Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Địa vị pháp lý của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn ThS. Luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 100 trang )



Đ ẠI H ỌC QU ỐC GIA H À N ỘI
KHOA LU ẬT







HO ÀNG V ĂN TH Ứ







Đ ỊA V Ị PH ÁP L Ý C ỦA NH À Đ ẦU T Ư
TR ÊN TH Ị TR Ư ỜNG CH ỨNG KHO ÁN VI ỆT NAM








LU ẬN V ĂN TH ẠC S Ĩ LU ẬT H ỌC















H À N ỘI, N ĂM 2009



Đ ẠI H ỌC QU ỐC GIA H À N ỘI
KHOA LU ẬT







HO ÀNG V ĂN TH Ứ






Đ ỊA V Ị PH ÁP L Ý C ỦA NH À Đ ẦU T Ư
TR ÊN TH Ị TR Ư ỜNG CH ỨNG KHO ÁN VI ỆT NAM






CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50




LU ẬN V ĂN TH ẠC S Ĩ LU ẬT H ỌC




Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS, Phạm Duy Nghĩa







H À N ỘI, N ĂM 2009





1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường chứng khoán hình thành và phát
triển như một tất yếu, khi nền kinh tế ấy đạt những tiêu chuẩn nhất định. Tuy
nhiên, mức độ phát triển cụ thể thị trường chứng khoán từng quốc gia lại phụ
thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Sự
khác nhau về mức độ phát triển nền kinh tế - xã hội, tính hoàn thiện, tính hiệu
quả của hệ thống pháp luật là một trong những nhân tố quyết định cho việc vận
hành bình thường thị trường chứng khoán.
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu phải hình thành và phát triển
từng bước thị trường chứng khoán.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
đề ra yêu cầu chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước xây dựng thị trường
chứng khoán phù hợp với điều kiện và định hướng phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Theo đó, luật thị trường chứng khoán nước ta dần được hoàn
thiện và đã xác định được các quyền của các chủ thể tham gia thị trường, trong
đó có các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư. Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng
tỏ bản chất, cơ cấu thị trường chứng khoán, trên cơ sở đó thể chế hóa kịp thời,
đầy đủ những yêu cầu thị trường chứng khoán đặt ra có ý nghĩa quan trọng. Ở
phương diện này, việc nghiên cứu đề tài “Địa vị pháp lý của nhà đầu tư trên
thị trường chứng khoán” để từ đó nhận biết quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư

trên thị trường chứng khoán có vai trò đặc biệt quan trọng. Do đó, việc nghiên
cứu để tìm ra những luận cứ khoa học, những định hướng và giải pháp cho việc
bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán là đòi hỏi bức thiết cả về lý luận
và thực tiễn.


2

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, sự ra đời của thị trường chứng khoán gắn với quá trình
chuyển đổi nền kinh tế và nó còn khá mới mẻ đối với nhiều người dân. Do vậy
việc nghiên cứu về thị trường chứng khoán nói chung và địa vị pháp lý của nhà
đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng, trong đó bao gồm cả quyền và
nghĩa vụ của nhà đầu tư dưới góc nhìn pháp luật chưa có nhiều đề tài nghiên
cứu, đề cập sâu về vấn đề này. Vì vậy, việc cần làm sáng tỏ địa vị pháp lý của
nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán để đề ra các biện pháp đảm bảo các
quyền của nhà đầu tư được đảm bảo trên thực tế, tránh những thiệt hại, rủi ro
cho các nhà đầu tư đang đặt ra hết sức cấp bách.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Đề tài sẽ tập nghiên cứu những quy định pháp lí cũng như những cơ sở
lí luận của vấn đề địa vị pháp lý của nhà đầu tư, từ đó xác định rõ quyền của nhà
đầu có những quyền, lợi ích cũng như nghĩa vụ gì khi tham gia thị trường chứng
khoán. Đề tài sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá thực tiễn về xu hướng bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, cũng như trách nhiệm của nhà đầu tư, qua đó nêu lên
kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư.
4. Phương pháp nghiên cứu luận văn
Dựa trên phương pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
- Tổng hợp, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thông qua các
ví dụ cụ thể liên quan đến nội dung nghiên cứu.

- So sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật với thực tiễn liên quan
đến quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân trên thị
trường chứng khoán để chỉ ra được những điểm hạn chế, không phù hợp trong
các quy định pháp luật hiện hành để từ đó có những kiến nghị, đề xuất nhằm
tiếp tục bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.



3

5. Đóng góp mới của luận văn
- Căn cứ thực tế tình hình thực tế của thị trường chứng khoán Việt Nam
hiện nay và thông qua các ví dụ điển hình, luận văn chỉ ra được những điểm còn
bất hợp lý, không phù hợp trong quy định của pháp luật chứng khoán và các văn
bản pháp luật có liên quan về quyền và lợi ích của nhà đầu tư.
- Từ việc đánh giá, phân tích đó, luận văn sẽ đề cập những vấn đề thực
trạng, lý do và nguyên nhân dẫn đến việc nhà đầu tư cá nhân thường ở vị thế
yếu và nhà đầu tư dễ bị các chủ thể khác lợi dụng, làm ảnh hưởng đến quyền
của bản thân nhà đầu tư trong thị trường chứng khoán.
- Luận văn chỉ ra được những điểm cần thiết phải sớm được sửa đổi, bổ
sung cụ thể trong các văn bản pháp luật hiện hành để tạo niệm tin, đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư luôn được thực hiện trên thực tế.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thị trường chứng khoán, nhà đầu tư
trên thị trường chứng khoán.
Chương 2: Những quy định về địa vị pháp lý của nhà đầu tư trên thị
trường chứng khoán.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.



4

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN,
NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1. Những vấn đề lý luận về thị trường chứng khoán
1.1.1. Một số vấn đề cơ bản về chứng khoán
Trong đời sống kinh tế, thuật ngữ chứng khoán (stock, security) được
tìm hiểu theo những yêu cầu, mục đích khác nhau. Đây là khái niệm phức tạp vì
bản thân nó đã hàm chứa một loạt quan hệ kinh tế phức tạp phát sinh giữa người
cần vốn và người có vốn.
Chứng khoán theo quan điểm truyền thống là phương tiện xác nhận
quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc
vốn của tổ chức phát hành. Hình thức tồn tại của chứng khoán rất đa dạng, phụ
thuộc vào thực tế phát triển nền kinh tế. Chứng khoán có thể có hình thức chứng
chỉ, hình thức bút toán ghi sổ dần phát triển do yêu cầu của nhà phát hành và sở
hữu chứng khoán. Khi công nghệ phát triển, hình thức điện tử cũng được ghi
nhận như một dạng tồn tại của chứng khoán. Một số nhà nghiên cứu kinh tế cho
rằng chứng khoán là mọi sản phẩm tài chính có thể chuyển nhượng được. Với
cách hiểu này, đối tượng được coi là chứng khoán thực sự đa dạng: cổ phiếu,
trái phiếu, các công cụ tại thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu
ngân hàng và các loại thương phiếu. Cách hiểu này cũng có thể dẫn tới khả năng
thống nhất các bộ phận của thị trường tài chính: thị trường tiền tệ, thị trường
ngoại hối, thị trường chứng khoán thành một thị trường chứng khoán duy nhất.
Tuy nhiên, nếu xem xét cấu trúc thị trường tài chính, việc tiếp tục tồn tại những

bộ phận thị trường như hiện tại là hoàn toàn cần thiết. Điều này xuất phát từ yêu
cầu tác động, phương pháp tác động của Nhà nước đến các bộ phận thị trường là
khác nhau. Đối với thị trường tiền tệ, bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng như một
biện pháp hữu hiệu và trực tiếp để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Những
liệu pháp như tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở, các giao dịch liên ngân
hàng không thể áp dụng chung cho mọi đối tượng trên thị trường tài chính nói


5

chung. Mặt khác, nhìn chung các quốc gia trên thế giới đều coi ngân hàng trung
ương (Ngân hàng Nhà nước đối với Việt Nam) là cơ quan quản lý thị trường tiền
tệ. Đồng thời, những giao dịch ngoại hối nhằm ổn định giá trị đồng tiền tại thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng không thể điều chỉnh giống các giao dịch chứng
khoán thông thường.
Chứng khoán xác nhận quyền, lợi ích của người sở hữu, điều đó cũng có
nghĩa là xác định quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét theo phương diện
pháp lý. Cho dù chứng khoán có hình thái biểu hiện cụ thể như thế nào thì đều
có chung đặc trưng là xác nhận quyền chủ nợ hoặc quyền sở hữu đối với chủ thể
phát hành ra nó.
Để nhận diện chứng khoán với các đối tượng khác, thường phải dựa trên
đặc điểm của chúng. Đặc điểm quan trọng đầu tiên của chứng khoán là tổ chức,
đơn vị phát hành ra chúng phải có sự cam kết trả cho người sở hữu chứng khoán
một khoản lợi tức trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Tính
sinh lời của chứng khoán là động lực thúc đẩy người đầu tư mua chứng khoán,
và cũng là tiền đề xuất hiện chứng khoán. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở tính sinh
lời thì cơ hội đầu tư cũng như hiệu quả đầu tư chưa đạt được. Vì vậy, gắn liền với
chứng khoán là khả năng chuyển đổi được thành tiền, người sở hữu chứng khoán
có thể chuyển nhượng, có thể đặt lệnh bán nếu thấy không cần thiết phải nắm giữ
nó. Tính thanh khoản tạo cho người sở hữu chứng khoán chuyển đổi dạng tài sản

từ chứng khoán sang tiền thông qua một giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc
thông qua nghiệp vụ ngân hàng. Tính thanh khoản tạo ra sự hấp dẫn đối với
người đầu tư, thỏa mãn nhu cầu của họ đồng thời cũng hạn chế rủi ro làm giảm
sút giá trị tiền tệ của chứng khoán. Có thể nói rằng, khả năng thanh khoản của
mỗi chứng khoán là khác nhau, điều đó cũng có ý nghĩa trong việc xác định
hiệu suất vốn đầu tư của nền kinh tế đồng thời tạo ra sức cạnh tranh cho các chủ
thể phát hành. Tính thanh khoản của một loại chứng khoán phụ thuộc vào uy tín
của chủ thể phát hành, vào chi phí chuyển đổi và sự biến động của thị trường.


6

Cuối cùng, nói tới chứng khoán, đồng thời cũng phải nói tới tính rủi ro của chứng
khoán, thể hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn. Cũng như bất kỳ hoạt
động đầu tư, kinh doanh nào khác, việc kinh doanh chứng khoán là "đầu tư một
lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai" thì cả quãng thời
gian đó cũng chính là thời gian chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro tiềm tàng đến
đâu còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn
cùng các cam kết khác chính là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới độ rủi ro.
Mức độ rủi ro của chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với tính sinh lời và tính
thanh khoản của chứng khoán.
Chứng khoán rất đa dạng về chủng loại và phong phú về cách thức biểu
hiện. Đây cũng là một trong những lý do mà pháp luật nhiều quốc gia không đưa
ra một định nghĩa cụ thể về chứng khoán. Mặc dù vậy, có thể khái quát một số
loại chứng khoán tiêu biểu, hiện đang được phát hành và giao dịch phổ biến.
Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận sự góp vốn và quyền
liên quan đến phần vốn góp của chủ sở hữu chứng khoán đối với đối tượng phát
hành ra nó. Chứng khoán vốn tồn tại dưới hai dạng cơ bản là cổ phiếu và chứng
chỉ quỹ đầu tư. Ngoài ra, còn có các chứng khoán phái sinh từ loại chứng khoán
vốn như chứng quyền.

Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận số cổ phần mà cổ đông đó nắm
giữ tại một công ty cổ phần và quyền được hưởng một phần lợi nhuận dưới hình
thức cổ tức cũng như quyền tham gia quản lý công ty. Cổ phần là phần lợi ích
sở hữu của cổ đông đối với tổ chức phát hành. Cổ phần trong công ty rất đa
dạng về thể loại và tính chuyển nhượng. Cổ phần phổ thông (common stock)
không qui định trước về cổ tức mà cổ đông có thể được hưởng và gắn liền với
kết quả kinh doanh của công ty nhưng cổ đông nắm giữ lại được hưởng đầy đủ
quyền và lợi ích so với các loại cổ phần khác. Cổ phần ưu đãi (preference stock)
xác nhận một số ưu đãi (về tài chính, về một số quyền ưu tiên khác), đồng thời
cũng chịu những hạn chế nhất định về quản lý công ty. Do nội dung ưu đãi khác


7

nhau nên cũng hình thành nhiều loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau như cổ phiếu ưu
đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết. Trong đời sống kinh tế, tùy mục đích của
nhà phát hành, còn có thể tồn tại nhiều hình thái cổ phiếu khác, với tính chất là
sản phẩm của quá trình phát triển, cải tiến nhằm mang lại khả năng lựa chọn
rộng rãi cho các nhà đầu tư, đồng thời cũng tạo ra cơ hội cạnh tranh cho các nhà
phát hành.
Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ hoặc
các quỹ đầu tư phát hành, xác nhận phần vốn góp và quyền hưởng lợi của người
đầu tư đối với quỹ. Mỗi quốc gia có thể có mô hình quỹ đầu tư hoặc công ty
quản lý quỹ đầu tư khác nhau nên quyền và lợi ích của người sở hữu chứng chỉ
quỹ đầu tư đối với công ty quản lý quỹ có sự khác biệt nhất định nhưng về bản
chất, chứng chỉ quĩ đầu tư đều là chứng khoán vốn. Tùy thuộc vào bản chất
trong mối quan hệ giữa công ty quản lý quỹ với quỹ đầu tư chứng khoán mà giá
trị của chứng chỉ quỹ đầu tư có điểm khác nhau. Trường hợp quỹ đầu tư tồn tại
độc lập, có tư cách pháp nhân thì chứng chỉ quỹ đầu tư về bản chất không khác
so với cổ phiếu. Trường hợp quỹ đầu tư không tồn tại độc lập, không có tư cách

pháp nhân, mặc dù đều là chứng khoán vốn; chứng chỉ quỹ đầu tư khác với cổ
phiếu ở chỗ chứng chỉ quỹ đầu tư mang lại cho người đầu tư lợi nhuận không
trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể phát hành mà từ toàn bộ
hoạt động đầu tư của quỹ.
Một loại chứng khoán rất phổ biến, tạo ra sự ổn định tương đối trong
giao dịch trên thị trường là trái phiếu. Trái phiếu là phương tiện vay nợ, theo đó
chủ thể phát hành ra nó cam kết sẽ trả lại cả gốc và lãi vào một thời gian nhất
định trong tương lai. Với tính chất là một hợp đồng vay, người cấp vốn được
hưởng khoản lãi cố định không phụ thuộc vào kết quả sử dụng vốn của người
nhận vốn; nhưng không có quyền tham gia hoạt động quản lý đối với bên nhận
vốn. Do có sự khác biệt về mệnh giá, về lãi suất, về quyền đối với chủ thể phát
hành mà người đầu tư có thể lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp nhất.


8

Trên thực tế tồn tại rất nhiều loại trái phiếu khác nhau, tùy thuộc vào vị
thế của người phát hành cũng như các cam kết đi kèm của nhà phát hành. Vị thế
của một loại trái phiếu có liên quan trực tiếp đến tính thanh khoản của trái phiếu
và mức độ sôi động của thị trường. Trái phiếu chính phủ có độ an toàn cao, lãi
suất loại trái phiếu này thường là cơ sở để các doanh nghiệp tính toán lãi suất
trái phiếu dự định phát hành. Trái phiếu doanh nghiệp do doanh nghiệp phát
hành nhằm tăng vốn vay để mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, có
những khác biệt nhất định so với trái phiếu của các tổ chức tín dụng. Trong mỗi
loại trái phiếu, tùy mục đích thu hút đầu tư mà nhà phát hành có thể lựa chọn
những loại trái phiếu cụ thể khác nhau. Chẳng hạn, trái phiếu chuyển đổi, trái
phiếu lãi suất thả nổi, trái phiếu thu nhập, trái phiếu trả trước thường có khả
năng thu hút đầu tư nếu xét dưới góc độ cơ hội sinh lời. Trái phiếu chính phủ,
trái phiếu có bảo đảm có khả năng thu hút đầu tư nếu xét theo góc độ an toàn.
Ngoài những chứng khoán cơ bản nêu trên, có những loại chứng khoán

khác như chứng quyền (rights) hoặc bảo chứng phiếu; hợp đồng lựa chọn, hợp
đồng giao sau. Chứng quyền hay bảo chứng phiếu đều nhằm tới quyền mua
chứng khoán của sở hữu chủ chứng khoán hiện hữu của nhà phát hành, mặc dù
nội dung cụ thể có khác nhau. Hợp đồng lựa chọn và hợp đồng giao sau thường
chỉ được giao dịch ở các thị trường phát triển và hình thức thể hiện cụ thể cũng
có nhiều lai tạp [14].
Như vậy, nhu cầu vốn đã làm nảy sinh rất nhiều loại chứng khoán khác
nhau. Các chủ thể có liên quan sẽ lựa chọn cho mình những loại chứng khoán
thích hợp nhất để phát hành trên cơ sở đặc tính những loại chứng khoán đó và
mục đích huy động vốn của mình. Mặt khác, nhà đầu tư dựa trên khả năng thực
tế sẽ quyết định loại chứng khoán phù hợp nhất, đảm bảo tính hiệu quả, tính an
toàn đối với quyết định đầu tư.


9

1.1.2. Khái quát về thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện cùng với sự
phát triển của nền kinh tế thị trường. Cũng như các thị trường khác, thị trường
chứng khoán cũng qua những bước phát triển sơ khai ban đầu, sau đó ngày càng
đa dạng, phức tạp dần theo sự phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội. Trong
nền kinh tế, luôn có sự tồn tại hai thái cực: một cực có vốn cần đầu tư, một cực
cần vốn để thực hiện đầu tư kinh doanh. Khi kênh dẫn vốn trực tiếp giữa hai cực
đó với nhau được hình thành theo nguyên tắc đầu tư, cũng đồng nghĩa với việc
hình thành thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là nơi các giao dịch chứng khoán được tiến
hành bởi những đối tượng khác nhau. Đây là thị trường đặc biệt, lưu hành loại
hàng hóa đặc biệt là chứng khoán. Sự khác biệt cơ bản đó làm cho nguyên tắc,
tổ chức, quản lý thị trường chứng khoán cũng có sự khác biệt so với các thị
trường thông thường.

Thị trường chứng khoán được hình thành, phát triển trong những điều
kiện hoàn cảnh cụ thể. Đó là nền kinh tế thị trường với những qui luật vốn có
của nó. Tại đó, cơ hội kinh doanh, khả năng chuyển đổi mới hình thành và tồn
tại. Đối với nền kinh tế tập trung không thực hiện được những hoạt động này.
Nếu trong thời kỳ đầu, thị trường chứng khoán chỉ xuất hiện ở các nước có nền
kinh tế tự do phát triển như Hà Lan, Anh, Đức, Hoa Kỳ thì hiện nay mô hình
thị trường này đã lan rộng và trở thành hiện tượng phổ biến của các quốc gia có
nền kinh tế thị trường. Mặc dầu vậy, phù hợp với trình độ phát triển nền kinh tế,
thực lực nền kinh tế mà mức độ phức tạp, đa dạng cũng như mức độ sôi động
của thị trường chứng khoán các quốc gia là khác nhau. Sự khác biệt ấy không
chỉ dừng lại giữa các quốc gia, ngay ở những khu vực phát triển kinh tế khác
nhau trong một quốc gia, mức độ lưu hoạt vốn của các bộ phận thị trường (mang
tính địa phương) cũng khác nhau rõ rệt. Điều đó có thể thấy rất rõ qua hoạt động
của các loại thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức, Úc,


10

Nhật Bản Cùng với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế, hoạt động của thị
trường chứng khoán các quốc gia ngày càng trở nên gần nhau hơn, thông qua các
liên kết giao dịch, nhu cầu kinh doanh, đầu tư của tất cả các đối tượng.
Hình thái tồn tại, hoạt động cụ thể của thị trường chứng khoán rất đa
dạng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đối tượng tham gia, đặc tính của hàng hóa
giao dịch tại thị trường và do vậy có nhiều cách phân loại khác nhau.
Nếu xét theo tiêu chí lưu thông chứng khoán, có thể phân ra thị trường
sơ cấp và thị trường thứ cấp. Tại thị trường sơ cấp, các chứng khoán lần đầu
tiên được bán cho các nhà đầu tư nên còn được gọi là thị trường phát hành. Điều
đó cũng có nghĩa, thông qua thị trường sơ cấp, những nguồn đầu tư mới thực sự
được chuyển cho nhà phát hành. Thị trường thứ cấp diễn ra các giao dịch chứng
khoán chưa được thanh toán. Bộ phận thị trường này không làm tăng nguồn vốn

mới cho nền kinh tế nhưng có thể hoạt động liên tục, tạo ra khả năng thanh khoản
cho chứng khoán đã phát hành và tăng tối đa hiệu suất sử dụng vốn của nhà phát
hành. "Thị trường thứ cấp phục vụ cho hai mục đích chính: thúc đẩy sự tạo vốn
cho các doanh nghiệp, chính phủ và tạo ra các công cụ đầu tư có khả năng sinh
lời cho các nhà đầu tư". Thông qua thị trường thứ cấp, các bên tham gia đều
mong muốn đạt tới hiệu ích kinh tế của mình. Hai bộ phận thị trường sơ cấp
cũng như thứ cấp có mối quan hệ nội tại, mật thiết: thị trường sơ cấp là cơ sở,
tiền đề; thị trường thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trường sơ cấp thì không
có chứng khoán để vận hành thị trường thứ cấp; ngược lại, nếu không có thị
trường thứ cấp sẽ khó khăn trong việc phát hành vì chứng khoán hầu như không
có khả năng thanh khoản khi chưa đến hạn thanh toán.
Nếu xét theo phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán
bao gồm thị trường tập trung và không tập trung.
Thị trường chứng khoán tập trung diễn ra các hoạt động mua hoặc bán
chứng khoán, hoặc tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán, được tồn
tại dưới hình thức phổ biến là Sở giao dịch chứng khoán hoặc các sàn giao dịch


11

chứng khoán. Thị trường không tập trung diễn ra hoạt động giao dịch chứng
khoán không có đủ điều kiện giao dịch tại thị trường tập trung, có thể tiến hành
thông qua những hình thức đa dạng khác nhau như hệ thống giao dịch nối mạng
hoặc là giao dịch chứng khoán riêng lẻ. Khi xem xét mô hình hoạt động của các
bộ phận thị trường theo phương diện này, điều dễ nhận thấy là, các bộ phận thị
trường khác nhau thể hiện mức độ phát triển của thị trường chứng khoán. Thị
trường chứng khoán tập trung có giá trị như "bộ mặt" thị trường chứng khoán
quốc gia, các bộ phận thị trường khác thể hiện sự đa dạng của các giao dịch có
thể lựa chọn. Hàng hóa của thị trường tập trung cũng là những hàng hóa có thể
đánh giá có chất lượng hơn so với hàng hóa của thị trường khác, do tính có tổ

chức của nó; điều đó cũng có nghĩa sự an toàn hay rủi ro, cơ hội kiếm lời là
khác nhau trong các giao dịch trên thị trường.
Để hoạt động bình thường, thị trường chứng khoán phải tuân thủ những
qui định rất nghiêm ngặt, chặt chẽ. Các giao dịch chứng khoán về hình thức bên
ngoài có vẻ "hỗn loạn", nhưng thực chất lại là những giao dịch trật tự với những
nguyên tắc nhất định.
Từ cơ cấu thị trường chứng khoán có thể cho thấy nguyên tắc công
bằng, công khai, trung gian được thể hiện trong các giao dịch, nhưng ở các bộ
phận thị trường khác nhau thì yêu cầu của những nguyên tắc này là khác nhau.
Nguyên tắc công bằng yêu cầu các giao dịch phải đảm bảo quyền lợi của
tất cả các bên dưới các hình thức khác nhau ở các bộ phận thị trường. Chẳng hạn,
trong giai đoạn phát hành chứng khoán, nếu đó là chứng khoán phát hành ra
công chúng thì yêu cầu phải dành tỷ lệ chứng khoán tối thiểu cho các nhà đầu tư
phổ thông. Tại thị trường tập trung, phương thức đấu giá là hình thức thực hiện
nguyên tắc công bằng. Theo đó, có thể thực hiện đấu giá liên tục hoặc đấu giá
theo định kỳ nhưng đều đi đến một kết quả duy nhất là người bán sẽ bán được
với giá cao nhất và người mua sẽ mua được với giá thấp nhất, không phân biệt các
chủ thể đó là ai. Như vậy, nguyên tắc đấu giá tạo ra sự bình đẳng giữa các chủ thể


12

cùng có nhu cầu như nhau. Nguyên tắc công bằng đối với thị trường riêng lẻ
phản ánh trong cơ cấu hoạt động và phân phối các lợi ích giữa các nhà đầu tư
riêng lẻ.
Nguyên tắc công khai đòi hỏi trước hết các thông tin liên quan đến
chứng khoán phải được cung cấp cho tất cả các đối tượng quan tâm. Phương
thức cung cấp thông tin và nội dung thông tin phải đảm bảo đáp ứng được yêu
cầu tìm hiểu về cung cầu thị trường đối với từng loại chứng khoán, giá trị thực
của các loại chứng khoán để có thể đưa ra được những quyết định đầu tư có

hiệu quả. Đòi hỏi của nguyên tắc công khai đối với từng bộ phận thị trường
cũng khác nhau. Chẳng hạn, đối với thị trường tập trung, nguyên tắc công khai
được chính quyền các quốc gia qui định rất chặt chẽ về phương thức, nội dung;
nhưng đối với thị trường riêng lẻ, hình thức và nội dung chủ yếu do chính chủ
thể phát hành chứng khoán xác định trước trên cơ sở không trái luật.
Nguyên tắc trung gian chỉ coi là bắt buộc đối với phát hành ra công
chúng và giao dịch tại thị trường tập trung, đòi hỏi các giao dịch mua bán phải
qua chủ thể trung gian. Nguyên tắc này "đảm bảo người đầu tư có những thông tin
chính xác để lợi ích của mình không bị tổn thương bởi những hành vi lừa đảo".
Thị trường chứng khoán ra đời do nhu cầu của chính đời sống kinh tế,
xuất hiện và tồn tại khách quan. Tham gia vào thị trường có rất nhiều loại chủ
thể khác nhau; mỗi chủ thể tham gia với những mục đích khác nhau: quản lý,
đầu tư, phát hành, giao dịch.
Thị trường chứng khoán là thị trường rất nhạy cảm, năng động, có khả
năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng và tức thì đối với các thị trường khác cũng
như đối với nền kinh tế. Điều đó lý giải vì sao cần phải có những biện pháp tác
động hữu hiệu cũng như có sự can thiệp của Nhà nước. Sự can thiệp và tác động
này không phải bằng những biện pháp hành chính thuần túy mà thông qua hệ
thống pháp luật, thông qua hoạt động giám sát của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Các kết quả nghiên cứu kinh tế, pháp lý liên quan đến thị trường


13

chứng khoán đều thống nhất cho rằng, thị trường chứng khoán là sản phẩm bậc
cao của nền kinh tế thị trường, phải vận hành theo các qui luật của kinh tế thị
trường mà không thể áp dụng các biện pháp hành chính cứng nhắc. Vì vậy, cơ
quan quản lý thị trường cũng phải có những cách thức và biện pháp phù hợp.
Do thị trường chứng khoán gồm nhiều bộ phận hợp thành nên yêu cầu và mức
độ quản lý các bộ phận đó cũng là khác nhau.

Trong thị trường chứng khoán, dù ở giai đoạn phát triển nào và ở bộ
phận nào của thị trường thì cũng tồn tại hai loại chủ thể chủ yếu là nhà phát
hành và nhà đầu tư chứng khoán. Nhà phát hành là tất cả chủ thể huy động vốn
bằng cách bán chứng khoán cho người đầu tư. Tùy theo điều kiện cụ thể, pháp
luật mỗi nước qui định rõ những đối tượng nào là "nhà phát hành". Ở thị trường,
thường là các doanh nghiệp (bao hàm cả các tổ chức tín dụng) và Chính phủ
(bao gồm cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương). Đối tượng
thứ hai là nhà đầu tư chứng khoán - những chủ thể có nhu cầu đầu tư bằng cách
mua các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Loại chủ thể đầu tư này
rất đa dạng và đông đảo, mục đích của các nhà đầu tư cũng không giống nhau.
Thường thì người ta chia nhà đầu tư thành hai nhóm cơ bản: nhà đầu tư có tổ
chức và nhà đầu tư cá thể. Nhà đầu tư có tổ chức có thể chỉ chiếm số lượng nhỏ so
với nhà đầu tư cá thể nhưng đối tượng này lại có tiềm năng lớn, khả năng phân tích
đánh giá chứng khoán tốt. Nhà đầu tư cá thể chiếm tỷ trọng đông đảo về số lượng
nhưng lại là đối tượng thường được quan tâm của nhà quản lý với mục đích bảo
vệ quyền lợi cho họ.
Để tạo ra tính thanh khoản của chứng khoán, hiệu suất sử dụng vốn của
nền kinh tế, các giao dịch thứ cấp được rất nhiều nhà kinh doanh quan tâm và
coi đây là nghiệp vụ kinh doanh chính của mình. Hành vi kinh doanh chứng
khoán cũng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận như hành vi kinh doanh khác,
nhưng do đặc điểm của chứng khoán rất phức tạp và rủi ro dây chuyền nên chủ
thể thực hiện kinh doanh chứng khoán thường phải đạt những tiêu chuẩn nhất


14

định, cho dù mỗi quốc gia có thể cho phép tổ chức và cá nhân cùng kinh doanh
hoặc chỉ cho phép tổ chức kinh doanh. Chủ thể kinh doanh chứng khoán thường
tồn tại dưới hình thức công ty chứng khoán hoặc những hình thức cá biệt khác.
Ngoài những chủ thể chủ yếu trên còn có thể có một số đối tượng khác

như các ngân hàng thương mại (tham gia với tư cách là trung gian thanh toán),
các đại lý phát hành chứng khoán
Như đã đề cập, tham gia thị trường chứng khoán một quốc gia chỉ thực
sự coi đã có thị trường chứng khoán khi đã hiện diện thực tế mô hình thị trường
tập trung mặc dù có qui mô khác nhau: Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung
tâm giao dịch chứng khoán. Pháp luật các nước đều qui định tổ chức thị trường
tập trung này có tư cách pháp nhân, mặc dù có thể thuộc về những hình thức sở
hữu khác nhau. Đây là tổ chức có cơ cấu chặt chẽ, tồn tại nhằm cung cấp dịch
vụ cho các giao dịch chứng khoán như niêm yết, công bố thông tin và nhiều
dịch vụ khác với mục đích phi lợi nhuận hoặc tìm kiếm lợi nhuận.
Tóm lại, thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động mua bán chứng
khoán giữa các chủ thể có liên quan, có cấu trúc phức tạp và vận hành theo
những nguyên tắc nhất định. Trong các bộ phận, thị trường chứng khoán tập
trung có giá trị mang tính đại diện và các quốc gia có thị trường đều phải kiểm
soát chặt chẽ bộ phận thị trường này.
1.1.3. Vai trò của thị trường chứng khoán
Chứng khoán và thị trường chứng khoán tồn tại như một tất yếu của nền
kinh tế thị trường và giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế đó.
Thứ nhất, xuất phát từ nguồn gốc ra đời của chứng khoán và thị trường
chứng khoán, có thể khẳng định, thị trường chứng khoán là công cụ quan trọng
trong việc huy động vốn trung và dài hạn. Với chi phí thấp, khả năng chủ động
trong việc lựa chọn đối tượng, lượng vốn cần thiết cũng như hình thức huy động
vốn, thị trường chứng khoán có vai trò rất lớn trong việc trợ giúp cho các doanh
nghiệp thu hút, huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh một cách dễ


15

dàng. Thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán các quốc gia đã chỉ ra
rằng, thị trường chứng khoán tạo ra sự cạnh tranh với các bộ phận thị trường

truyền thống mà đại diện là thị trường tín dụng. Nếu như trước đây các tổ chức
tín dụng là chỗ dựa tiềm tàng về vốn cho các doanh nghiệp, từ nguồn vốn nhỏ
nhất trong thời gian ngắn nhất đến nguồn vốn lớn nhất trong thời gian dài nhất
theo nhu cầu thì thị trường chứng khoán đã mở ra cơ hội huy động vốn mới cho
các doanh nghiệp. Nội dung, hình thức huy động vốn của doanh nghiệp thông
qua thị trường chứng khoán rất đa dạng, không đơn thuần là nguồn vốn vay; bản
thân các nguồn vốn kèm theo cam kết của doanh nghiệp phát hành cũng thể
hiện nhu cầu và tính cạnh tranh to lớn.
Thứ hai, thị trường chứng khoán còn là công cụ thực hiện chính sách tài
chính tiền tệ quốc gia và các chính sách vĩ mô khác. Thị trường chứng khoán
phản ánh các giá cả chứng khoán của các doanh nghiệp và các ngành kinh tế.
Mức độ dao động giá chứng khoán cho thấy dấu hiệu và kết quả đầu tư của nền
kinh tế, không loại trừ cả những dấu hiệu tiêu cực. Việc thực hiện tốt chính sách
tài chính quốc gia tạo căn cứ chắc chắn cho việc ổn định giá trị đồng tiền, là nội
dung cơ bản và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ quốc gia. Chính vì thế, có
thể nói rằng, thị trường chứng khoán tạo môi trường thuận lợi cho Chính phủ
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Đối với các quốc gia chuyển đổi, thị
trường chứng khoán còn là nhân tố thúc đẩy tiến trình đa hình thức sở hữu nền
kinh tế. Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc trong
giai đoạn 1983 đến nay đã chỉ ra rằng, thị trường chứng khoán giúp Chính phủ
thực hiện tốt công cuộc cải tổ nền kinh tế.
Thứ ba, thị trường chứng khoán đóng vai trò tạo khả năng thanh khoản
cho các chứng khoán. Nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán của họ thành
tiền mặt hoặc các loại chứng khoán mà họ mong muốn khác tại thị trường.
Chính tính thanh khoản của chứng khoán giúp cho thị trường sôi động đồng thời
cũng là một trong những yếu tố quyết định mức hấp dẫn của chứng khoán đối


16


với người đầu tư. Vì vậy, bản thân tính thanh khoản và hoạt động của thị trường
có mối quan hệ nội tại và đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động an
toàn, hiệu quả.
Bất kỳ quốc gia nào có thị trường chứng khoán đều phải tính toán sự ảnh
hưởng của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế trong nước. Có thể nói, thị
trường chứng khoán thu hút đầu tư nước ngoài với độ nhậy lớn. Đối với những
hình thức đầu tư tài chính thông qua thị trường có vai trò quan trọng đối với các
quốc gia đang phát triển. Vì vậy, nếu thị trường có tính ổn định, môi trường đầu
tư thuận lợi, cơ hội nhận vốn đầu tư nước ngoài sẽ lớn. Điều này lại được phản
ánh trong tính thanh khoản của chứng khoán và những giới hạn đầu tư chứng
khoán đối với nhà đầu tư nước ngoài (kể cả nhà đầu tư có tổ chức và đầu tư cá
thể). Đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp cũng tạo ra môi trường cạnh tranh
lành mạnh giữa doanh nghiệp chứng khoán trong nước và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Kinh nghiệm của nhà kinh doanh chứng khoán nước ngoài là
những bài học không thể định giá cho các nhà kinh doanh chứng khoán non trẻ của
quốc gia mới có thị trường. Tuy nhiên, đi đôi với việc xem xét những mặt tích
cực của thu hút đầu tư nước ngoài, bản thân nó cũng có thể ảnh hưởng xấu tới
nền kinh tế trong nước nếu có sự lệ thuộc quá lớn vào nguồn vốn nước ngoài.
Vì vậy, đối với những thị trường mới mở, Chính phủ thường có những hạn chế
đối với nhà đầu tư nước ngoài (kể cả đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp).
Thứ tư, thị trường chứng khoán Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với
quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Quá trình cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước đã tạo điều kiện hết sức quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển
của thị trường sơ cấp cũng như hình thành thị trường thứ cấp ở Việt Nam. Việc
phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp được cổ phần hóa làm sôi động hơn thị
trường phát hành, chuyển hóa phần vốn tiết kiệm trong dân chúng thành vốn kinh
doanh. Việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường tập trung làm tăng thêm, sôi động
thêm lượng hàng hóa tại thị trường thứ cấp. Thực tế cho thấy, các cổ phiếu niêm



17

yết tại thị trường tập trung hiện nay đều là cổ phiếu của các công ty cổ phần hình
thành từ con đường cổ phần hóa. Ngược lại, thị trường chứng khoán cũng có ảnh
hưởng không nhỏ đến quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, từ giai đoạn
cổ phần hóa đến giai đoạn niêm yết chứng khoán và khi có nhu cầu phát hành
chứng khoán để tăng vốn doanh nghiệp.
Cuối cùng, là cần có sự phân tích các yếu tố tác động qua lại của thị
trường chứng khoán trong thị trường tài chính. Hệ thống pháp luật phản ánh
chính sách tiền tệ quốc gia, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tiền của toàn xã
hội. Chính sách lãi suất của Chính phủ làm thay đổi cơ cấu tiền trong lưu thông,
làm ảnh hưởng trực tiếp đến luồng tiền và mức độ giao dịch của các nhà đầu tư
trên thị trường chứng khoán. Lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương (Ngân
hàng Nhà nước đối với Việt Nam) có ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất thị trường
tín dụng (bao gồm cả lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất tái chiết khấu),
đồng thời kích ứng mức độ sôi động thị trường chứng khoán (thông qua biến
động các chỉ số giá chứng khoán). Những biến động về lãi suất như vậy sẽ ảnh
hưởng lớn tới nguồn cung vốn cho các nhà kinh doanh trong mở rộng đầu tư và
hình thành vốn, làm cho nguồn vốn được đưa vào đầu tư có chi phí thấp nhất,
các bộ phận thị trường tài chính có mức độ tự cạnh tranh cao nhất. Ngoài ra, thị
trường ngoại hối cũng như cán cân thương mại cũng ảnh hưởng trực tiếp đến
các giao dịch trên thị trường chứng khoán. Đối với đồng nội tệ có sức mua ổn
định, chỉ số giá chứng khoán có mức độ cân bằng tương đối so với thị trường nước
ngoài sẽ không xảy ra tình trạng luồng tiền được chuyển ra đầu tư nước ngoài
bằng con đường chứng khoán hay các con đường khác. Sức mua đối ngoại của
đồng tiền ổn định cũng tạo cho nhà đầu tư chứng khoán an tâm, không có sự
chuyển dịch đầu tư từ bộ phận thị trường này sang bộ phận thị trường khác, xa
lánh thị trường chứng khoán (chẳng hạn từ thị trường chứng khoán chuyển sang
thị trường ngoại hối, thị trường bất động sản ). Những yếu tố kinh tế như tốc
độ tăng trưởng, chính sách đầu tư của Nhà nước, thay đổi cơ cấu tổ chức hoặc



18

người đứng đầu bộ máy nhà nước, tác động của các tổ chức tiền tệ quốc tế đều
có thể làm biến động thị trường chứng khoán. Với phân tích trên muốn chỉ ra
rằng, thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội;
việc ổn định và phát triển các yếu tố đó chính là cơ sở quan trọng để thị trường
chứng khoán ổn định và phát triển.
Vai trò của thị trường chứng khoán:
“…Hiện nay chúng ta không thể phủ nhận vai trò của thị trường chứng
khoán đối với sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia. TTCK phản ánh rõ nét
nhất các qui luật của nền kinh tế thị trường. TTCK được ví như chiếc nhiệt kế để
đo “nhiệt độ” của nền kinh tế. Sự tăng trưởng của nền kinh tế được đánh giá qua
chỉ số giá chứng khoán của TTCK. Lịch sử phát triển nền kinh tế thị trường ở
các quốc gia phát triển đã khẳng định TTCK ngày càng có vai trò quan trọng
trong quá trình vận hành nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong hệ thống
kinh tế toàn cầu. Đối với Việt Nam, để hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài
chính, tạo các tiền đề kinh tế quan trọng, đưa đất nước ta đến năm 2020 cơ bản
là một nước công nghiệp như Đại hội Đảng VIII đã đề ra thì việc xây dựng, phát
triển và hoàn thiện thị trường tài chính (trong đó có TTCK) là hết sức cần thiết.
- TTCK là kênh huy động vốn trung và dài hạn hữu hiệu cho các doanh
nghiệp: Doanh nghiệp là đầu tàu của nền kinh tế, quyết định tới sự thịnh vượng
của một quốc gia. Doanh nghiệp có tồn tại, phát triển, kinh doanh có hiệu quả
thì mới có tiền để nộp thuế vào ngân sách nhà nước, đáp ứng các nhu cầu chi
tiêu ngày càng gia tăng của nhà nước. Nhưng để tồn tại, doanh nghiệp cần vốn.
Không thể triển khai các dự án tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nếu
không tập hợp được những nguồn vốn khổng lồ mà người tập hợp có toàn quyền
sử dụng cho những mục tiêu trung và dài hạn. TTCK có vai trò đó, cái mà ngành
ngân hàng với phương thức kinh doanh ăn chắc không thể làm được (Xem:

TTCK và công ty cổ phần, Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, Hà Nội,
1989, tr. 98). TTCK là nơi thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư
sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tạo thành nguồn vốn khổng
lồ tài trợ cho nền kinh tế mà các định chế tài chính khác không làm được. Thông
qua các công cụ cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng khoán khác, TTCK cho
phép các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, kể cả Chính phủ, chính quyền địa
phương huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, đưa vào đầu tư phát
triển. ở Việt Nam, trong một thời gian khá dài, kể từ khi có Luật Đầu tư nước
ngoài (năm 1986), chúng ta chủ yếu chú trọng tới việc thu hút nguồn vốn nước
ngoài mà gần như lãng quên nguồn vốn trong nước. Điều này cũng hoàn toàn dễ
hiểu, bởi dưới góc độ nào đó, việc huy động vốn trong nước còn khó hơn huy
động vốn từ nước ngoài vì chúng ta còn thiếu một hệ thống cơ sở hạ tầng về tài
chính để tập trung chuyển tải các đồng vốn nằm phân tán, rải rác trong công
chúng đến những doanh nghiệp cần vốn. Để khắc phục nhược điểm này thì việc
xây dựng và phát triển TTCK là một trong các tiền đề tạo cơ sở hạ tầng đó.
TTCK ra đời, một mặt tạo cơ hội cho các doanh nghiệp lựa chọn hình thức huy
động vốn, không chỉ phụ thuộc vào kênh ngân hàng với những thủ tục, trình tự
cho vay rườm rà, với những điều kiện quá ngặt nghèo như yêu cầu bắt buộc phải


19

có tài sản bảo đảm. Mặt khác, TTCK giúp cho Chính phủ và các doanh nghiệp
huy động được nguồn vốn dài hạn tối đa phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế
và sản xuất. TTCK cùng với hệ thống ngân hàng sẽ tạo nên hệ thống tài chính đủ
mạnh, cung cấp các nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, phục vụ công
cuộc xây dựng, đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Thông qua TTCK
nguồn vốn “vô tận” từ nước ngoài cũng được huy động một cách tối đa, xuất
phát từ đặc điểm của thị trường này là vốn tài chính tạo thành những dòng chảy
tự do, dòng vốn này sẽ tự động chảy vào những “vũng trũng” – những thị trường

tiềm năng.
- TTCK khuyến khích người dân tiết kiệm để đầu tư vào sản xuất kinh doanh:
Với việc mua bán chứng khoán dễ dàng trên TTCK (theo nguyên tắc ai có tiền
đều có thể mua), nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư được sử dụng một
cách linh hoạt, tạo ra lợi nhuận, tránh tình trạng “vốn chết”. TTCK được coi là
chiếc cầu nối vô hình giữa người có vốn và người thiếu vốn, là kênh điều hoà các
nguồn vốn từ nới thừa vốn đến nơi thiếu vốn, giải quyết linh hoạt nhu cầu về vốn
giữa các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế.
- TTCK tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn, đảm
bảo cho các doanh nghiệp hoạt động theo đúng trật tự của luật pháp: TTCK kích
thích các doanh nghiệp làm ăn “đàng hoàng” hơn, hiệu quả hơn. Tâm lý của
nhà đầu tư là chỉ muốn mua chứng khoán của các doanh nghiệp làm ăn có lãi.
TTCK buộc các doanh nghiệp phải công khai thông tin thường xuyên, tức thời
theo yêu cầu của Uỷ ban chứng khoán nhà nước. Có thể nói, TTCK là thị trường
thông tin. Thông qua các thông tin này, nhà đầu tư có thể đánh giá khả năng tài
chính, hoạt động kinh doanh và triển vọng của doanh nghiệp để lựa chọn đầu tư.
Vì vậy, muốn tồn tại được không có cách nào khác là doanh nghiệp phải làm sao
sử dụng đồng vốn cho có hiệu quả nhất. Thêm vào đó, TTCK cũng là công cụ
đánh giá doanh nghiệp. Thông qua diễn biến giá cổ phiếu, trái phiếu của doanh
nghiệp trên thị trường, nhà đầu tư biết được khả năng kinh doanh của doanh
nghiệp. Giá chứng khoán tăng biểu hiện doanh nghiệp phát hành chứng khoán
đó làm ăn hiệu quả, ngược lại, giá chứng khoán giảm chứng tỏ việc kinh doanh
của doanh nghiệp không tốt, nếu doanh nghiệp không thay đổi chiến lược kinh
doanh thì có thể dẫn tới hậu quả phá sản. Hay nói cách khác, nhà đầu tư có thể
kiểm soát công ty một cách dễ dàng qua các cơ quan quản lý công ty và nhận
biết được khả năng hoạt động của công ty thông qua TTCK…” [37]

1.2. Nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
1.2.1. Quan niệm về địa vị pháp lý của nhà đầu tư
Địa vị pháp lý nói chung là khái niệm dùng để xác định một chủ thể, cá

nhân có các quyền được pháp luật thừa nhận và bên cạnh các quyền đó phải
thực hiện các nghĩa vụ nhất định. Đây là một chỉnh thể thống nhất tạo ra địa vị
pháp lý của một cá nhân hoặc một tổ chức. Hay nói cách khác địa vị pháp lý
chính là do yếu tố quyền và nghĩa vụ xác lập nên.


20

Địa vị pháp lý của nhà đầu tư chứng khoán được hiểu là nhà đầu tư được
pháp luật thừa nhận thông qua các quyền và nghĩa vụ khi tham gia thị trường
chứng khoán. Điều này cũng có nghĩa được hiểu nói đến địa vị pháp lý của nhà
đầu tư là nói đến nhà đầu tư có những quyền gì được pháp luật thừa nhận, bảo
vệ và đi đôi với những quyền đó là thực hiện nghĩa vụ của nhà đầu tư. Quyền và
nghĩa vụ là mối quan hệ song hành, khi tham gia thị trường ngoài những quyền
lợi của mình thì nhà đầu tư cũng phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định.
Khi nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán, họ sẽ phải biết hoặc
bắt buộc phải biết pháp luật cho họ những quyền gì và đi đôi với các quyền ấy
họ phải thực hiện nghĩa vụ gì? Vấn đề xác định địa vị pháp lý của nhà đầu tư
trên thị trường chứng khoán thực chất là xác định quyền và nghĩa vụ của nhà
đầu tư. Mặc dù trong Luật chứng khoán năm 2006 gần như không đề cập đến
khái niệm địa vị pháp lý của nhà đầu tư hoặc gần như không đề cập đến quyền
lợi, nghĩa vụ của nhà đầu tư nhưng trên cơ sở các quy định của Luật doanh
nghiệp năm 2005, Quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán, Quy
chế giao dịch chứng khoán, Quy chế đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng
khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành do Uỷ ban chứng khoán ban
hành….thì địa vị pháp lý của nhà đầu tư bao gồm các quyền, lợi ích và nghĩa vụ
sau:
1.2.2. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
1.2.2.1. Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị

trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán-hàng
hoá của thị trường chứng khoán gồm có:
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
chính phủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.


21

- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như trái
phiếu, chứng chỉ nhằm phục vụ cho hoạt động của bản thân các tổ chức đó.
1.2.2.2. Nhà đầu tư tổ chức
Nhà đầu tư tổ chức là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng
khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các chế định này có thể tồn tại dưới các
hình thức như: Công ty đầu tư, công ty tài chính, các công ty chứng khoán….
Nhà đầu tư tổ chức có đặc điểm: Là tổ chức có tính chuyên nghiệp cao
vì nhà đầu tư là tổ chức có các bộ phận chức năng bao gồm những chuyên gia
có kiến thức, kinh nghiệm và có khả năng, phân tích đánh giá sự lên xuống,
mức độ ổn định hoặc có thể dự báo được sự phát triển của thị trường chứng
khoán có thể tăng trưởng trong từng thời kỳ ngắn hạn, dài hạn hay tăng trưởng
trong trung hạn, có khả năng đánh giá được mức độ rủi ro hoặc lợi nhuận có thể
mang lại khi đầu tư vào thị trường chứng khoán.
Theo quyết định số 15/2008/QĐ-BTC ngày 27/3/2008 của Bộ tài chính
đã quy định thì cá nhân chỉ được hành nghề chứng khoán tại Công ty chứng
khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán khi họ được Uỷ ban
chứng khoán Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề. Để được cấp chứng chỉ hành
nghề thì cá nhân đó phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí, tiêu chuẩn chung như có
trình độ đại học trở lên, đạt yêu cầu trong kỳ thi sát hạch cấp chứng chỉ… Vì
vậy, nhà đầu tư tổ chức có thế mạnh trong việc đánh giá giá trị, khả năng kinh
doanh hoặc lỗ, lãi của từng công ty niêm yết trên thị trường để quyết định đầu

tư nhằm mang lại hiệu quả cao.
- Về tài chính, nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực tài chính lớn và có thể huy
động vốn từ nhiều cổ đông với mục đích kinh doanh chứng khoán trong một
khoảng thời gian dài để thu về lợi nhuận. Nhà đầu tư tổ chức đầu tư theo danh
mục đầu tư và xác định mức lợi nhuận kỳ vọng khi mức lãi từ danh mục đầu tư
đó đạt được, thường nhà đầu tư tổ chức có thể bán ngay hoặc có thể để lại trong
danh mục đầu tư của mình đối với những cổ phiếu tăng trưởng trong dài hạn.


22

Mặt khác, nhà đầu tư tổ chức thông thường luôn dành một khoản vốn để dự
phòng rủi ro khi thị trường đi xuống, bắt đáy thị trường để bình quân giá trị của
những cổ phiếu đã mua trước đó. Nhà đầu tư tổ chức thường biết trước và đón
lõng khi có những nhận định, phân tích để sẵn sàng cắt lỗ bằng cách mua từ từ
và sử dụng lợi nhuận thu được để tiếp tục tái đầu tư.
- Về chiến lược đầu tư, nhà đầu tư tổ chức thường có chiến lược đầu tư
lâu dài với mong muốn đạt được lợi nhuận, kỳ vọng đặt ra.
Chính vì những lẽ trên, nhà đầu tư là tổ chức luôn được đánh giá là nhà
đầu tư chuyên nghiệp và có khả năng đạt được kỳ vọng cao vào những danh
mục đã đầu tư. Trong điều kiện thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn non trẻ
và còn nhiều ràng buộc bởi chế định pháp lý nên nhìn chung so với các nước có
thị trường chứng khoán phát triển thì nhà đầu tư là tổ chức ở Việt Nam chỉ
chiếm một tỷ lệ nhỏ so với các nhà đầu tư là cá nhân.
1.2.2.3. Nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân là chủ thể tham gia thị trường chứng khoán có vị trí
đặc biệt quan trọng. Theo thống kê của Uỷ ban chứng khoán nhà nước, tính đến
hết quý II năm 2009, thị trường chứng khoán Việt Nam có trên 500.000 tài
khoản cá nhân, chiếm khoảng 4% dân số trong cả nước. Nhà đầu tư cá nhân là
những người có vốn tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục

đích kiếm lời. Khoản vốn này có thể là vốn tự có hoặc vốn vay. So với nhà đầu
tư tổ chức, thì nhà đầu tư cá nhân có những đặc điểm sau:
- Nguồn vốn không nhiều, khi đầu tư thường dùng tất cả số tiền mình có
để mua cổ phiếu và hầu như rất ít nhà đầu tư cá nhân có dự phòng rủi ro trong
đầu tư kinh doanh chứng khoán.
- Về chiến lược đầu tư, đa số các nhà đầu tư cá nhân không xác định đầu
tư lâu dài, thường có tư duy kiếm lời nhanh nhất có thể. Tức là hầu như nhà đầu
tư cá nhân hiện nay đều là nhà đầu tư ngắn hạn và sẵn sàng lên thì bán, xuống


23

thì mua vào và do không có chiến lược dự phòng rủi ro nên khi thị trường càng
xuống thì càng đối mặt với nguy cơ rủi ro cao.
- Nhiều nhà đầu tư cá nhân có khả năng đánh giá giá trị cổ phiếu còn
yếu, đầu tư theo tin đồn mà gần như ít quan tâm đến khả năng kinh doanh của
doanh nghiệp, ít quan tâm đến báo cáo tài chính bởi vì họ có quan điểm, báo cáo
tài chính gần như không trung thực và thiếu khách quan, không đáng tin cậy.
- Nhà đầu tư cá nhân có tâm lý đầu tư theo kiểu bầy đàn, do vậy dễ bị
luôi cuốn, chạy theo số đông, nhất là sự dẫn dắt của khối nhà đầu tư nước ngoài.
“ Từ những hiểu biết chưa thật đầy đủ về cơ chế hoạt động của TTCK nên đã xuất
hiện một số nhà đầu tư “chơi chứng khoán” như đánh bạc. Vì thế họ sẵn sàng dốc hầu
bao của mình ra để thử vận may. Trên thực tế, đã có người gặp “may” thật nên trong
chốc lát họ đã thu về tiền tỷ. “May” ở đây cũng có thể hiểu được là họ đã sử dụng tối
đa các quan hệ có được để kiếm lời một cách nhanh chóng. Tháng 12 năm 2005, khi
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có bố cáo về việc ai mua trái phiếu của họ thì các
trái phiếu đó sẽ trở thành cổ phiếu. Nhờ một lời tiếp thị như vậy mà 525 tỷ VND đã
được bán sạch trong vòng từ 3 đến 5 phút. Lúc bấy giờ, đã có người “trúng to”. Người
này chỉ mua 100 triệu và lập tức có người khác mua ngay với giá 150 triệu. Tất nhiên,
với ai có vốn bỏ ra hàng tỷ thì lợi nhuận họ thu được là phải tiền tỷ trở lên. Đây cũng

là hiện tượng làm cho cổ phiếu của một số ngân hàng thương mại rất có giá trong thời
gian vừa qua bởi lẽ, người ta cho rằng, đầu tư vào ngân hàng là chắc ăn nhất, đặc biệt
là các ngân hàng thương mại nhà nước. Sự sai, đúng về cách nhận thức này như thế
nào cũng nên để cho các nhà đầu tư chứng khoán tự tìm hiểu và tự bình luận. Có một
thực tế mà không phải nhà đầu tư chứng khoán nào cũng được biết đến một cách
tường tận là, theo lộ trình mở cửa của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong cam kết gia
nhập WTO thì trong vòng 5 năm kể từ khi gia nhập, Việt Nam có thể hạn chế quyền
của một chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam từ
các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo tỷ lệ trên mức
vốn được cấp của chi nhánh phù hợp với lộ trình sau: (1) Ngày 1 tháng 1 năm 2007:
650% vốn pháp định được cấp; (2) Ngày 1 tháng 1 năm 2008: 800% vốn pháp định
được cấp; (3) Ngày 1 tháng 1 năm 2009 : 900% vốn pháp định được cấp; (4) Ngày 1
tháng 1 năm 2010 : 1000% vốn pháp định được cấp; (5) Ngày 1 tháng 1 năm 2011:
Đối xử quốc gia đầy đủ…”[28]


Diễn biến thị trường chứng khoán thời gian qua cho thấy nhà đầu tư cá
nhân Việt Nam còn “yếu bóng vía”, thiếu tính chuyên nghiệp và là người hứng
nhiều thiệt hại nhất so với nhà đầu tư là tổ chức. Phương thức đầu tư của nhiều
người trong số này là khi chỉ số chứng khoán tăng thì sẵn sàng mua vào với bất
cứ giá nào, khi chỉ số chứng khoán xuống thì sẵn sàng xả hàng bất kể đang

×