhất và anh sống khỏe bằng ngòi bút của mính. Hồ Anh Thái là
một cây bút hết sức chuyên nghiệp trong sáng tạo nghệ thuật. Anh đều đặn
viết hàng ngày và lao động viết một cách nghiêm túc chứ không viết theo kiểu
“ngẫu hứng” như nhiều người. Với hơn 30 năm tím tòi, khám phá Hồ Anh
Thái đã có khoảng 30 đầu sách đã xuất bản. Nếu nhín vào số liệu năm xuất
bản, độc giả có thể thấy hầu như năm nào Hồ Anh Thái cũng cho ra đời một
cuốn sách. Với những thành công vang dội cả trong và ngoài nước như vậy,
năm 2000, Hồ Anh Thái được đông đảo các bạn viết tôn vinh và bầu giữ chức
Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội.

Trong Người luôn làm mới mình, Tôn Phương Lan nhận xét: “Dường
như với anh, viết là một sự khai phá mới trên mảnh đất đã có chi chít dấu
chân. Tạo ra một “thương hiệu” cho mình, chí ít là anh đã làm đa dạng
gương mặt văn chương đất nước những năm đầu của thế kỉ mới” [77. tr. 267].
Đây là nhận xét hoàn toàn chình xác ví với sự hiểu biết có chiều sâu về lịch sử
xã hội cùng với thiên chức của một nhà văn thực tài, anh viết về cuộc sống
tươi nguyên đang cuồn cuộn chảy trước mắt. Có thể nói, anh là người chuẩn
bị tương đối đầy đủ về mặt văn hóa, trong đó có cả những giá trị văn chương
trong nước và của nhiều nước trên thế giới. Càng dấn thân trên con đường văn
chương, nhà văn càng hiểu biết sâu hơn về văn hóa. Anh khám phá những vỉa
sâu trong tâm hồn con người và viết về những vấn đề của nó. Lúc mới cầm
bút viết văn Hồ Anh Thái đã vậy, sau này anh cũng vậy.

7
Trong Hồ Anh Thái và dấu ấn hậu hiện đại, Bùi Thanh Tuyền và Lê
Biên Thùy trong khi khảo sát 31 truyện ngắn trong hai tập Sắp đặt và diễn;
Tự sự 265 ngày đã chỉ rõ: “Hồ Anh Thái là một gương mặt tiêu biểu đã góp
công cho sự tìm tòi, thể nghiệm, tạo dựng một thứ văn học mới có khả năng lật
trở, soi chiếu nhiều phương diện của thực tại hôm nay” [109]. Đề tài trong các
tác phẩm của Hồ Anh Thái thường ghi đậm dấu ấn về sự khủng hoảng niềm
tin của con người. Tác phẩm của Hồ Anh Thái thường xoáy sâu vào câu
chuyện về một thế giới vô nghĩa, phi lý và tương ứng với nó là hệ thống
những nhân vật nghịch dị, quái đản. Trong khi xây dựng nhân vật, Hồ Anh
Thái đã sử dụng thủ pháp dân gian hóa nhân vật ở phương thức đặt tên, lai
lịch và diện mạo. Đồng thời không chịu đi vào một khuôn phép, chuẩn mực
nào, Hồ Anh Thái đã xây dựng được những hính tượng nghệ thuật độc đáo.
Hính thức giễu nhại là một trong những đặc trưng nổi bật của phong cách
sáng tác hậu hiện đại, cũng được Hồ Anh Thái sử dụng triệt để. Nhà văn công
khai bày tỏ thái độ của mính đối với sự phi lý và bất công trong cuộc sống.
Anh đã tinh tường khi phát hiện ra cái nhố nhăng trong thực tại và bằng giễu

nhại, anh lật tẩy những trò hề trong xã hội đương thời.
Bên cạnh đó còn những bài viết, phê bính, nghiên cứu như: Ngọc Anh
với Nhà văn Hồ Anh Thái, sáng tạo, bứt phá trên từng con chữ; Diệu
Hường với Một góc nhỏ văn chương Hồ Anh Thái; Nguyễn Đăng Điệp với
Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc; Thúy Liễu với Người thích đi chệch
đường ray…?; Nguyễn Minh với Nhà văn Hồ Anh Thái: lấy sự ôn hòa mà
đáp lại; Thiên Ý với Nhà văn Hồ Anh Thái: một mình qua đường; Mai
Phương với Nhà văn Hồ Anh Thái: hành trình sáng tạo không mệt mỏi,
Trần Thị Hải Vân với Một chiêm nghiệm cõi người, Vũ Bão với Vẫn là nỗi
đau truyền kiếp, Vân Long với Cái ảo trên nền thực, Nguyễn Thị Minh Thái
với Giọng tiểu thuyết đa thanh…

8
Những khóa luận, luận văn như: “Những cách tân nghệ thuật trong
tiểu thuyết Hồ Anh Thái” của Phan Lan Anh; “Nghệ thuật trần thuật trong
tiểu thuyết Hồ Anh Thái” của Nguyễn Hữu Tâm; “Cảm hứng giễu nhại
trong sáng tác của Hồ Anh Thái” của Nguyễn Bá Thạc; “Kết cấu tiểu thuyết
hiện đại qua tiểu thuyết Hồ Anh Thái” của Nguyễn Thị Ngọc Hà; “Hồ Anh
Thái và nỗ lực cách tân tiểu thuyết” của Hoàng Thị Xuân; “Điểm nhìn
trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái” của Hoàng Thu Thủy; “Nghệ thuật trào
phúng trong sáng tác của Hồ Anh Thái” của Trần Thị Hoài Phương; “Nghệ
thuật tự sự trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái” của Nguyễn Thanh Tâm; “Văn
xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người” của Võ
Anh Minh; “Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái” của Mai
Thanh Hiền; “Hình tượng nhân vật và không gian nghệ thuật trong tiểu
thuyết Hồ Anh Thái” của Lê Thị Kim Dung… Từ các công trính trên chúng
ta có thể thấy sáng tác của Hồ Anh Thái luôn nhận được sự quan tâm từ công
chúng. Điều đó chứng Hồ Anh Thái là một hiện tượng đặc biệt của nền văn
học đương đại Việt Nam.
Liên quan đến đề tài mà chúng tôi lựa chọn, công trính Quan niệm

nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Mười lẻ một đêm của Hoàng Thị
Tố Nga đã đề cập đến vấn đề tha hóa và nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa
trong tác phẩm và của con người trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, công trính
nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu trong phạm vi trong tiểu thuyết Mười lẻ
một đêm, chưa khảo sát một cách đầy đủ sáng tác của Hồ Anh Thái nên con
người tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh Thái chưa được nhín nhận một cách
sâu sắc, toàn diện và đầy đủ.
Trong Hình tượng nhân vật và không gian nghệ thuật trong tiểu
thuyết Hồ Anh Thái , Lê Thị Kim Dung cũng đã chỉ ra các nhân vật trong
sáng tác của Hồ Anh Thái dấn thân vào con đường băng hoại đạo đức nên tha
hóa, đồng thời tác giả cũng đưa ra những biện pháp nghệ thuật mà Hồ Anh

9
Thái sử dụng để xây dựng nhân vật của mính. Nhưng tác giả luận văn mới
phần nào đề cập đến con người tha hóa, chưa chỉ ra những biện pháp nghệ
thuật xây dựng nhân vật tha hóa của Hồ Anh Thái.
Trong Nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái của Điêu Thị Tú
Uyên, tác giả mới chỉ đề cập đến nhân vật trong truyện ngắn của Hồ Anh
Thái, chưa đề cập đến nhân vật trong tiểu thuyết mà tiểu thuyết mới là “giấc
mơ dài” nhà văn.
Trên tinh thần tiếp thu từ những gợi mở của các nhà nghiên cứu đi
trước, chúng tôi mong muốn đi sâu vào nghiên cứu và phân tìch nhân vật tha
hóa và nghệ thuật xây dựng nhân vật tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh một
cách toàn diện và đầy đủ hơn. Điều đó không chỉ xác định giá trị của những
đóng góp trong sáng tác của Hồ Anh Thái cho nền văn học mà còn khẳng
định tài năng cũng như vị trì của nhà văn gốc Nghệ này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Luận văn có nhiệm vụ đi sâu tím hiểu nhân vật tha hóa trong sáng tác
của Hồ Anh Thái, qua đó thấy được giá trị của những sáng tác của tác giả
trong đời sống văn chương, thấy được phần nào hiện thực cuộc sống trong xã

hội hiện nay, đồng thời thấy được hồi chuông cảnh tỉnh về tính hính đạo đức,
lối sống của con người hiện nay. Bên cạnh đó, luận văn còn tím hiểu bút pháp
nghệ thuật được Hồ Anh Thái sử dụng khi xây dựng nhân vật tha hóa.
4. Đối tƣợng nghiên cứu.
Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu là những nhân vật tha hóa trong
sáng tác của Hồ Anh Thái, đặc biệt là nhân vật tha hóa trong tiểu thuyết, đồng
thời chỉ ra các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật tha hóa của Hồ Anh
Thái. Để hoàn thành tốt công việc, luận văn tím hiểu thêm một số tác phẩm
văn học đương đại để có cái nhín toàn diện và sâu sắc hơn.



10
5. Phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu.
5.1 Phạm vi nghiên cứu.
Với đề tài này, phạm vi nghiên cứu bao gồm các tiểu thuyết: Người và
xe chạy dưới ánh trăng (Nxb Tác phẩm mới, 1987), Cõi người rung chuông
tận thế (Nxb Trẻ, 2013), Dấu về gió xóa (Nxb Trẻ, 2012), Đức Phật, nàng
Savitri và tôi (Nxb Thanh niên, 2010), Người đàn bà trên đảo (Nxb Phụ nữ,
2003), Trong sương hồng hiện ra (Nxb Phụ nữ, 2003), SBC là săn bắt chuột
(Nxb Trẻ, 2012), Mười lẻ một đêm (Nxb Lao động, 2009).
Đồng thời, để có cái nhín sâu sắc và toàn diện hơn, người viết còn tham
khảo các tập truyện ngắn của Hồ Anh Thái: Tự sự 265 ngày (Nxb Trẻ, 2014),
Bốn lối vào nhà cười (Nxb Trẻ, 2014 ), Mảnh vỡ của đàn ông (Nxb Trẻ,
2014), Tiếng thở dài qua rừng kim tước (Nxb Trẻ, 2014).
Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo một số tác phẩm của Nguyễn Thị
Thu Huệ, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu và một số
tác giả khác để so sánh và đối chiếu, phương pháp tiếp cận thi pháp học.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phương pháp chủ yếu được người viết sử dụng trong quá trính nghiên

cứu là: phương pháp phân tìch – tổng hợp; phương pháp thống kê – phân loại;
phương pháp so sánh – đối chiếu.
6. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và Thƣ mục tài liệu tham khảo,
luận văn được trính bày trong 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Vài nét về văn xuôi sau đổi mới 1986 và hiện tượng Hồ Anh
Thái.
Chương 2: Nhân vật tha hóa và một số kiểu nhân vật tha hóa trong sáng
tác của Hồ Anh Thái.
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật tha hóa trong sáng tác của Hồ
Anh Thái.

11
B. PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI SAU ĐỔI MỚI 1986 VÀ HIỆN TƢỢNG
HỒ ANH THÁI.
1.1. Tình hình chính trị xã hội và tình hình văn học.
1.1.1. Tình hình chính trị xã hội.
Chiến dịch Hồ Chì Minh kết thúc thắng lợi đã mở ra một kỉ nguyên
mới cho lịch sử nước nhà. Đất nước thoát khỏi cuộc chiến nhưng hậu quả của
chiến tranh để lại hết sức nặng nề. Cùng với đó là cơ chế quan liêu bao cấp đã
không còn phù hợp với tính hính thực tế của đất nước. Điều đó đòi hỏi một
công cuộc cải cách toàn diện đất nước để đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng
hoảng đang ngày càng trầm trọng.
Từ ngày 15 – 18/12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã diễn ra
tại Hà Nội. Đại hội đổi mới của Đảng đã dám nhín thẳng vào sự thật, nói rõ sự
thật, đánh giá đúng sự thật mà trước hết là chỉ ra những nguyên nhân sâu xa
của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng. Những sai lầm và khuyết
điểm trong lãnh đạo kinh tế – xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong

hoạt động tư tưởng – tổ chức và công tác cán bộ của Đảng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đưa ra đường lối phát triển đất
nước trong tính hính mới. Về kinh tế, Đảng yêu cầu là xóa bỏ kinh tế bao cấp,
thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, đồng thời đổi mới về cơ chế quản
lì kinh tế. Về chình trị, cần đổi mới về phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi
mới về quan hệ quốc tế. Về văn hóa, Đảng xác định văn hóa là nền tảng tinh
thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội ở nước ta.
Gần 30 năm sau công cuộc đổi mới 1986, đất nước đã đạt được những
thành tựu rực rỡ, đã làm thay đổi bộ mặt đời sống, kinh tế, chình trị xã hội của
đất nước. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải

12
thiện và nâng cao. Về kinh tế, đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt
tốc độ tăng trưởng nhanh. Song song với đổi mới kinh tế, từng bước đổi mới
về chình trị, xã hội, văn hóa với mục tiêu phát huy quyền làm chủ thực sự của
nhân dân, xây dựng và phát huy đại đoàn kết toàn dân, giữ gín bản sắc văn
hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Khoa học – công nghệ cùng
với giáo dục – đào tạo được Nhà nước hết sức chăm lo. Nhà nước coi chình
sách phát triển khoa học – công nghệ và giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng
đầu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, gần 30 năm qua việc xây dựng nền văn hoá
mới và giải quyết các vấn đề xã hội, con người luôn luôn được quan tâm.
Tăng trưởng kinh tế gắn chặt với phát triển văn hoá, xã hội và con người. Các
quyền con người, đặc biệt là các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, đã được
bảo đảm đầy đủ hơn bất cứ thời kí lịch sử nào trước đây.
1.1.2. Tình hình văn học.
Văn học phát triển thường vừa lệ thuộc vừa có tình độc lập với sự phát
triển của xã hội. Mỗi biến cố lớn của lịch sử thường để lại những dấu ấn đậm
nét trong văn học. Trong Về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm văn học, Trần
Đăng Suyền khẳng định: “Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà

văn. Nhưng mỗi nhà văn lại sống trong một thời đại cụ thể, chịu sự chi phối
bởi một hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hóa cụ thể nào đó. Vì thế, xét đến cùng,
tác phẩm văn học là con đẻ của thời đại và về một phương diện nào đó, nó
mang dấu ấn của thời đại sản sinh ra nó”[68. tr.12]. Chình ví thế, sau Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12 năm 1986, cùng với sự đổi mới về kinh
tế, chình trị thí văn học cũng có những bước chuyển mính mạnh mẽ để vươn
lên những đỉnh cao mới. Yêu cầu đổi mới văn học đòi hỏi nhà văn phải nhín
con người trong những mối quan hệ đời thường đầy đa đoan và phức tạp,
khám phá con người ở khìa cạnh đời tư bằng cặp mắt nhiều chiều và bằng
cách viết đa thanh. Quá trính đổi mới văn học ở Việt Nam diễn ra hết sức sôi
động và đa dạng trên các thể loại: văn xuôi, thơ, kịch, lý luận phê bính, văn

13
học dịch và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Các nhà văn đã dành tất cả tâm
lực của mính cho một cuộc đổi mới toàn diện văn chương như đổi mới quan
niệm, cách viết, đề tài… và đặc biệt nhất là đổi mới quan niệm nghệ thuật về
con người với nội dung dân chủ và nhân bản sâu sắc.
Cuộc gặp gỡ giữa đồng chì Tổng Bì thư Nguyễn Văn Linh với gần 100
văn nghệ sĩ và các nhà hoạt động văn hoá vào tháng 10 năm 1987 có ý nghĩa
rất quan trọng về tư tưởng và tâm lì. Cuộc gặp gỡ đã thực sự “cởi trói” cho
văn học, để văn học có “thêm dũng khí và hào hứng mà tự cứu mình” [22, tr.
134]. Từ việc chỉ ra đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng đến
sự khuyến khìch văn nghệ sĩ tím tòi, sáng tạo, yêu cầu có những thể nghiệm
mạnh bạo, rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và phát triển các loại hính, thể
loại nghệ thuật và các hính thức biểu hiện. Sau cuộc gặp gỡ, đời sống văn học
nghệ thuật diễn ra rất sôi nổi. Bên cạnh những cây bút gạo cội thí một loạt cây
bút trẻ xuất hiện tiêu biểu cho khát vọng đổi mới nền văn học, nhất là về
phương diện thể nghiệm và tím hướng đi mới.
Chiến tranh kết thúc, con người phải đối diện với những vấn đề thế sự,
nhân sinh và cả những chuyện rất riêng tư, văn học tất yếu phải đổi mới theo

tinh thần thời đại. Sự đổi mới đầu tiên có lẽ bắt đầu từ việc mở rộng phạm vi
phản ánh hiện thực. Từ một hiện thực chủ yếu được giới hạn trong đời sống
chình trị xã hội, tác phẩm văn chương đã tím đến một hiện thực rộng lớn hơn
của đời sống nhân sinh thế sự. Nhiều cây bút đã đi vào khám phá và thể hiện
“mọi khía cạnh của đời sống cá nhân với những quan hệ thế sự đan dệt nên
cuộc sống đời thường phồn tạp mà vĩnh hằng” [50. tr. 12]. Đó là nền tảng cho
sự mở rộng đề tài trong văn chương thời đổi mới, trong đó, đề tài đạo đức xã
hội là một đề tài mới mẻ, là mảnh đất màu mỡ để các nhà văn hướng đến. Từ
đây, các nhà văn truy tím trong cơ chế thị trường những nguyên nhân làm nảy
sinh tiêu cực. Nhà văn đã không ngần ngại đưa vào trang viết những hiện
tượng tiêu cực của xã hội, thể hiện tình dự báo trong thời đổi mới: Con người

14
luôn phải cảnh giác và tránh xa cái ác, cái phi đạo đức, phi nhân tình, đồng
thời lên án, phê phán những hiện tượng xấu xa, bỉ ổi, những việc làm tiêu cực,
sai trái của con người hiện nay.
Ngay trong và sau công cuộc đổi mới 1986, nhiều tác phẩm có giá trị
xuất hiện đã gây chấn động dư luận như : Thời xa vắng của Lê Lựu; Tướng
về hưu của Nguyễn Huy Thiệp; Thiên sứ của Phạm Thị Hoài; Bến không
chồng của Dương Hướng; Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc
Trường; Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng; Những mảnh
đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập; Vòng tròn bội bạc; Ăn mày dĩ vãng
của Chu Lai; Góc tăm tối cuối cùng của Khuất Quang Thụy; Bước qua lời
nguyền của Tạ Duy Anh; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh… Những tác
phẩm xuất hiện gần đây như: Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa của
Nguyễn Xuân Khánh; Những mảnh hồn trần của Đặng Thân; Thành phố đi
vắng của Nguyễn Thị Thu Huệ; Nhiệt đới gió mùa của Lê Minh Khuê; Cõi
người rung chuông tận thế; Đức phật, nàng Sivitri và tôi; Mười lẻ một đêm;
Tự sự 265 ngày của Hồ Anh Thái…
Chưa bao giờ nền văn học nước nhà có một lực lượng hùng hậu tham

gia vào hoạt động văn nghệ như thế, từ thế hệ nhà văn trưởng thành trong
kháng chiến chống Mĩ đến các nhà văn trưởng thành sau công cuộc đổi mới
1986. Nếu Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu… đã
dũng cảm thay đổi mính để trở thành những cây bút tiên phong của văn học
đổi mới thí sự xuất hiện của Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…
đã đưa tiến trính đổi mới nền văn học trở nên sôi động và tạo bước ngoặt mới
trong sự phát triển của văn học dân tộc. Khi Nguyễn Bính Phương, Hồ Anh
Thái, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị
Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, … xuất hiện thí văn học đổi
mới đạt thành tựu rực rỡ. Mỗi nhà văn một phong cách, góp thêm cho văn học

15
đổi mới những tiếng nói riêng, phong phú và đa dạng. Những năm trở lại đây,
nền văn học nước nhà còn xuất hiện thêm những gương mặt mới làm rạng rỡ
nền văn học dân tộc như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Đỗ Bìch Thúy,
Nguyễn Đính Tú, Di Li, Nguyễn Quỳnh Trang, Nguyễn Thị Cẩm… đưa nền
văn học nước nhà tiến kịp với tiến trính của nền văn học thế giới.
Tuy sự liệt kê đó chưa đủ nhưng từng đó cũng đủ cho chúng ta thấy đây
là lực lượng rất hùng hậu, tạo nên sự sôi động trong đời sống văn chương sau
công cuộc đổi mới và văn học thời kí đổi mới là một bức tranh phong phú, đa
dạng, đậm sắc màu, thậm chì rất phức tạp. Mỗi người một dáng vẻ, một giọng
điệu riêng nhưng tất cả đã góp phần hính thành diện mạo mới cho nền văn
đương đại, đặc biệt là những nhà văn trẻ. Tất cả cho hiệu quả của công cuộc
đổi mới của văn xuôi đương đại.
Công chúng đón nhận và theo dõi văn học với sự thìch thú đáng ngạc
nhiên. Nhiều cuộc tranh luận gay gắt diễn ra. Những tác phẩm từng gây xôn
xao dư luận một thời như: Thời xa vắng của Lê Lựu; Thiên sứ của Phạm Thị
Hoài; Tướng về hưu, Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp; Bên kia bờ ảo vọng
của Dương Thu Hương; Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn
Kháng; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu;

Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư; Cõi người rung chuông tận thế,
Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái…
Trong bối cảnh xã hội đổi mới, khi những cánh cửa được mở ra, những
chân trời mới được vẫy gọi, cái mới lạ thường là đề tài dễ thu hút con người.
Các hiện tượng văn học trên cũng thế, nghĩa là họ đã được quan tâm, chú ý
bởi chình cái mới mẻ, lạ lẫm mà họ trính hiện trên văn đàn đổi mới. Khen chê
là điều tất yếu trong cơ chế tiếp nhận của công chúng khi các giá trị không tím
được tiếng nói đồng thuận. Con đường đi lên của văn học phải chấp nhận điều
đó như một quy luật.

16
Cùng với sự sôi động của nền văn học, con người cá nhân từng bước
chiếm vị trì trung tâm của văn học. Văn học hôm nay có vẻ như tàn nhẫn với
con người. Nhưng, đằng sau sự tàn nhẫn đó bao giờ cũng có nỗi đau sâu sắc
và thấm thìa về nhân tính của người cầm bút. Đó là niềm tin vào sức mạnh bất
diệt của nhân tình, vào khả năng vươn tới cái thiện và đạo đức của con người.
Văn học hôm nay không thờ ơ trước cái ác và bi kịch của cá nhân ví văn học
là nơi để tác giả bộc lộ quan điểm của mính trước cái ác, các xấu, cái tha hóa
của con người.
Trên hành trính cách tân mạnh mẽ của văn học dân tộc nửa sau thập kỉ
80 của thế kỉ XX, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện của một hiện
tượng độc đáo, đó là hiện tượng Hồ Anh Thái. Nếu Nguyễn Minh Châu là nhà
văn tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác lấy đời tư của con người để khám
phá những quy luật vĩnh hằng của các giá trị nhân bản, Nguyễn Huy Thiệp
tiêu biểu cho khuynh hướng lấy con người cá nhân để cân đo trạng thái nhân
thế thí Hồ Anh Thái lấy cá nhân làm thước đo giá trị, chuẩn mực đạo đức con
người. Chình ví lấy con người cá nhân làm thước đo giá trị đạo đức nên khi
đọc Hồ Anh Thái, độc giả có thể nhín thấy một “cõi người” lẫn lộn giữa tốt
đẹp – xấu xa, thật – giả, đen – trắng, cao thượng – thấp hèn Thế giới ấy
được thể hiện qua cái nhín rất thật và sâu sắc của nhà văn về con người, đồng

thời nói lên được sứ mệnh cao cả của văn chương là phản ánh một cách sinh
động và trung thực về con người.
Đối tượng trong sáng tác của Hồ Anh Thái là cuộc sống và con người
thời mở cửa, đó là giới công chức nhà nước, giới trì thức, sinh viên, giới trẻ…
Sự xuống cấp trong nhân cách, lối sống, đạo lý, văn hóa của họ phần nào
phản ánh sự xuống cấp của xã hội đương đại với nhiều phức tạp và bất ổn. Tất
cả được nhà văn khám phá, mổ xẻ, lật tẩy bằng một chất giọng khách quan,
lạnh lùng và đậm chất trào phúng, hài hước.

17
1.2. Hồ Anh Thái – hiện tƣợng độc đáo của nền văn học đƣơng đại.
1.2.1. Vài nét về tác giả.
Hồ Anh Thái sinh năm 1960, quê gốc ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh
Lưu, tỉnh Nghệ An nhưng anh sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Thuở nhỏ Hồ
Anh Thái từng sống ở Nam Định cùng gia đính và ngay từ nhỏ anh đã phải sơ
tán về nông thôn để tránh bom đạn kẻ thù. Anh không thuộc thế hệ trực tiếp
cầm súng chống giặc nhưng anh được chứng kiến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc của dân tộc.
Hồ Anh Thái sống một mính trong căn nhà nhỏ, lối đi vào cũng nhỏ
ở phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Anh không thìch đàn
đúm, không thìch nhậu nhoẹt nên hiếm khi anh mời ai về nhà. Anh sống
trọn vẹn trên căn gác, với bốn bề là sách và băng đĩa. Trong đó rất nhiều
sách tiếng Anh, sách ấn Độ và những cuốn sách của anh bằng cả tiếng
Việt lẫn tiếng Anh.
Hồ Anh Thái tốt nghiệp phổ thông năm 1977 rồi học Đại học Ngoại
giao và nhận được bằng cử nhân ngành Quan hệ Quốc tế năm 1983. Sau khi
tốt nghiệp, anh về làm việc ở Bộ Ngoại giao rồi đi lình.
Năm 1988, Hồ Anh Thái sang học tập và làm việc ở Đại sứ quán Việt
Nam tại ấn Độ và anh sống tại đất nước này sáu năm. Đây là một bước quan
trọng trên đường đời nhà văn. Anh trở thành nhà ấn Độ học khi tuổi đời còn

rất trẻ. Vào tuổi 31, anh tốt nghiệp Học viện Hindi, và nhận hàm Bì thư thứ ba
Sứ quán Việt Nam tại ấn Độ.
Mấy năm sau Ấn Độ, Hồ Anh Thái bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ
Văn hóa phương Đông tại Mỹ, rồi về làm việc trong nước. Hiện nay anh
là Tiến sĩ ngành Văn hóa phương Đông, công tác tại Bộ Ngoại giao Việt
Nam. Ngoài vai trò một nhà ngoại giao, Hồ Anh Thái còn là một giảng viên,
một nhà Ấn Độ học, Đông Phương học.

18
1.2.2. Sự nghiệp văn chƣơng.
Khởi nghiệp viết văn từ khi còn là một học sinh, Hồ Anh Thái nổi lên
như một hiện tượng lạ. Với giọng văn trẻ trung, tươi mới về đời sống thanh
niên, sinh viên với những cuộc phiêu lưu, những khát khao khám phá đời
sống. Những tác phẩm tiêu biểu của Hồ Anh Thái được người đọc biết đến
trong thời gian này là Trong sương hồng hiện ra, Người và xe chạy dưới
ánh trăng, Người đàn bà trên đảo, truyện ngắn Món tái dê, Chàng trai ở
bến đợi xe
Đầu những năm 1990, sau nhiều năm nghiên cứu và làm việc ở nhiều
nước Âu – Mỹ, đặc biệt là 6 năm tại Ấn Độ, anh trở lại trên văn đàn với
những chùm truyện ngắn độc đáo về Ấn Độ: Người đứng một chân, Người
Ấn, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Cuộc đổi chác…
Từ năm 2000, anh có những tác phẩm được đánh giá cao và gây tranh
luận như Cõi người rung chuông tận thế, Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà
cười, Mười lẻ một đêm” Cũng trong năm 2000, anh được bầu là chủ tịch
Hội Nhà văn Hà Nội.
Năm 2007, anh trở lại với đề tài Ấn Độ bằng tiểu thuyết Đức Phật,
nàng Savitri và tôi. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học Việt Nam tái
hiện chân dung Đức Phật.
Với các tiểu thuyết và tập truyện ngắn đã xuất bản, phần lớn trong đó
đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn

sung sức nhất và được đón đọc nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay. Hồ Anh Thái
viết văn như một thứ lao động nghiêm ngặt, anh chăm chút cho từng câu chữ
với tinh thần không chấp nhận cái gí sẵn có, không thụ động chờ cảm hứng
đến rồi mới cầm bút viết.
Với những cống hiến cho nền văn học nước nhà, Hồ Anh Thái được
nhận Giải thưởng truyện ngắn 1983 –1984 của báo Văn nghệ với truyện
Chàng trai ở bến đợi xe; Giải thưởng văn xuôi 1986 – 1990 của Hội Nhà văn

19
Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với tiểu thuyết Người và xe
chạy dưới ánh trăng; Giải thưởng văn học 1995 của Hội Liên hiệp Văn học
Nghệ thuật Việt Nam với tập truyện ngắn Người đứng một chân. Giải thưởng
của Hội Nhà văn Hà Nội 2012 cho tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột, tác
phẩm ghi nhận sự tím tòi, đổi mới cách viết của tác giả, đồng thời phản ánh
một cách hài hước, sâu cay hiện thực đời sống của Hà Nội.
Là nhà văn có cá tình sáng tạo, Hồ Anh Thái đã và đang cho ra đời
những những tác phẩm mới với những thử nghiệm độc đáo và mới lạ để tác
phẩm của mính luôn hấp dẫn. Hồ Anh Thái thực sự là một hiện tượng độc đáo
của nền văn chương đương đại Việt Nam.
1.2.3. Quan niệm văn chƣơng.
Hồ Anh Thái có thói quen đọc rất nhiều ngay từ thời niên thiếu. Anh
đọc ngấu nghiến, dồn dập ngay từ khi còn nhỏ nên anh sớm hiểu về cuộc
chiến tranh trên quê hương mính ở phương diện văn hóa – xã hội. Đến khi
cầm bút, anh quyết định không bắt chước các nhà văn đàn anh mà tạo cho
mính một hướng đi riêng. Anh cho rằng để tím một hướng đi cho mính, thế hệ
hậu chiến phải nhận món nợ từ quá khứ nhưng cũng phải thay đổi, phải phê
phán, đồng thời phải xây dựng trên nền tảng quá khứ. Có thể nói, Hồ Anh
Thái là nhà văn chuẩn bị tương đối đầy đủ về mặt văn hóa, trong đó có cả
những giá trị văn chương, không chỉ văn chương trong nước, mà cả văn
chương thế giới. Càng dấn thêm trên con đường văn chương, nhà văn càng

thấy phải hiểu biết sâu hơn về văn hóa. Anh là nhà văn của cuộc sống đang
cuồn cuộn trước mắt. Anh khám phá những vỉa, những tầng sâu trong cuộc
sống và nêu lên những vấn đề còn tồn tại trong đó. Hồ Anh Thái từng tâm sự:
“Tôi quan niệm tiểu thuyết như một giấc mơ dài, gấp sách lại người ta vừa
mừng rơn như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải chia
tay với những điều đời thực không có” [78, tr.253]. Trong mấy chục năm cầm
bút, nhà văn đã tạo ra một chuỗi giấc mơ dài và mỗi tiểu thuyết ra đời là một

20
giấc mơ độc đáo. Điều đó chứng tỏ, quan niệm viết tiểu thuyết của Hồ Anh
Thái đã được xây dựng trên sự tự ý thức của người cầm bút. Bên cạnh đó là
quá trính đổi mới tư duy, giọng điệu và cách ứng xử với ngôn ngữ dân tộc.
Anh đã bền bỉ tạo nên một dòng chảy và để lại những ấn tượng khó phai trong
lòng độc giả.
Trong Phong cách không phải là cái vỏ ngoài bất biến và ngoan cố
do Lê Hồng Lâm phỏng vấn, Hồ Anh Thái không chỉ quan niệm tiểu thuyết là
giấc mơ dài mà anh còn quan niệm “người viết văn phải là người vật vã lao
động trên từng con chữ, mà là chữ sáng tạo” [86, tr. 224]. Với anh, sáng tác
văn chương là một sự khai phá mới trên mảnh đất đã chi chìt dấu chân nên
không thể viết hời hợt, thiếu sự tím tòi. Anh không chấp nhận những cách viết
dễ dãi, những nhà văn có trái tim vô cảm trước đời sống. Quan niệm của Hồ
Anh Thái tương đồng với quan niệm của nhà văn Nam Cao thể hiện trong
truyện ngắn Đời thừa: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo
tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những
người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo
những cái gì chưa có” [60, tr. 9]. Hồ Anh Thái “cảnh giới” mính khi làm nghề
văn “Người viết văn không phải vì thế mà bạ gì cũng viết. Biết sử dụng chữ
cũng phải thận trọng như biết dùng súng dùng dao. Không khéo thì sẩy tay
cướp cò. Trúng vào người vô tình ngang qua. Trúng vào chính mình. Chớ cậy
có chữ. Nhà văn là người biết được mình nên viết gì. Nói vậy đúng quá. Nhà

văn là người biết được mình không nên viết gì […] Chớ viết nhờn tay quen
tay. Chớ viết vì ngứa chân ngứa tay ngứa da đầu” [84, tr.107]. Đó là một
quan niệm hết sức nghiêm túc về văn chương, đồng thời là lương tâm nghề
nghiệp và ý thức trách nhiệm đối với ngòi bút ví nghề văn là một hoạt động
sáng tạo và người nghệ sĩ là một người sáng tạo. Anh đã lao động khó nhọc
trên từng câu chữ để tím kiếm, khám phá, đấu tranh tự vượt lên mính để
hướng tới những sáng tạo đìch thực. Chỉ có tím tòi, khám phá và sáng tạo thí

21
mới tím thấy bản ngã đìch thực của mính, mới khẳng định vị trì của mính trên
văn đàn. Trong những thập kỷ qua, Hồ Anh Thái đã đạt được những thành tựu
đáng kể trong lao động “trên từng con chữ” của một nhà văn thực sự coi việc
viết là một nghề. Với anh, nhà văn chuyên nghiệp phải biết tự ép mính vào
một thứ kỷ luật viết và phải biết “ngồi vào bàn và anh phải có đủ kĩ năng để
huy động cảm hứng đến” [78, tr.255]. Hồ Anh Thái tự đặt lịch là mỗi ngày
phải đều đặn viết ìt nhất hai tiếng. Với ý thức và lương tâm nghề nghiệp đúng
đắn, cho nên hầu như năm nào độc giả cũng được tiếp nhận tác phẩm mới của
Hồ Anh Thái.
Với một quan niệm đúng mực về nghề văn, Hồ Anh Thái đã tạo cho
mính một giọng điệu đa phong cách. Anh luôn tím tòi, sáng tạo, đổi mới để
không lặp lại chình mính và không lặp lại phong cách của người khác. Cũng
trong Phong cách không phải là cái vỏ ngoài bất biến và ngoan cố, Hồ Anh
Thái mong muốn: “Các công cụ văn chương mà thế giới này có, tôi đều muốn
sử dụng. Đồng thời tôi là người không bằng lòng với những gì sẵn có và dễ
kiếm, cho nên luôn tìm cách tạo ra những công cụ mới” [86, tr.223]. Thành quả
trong cuộc khám phá ấy mang lại niềm cảm hứng cho chình tác giả. Hồ Anh
Thái đã luôn thay đổi, tự làm mới mính qua đề tài, cảm hứng và phương pháp
sáng tác. Trong cuộc phỏng vấn của báo Người lao động, Hồ Anh Thái chia sẻ:
“Hiện thực và không gian nghệ thuật của mỗi cuốn sách đòi hỏi một cách xử lý
riêng, một giọng điệu riêng, một văn phong riêng. Tôi tránh lặp lại người khác

và lặp lại chính mình. Tôi cho rằng người có phong cách chính là không khư
khư bám lấy một phong cách cố định, bất biến. Có phong cách là phải đa giọng
điệu” [86, tr.250]. Anh không dừng lại lâu ở một lối viết nào. Những vấn đề
mới mẻ, những cách viết độc đáo, những sáng tạo mới cả về nội dung và nghệ
thuật là sáng tạo đìch thực mà Hồ Anh Thái muốn cống hiến cho nghệ thuật và
cho cuộc đời. Nhà văn sợ rằng văn nghệ sĩ luôn lấy làm hài lòng với phương
pháp mính lựa chọn. Ví lẽ đó, anh luôn có ý thức tím tòi làm mới tư tưởng của

×