Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Thanh toán điện tử và khả năng ứng dụng của thanh toán điện tử vào Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (151.52 KB, 21 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trờng đại học kinh kế quốc dân
Khoa thơng mại
Đề cơng chi tiết:
Môn học thơng mạ i quốc tế
Đề tài:Thanh toán điện tử và khả năng ứng dụng của thanh toán điện tử
vàoviệt nam
Giáo viên hớng dẫn: PGS.TS Nguyễn Duy Bột
Sinh viên : Bùi thị Hồng Liên
Lớp : TMQT 41c
Hà nội1-2002
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Nội dung :
Chơng 1: một số lý luận chung về thanh toán điện tử
1.Thẻ thanh toán _một phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt
-Thẻ thanh toán là gì
-Lợi ích khi sử dụng thẻ thanh toán
-Ai đợc quyền sử dụng thẻ thanh toán
-Những yêu cầu đối với ứng dụng công nghệ thẻ điện tử
-Một số qui định chung cho việc phát hành sử dụng,bảo quản và thanh toán
thẻ
2.Hệ thống thanh toán tài chính tự động
-Mã hoá thơng mại
-Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt
3.Vai trò của thanh toán điện tử trong thơng mại điện tử
-Là một yếu tố rất quan trong thúc đẩy thuong mại điện tử phát triển
-Tiếc kiệm đợc chi phí và thời gian cho khách hàng thay vì phải thanh toán
trựcc tiếp
-Tạo thuận lợi cho khach hàng khi mua bán qua mạng
Chơng 2:Thực trang thanh toán điện tử ở việt nam


1.Thực trang thanh toán bằng thẻ
-Thị trờng thẻ ở việt nam
-Số ngời sử dụng thẻ
-Số cơ sở chấp nhận thẻ
-Số ngân hàng tham gia dịch vụ thanh toán bằng thẻ
2.Thực trạng cơ sở thanh toán tự động ở nớc ta
Chơng 3: Giải pháp để thúc đẩy thanh toán điện tử phát triển ở
việt nam
1.Phải phát triển hoạt đong kinh doanh thẻ ở việt nam
-Các ngân hàng cần mạnh dạn phát triển hoạt đọng phát hành thẻ
-Cần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cho hoạt đọng kinh doanh thẻ
-Đẩy mạnh quảng cáo ,tiếp thẻ
-Các ngân hàng có sự hợp tác đẻ quản lý và kiểm soát rủi do có hiệu quả
2.Muốn tăng cờng thanh toán không dùng tiền mặt cần bác bỏ loại ngân phiếu
thanh toa
-Bắt buộc các đon vị vay vốn ngân hang ,trên 100 triệu đồng phải thanh toán
bằng chuyển khoản
-Dùng thuế xuất cao đối với những doanh nghiệp thanh toán bằng tiền mặt
-Nâng cao thể thức và phơng thức thanh toán của ta ngang tầm thế giới
3.Mở rộng dịch vụ thanh toán bằng thẻ qua ngân hàng
-Về cơ sở vật chất
- Công tác tuyên truyền
-Cơ sở pháp lý
4.Một số giải pháp thu hút dân c mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng
Kết luận chung
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá hiện nay ,thơng mại điện tử đã trở thành một ph-
ơng thức kinh doanh không thể thiếu đợc .sự phát triển nh vũ bão của công nghệ thông tin
và điển hình là mạng toàn cầu Internet khiến các công ty trên thế giới chạy đua nhau lên

mạng nhằm mục đích quảng bá cho hoạt đọng kinh doanh của mình .Hiêu quả của nó đơng
nhiên là rất lớn.Trái ngợc với không khí sôi đông áy, ở việt nam thơng mại điện tử vẫn còn
là một khái niêm vô cùng mới mẻ ngay cả với nhiền doanh nghiệp kinh doanh ,sinh viên
kinh tế của các trờng đại học và cao đẳng.Điều này cũng dễ hiểu vì trong số 78 triệu dân
mới chỉ có khoảng 100.000 Internet ,đó là cha kể nhiều ngời vào mạng với mục đích duy
nhất là chat(tán gẫu qua mạng ).Hoạt động mua bán qua mạng đóng góp rất đáng kể vào
doanh thu của thơng maị điện tử .
Trớc đây, với phơng thức mua bán tay trao ttay đã bộc lộ nhữnh mặt hạn chế nh-
:không đảm bảo độ chính xác,tiện lợi ,chi phí cho việc phát hanh ,bảo quản rất cao .mặt
khác việc vận chuyển khối lợng lớn tiền mặt là rất khó khăn và độ rủi ro cao .
Do phơng thức mua bán nh trên gặp nhiều bất lợi cho nên vào năm 1950 tấm thẻ
nhựa đầu tiên đựơc phát hành do một sự tình cờ là khi ông Frank Mcnamara đang dự một
buổi tiệc thì phát hiện ra mình quên mang theo ví tiền .Chình vì vậy ,ông đã có ý nghĩ là
phát hành nhng tấm thẻ nhựa để cho phép khách hàng có thể thanh toán sau .cùng với sự
bùng nổ của công nghệ thông tin và việc áp dụng nhũng tiến bộ khoa học kỹ thuật ,tâm thẻ
nhựa ấy đã không ngừng đợc cải thiện và đáp ứng đợc các tiêu chuẩn cần phải có của phơng
thức thanh toán hiện đại ngày nay.Đó là thanh toán điện tử.
Với phơng thức thanh toán này nó đã khắc phục đợc những mặt hạn chế của phơng thức
mua bántay trao tay đồng thời nó còn đáp ứng đợc các yêu cầu của nền kinh tế tri thức.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nội dung
Chơng I : Một số lí luận chung về thanh toán điện
tử trong thơng mại điện tử.
I. Thẻ ngân hàng- Một phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã kéo theo hiệu ứng vi
tình hoá mọi hoạt động giao tiếp của con ngời và cộng đồng; với những chiếc
thẻ điện tử nhỏ, gọn ( kích thớc chỉ nh con bài tú lơ khơ) và thông minh chúng
ta có thể thực hiện mọi giao dịch của mình từ ra vào cổng cơ quan, gọi điện
thoại công cộng,đi tàu xe ... rồi đến việc thanh toán mua hàng hoặc rút tiền gửi
để chi tiêu.Đó là sự tiện lợi, tính hơn hẳn của thẻ điện tử trong thế giới hiện đại

Trên thế giới hiện có nhiều loại thẻ thanh toán khấc nhau nh: thẻ khắc
chữ nổi( embossing card),thẻ băng từ( magnetic stripe) và thẻ thông minh -
thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán-dựa trên kĩ thuật vi sử lí nhờ gắn trên thẻ
một chíp điện tử đang ngày càng trở nên phổ biến . Về nghiệp vụ, có thể chia
thẻ ngân hàng thành 3 loại: thẻ tín dụng ( credit card- nh master card,visa card)
; thẻ thanh toán( debit card- nh Diners club,American express); thẻ rút tiền tự
động( ATM card).
Thẻ tín dụng( Credit Card) một hình thức thanh toán hiện đại, kĩ thuật
cao, không dùng tiền mặt mang lại nhiều lợi ích knh tế và tiện dụng đối với ng-
ời sử dụng thẻ nói riêng và toàn xã hội nói chung.Thẻ tín dụng ra đời từ những
năm của thập kỷ40 ,50 của thế kỷ 20 đến nay đã đợc phổ cập rộng rãi ở nhiều
quốc gia trên thế giới.ở nớc ta, ngân hàng Ngoại thơng, Vietcombank và ngân
hàng Thơng mại á châu, ACB và một số ngân hàng thơng mại khác đã bắt đầu
triển khai nghiệp vụ thanh toán thẻ tín dụng mang lại kết quả ban đầu và cũng
đã nổi lên những vấn đề thách thức kể cả việc phòng chống giả mạo, gian lận để
bảo vệ an toàn cho khách hàng và ngân hàng tham gia nghiệp vụ thanh toán thẻ.
Bên lề thiên niên kỷ mới,Vietcombank và ACB đang có những kế hoạch đầy
tham vọng.Ngân hàng Acb đang thực hiện kế hoạch phát hành 10 nghìn thẻ tín
dụng cho thị trờng nội địa trong vòng 12 tháng tới và 40000 thẻ tín dụng đến
năm 2005.Kế hoạch của Acb đợc phối hợp với Sài Gòn Tourít để phục vụ
chiến dịch:Việt nam điểm hẹn thiên niên kỷ mới. Trong tháng 12-2000, ngân
hàng ACB đã phát hành đợc 500 thẻ-Thẻ của ACB với định mức tối thiểu
2000000 đồng nhằm vào các khách hàng có thu nhập ổn định và có tài khoản
tiền gửi, tài khoản vãng lai đã đợc mở tại ACB. Ngân hàng sẽ cung ứng dịch vụ
tín dụng đến các khách hàng là đại lí du lịch, khách sạn, nhà hàng, vận tải hàng
không,của hàng,cửa hiệu, siêu thị câu lạc bộ v.v...Khách hàng dùng thẻ phải
thanh toán trong hạn 15 ngày với lãi suất 0,85%/tháng.Ngời sử dụng thẻ phải trả
phí mỗi năm 100000 đồng .Để khuyến khích ngời sử dụng thẻ đợc hởng mức
giảm giá từ các dịch vụ của Sai Gòn Tourist theo tỉ lệ=20% giá thuê phòng
khách sạn;10% giá tiền ăn ,uống tại khách sạn,nhà hàng;5% du lịch Tours nội

địa và 3% du lịchtours ra nớc ngoài.Ngoài ra, ngời sử dụng thẻ đợc rút tiền
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mặt từng lần với dịch vụ phí 2%.Kế hoạch mở rộng thẻ nói trên của ngân hàng
ACB là bớc tiến tích cực thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Viêt nam
phù hợp với chủ trơng của ngân hàng Nhà nớc Việt nam.Vietcombank trong
năm qua cũng đã triển khai nhiều dịch vụ về thanh toán thẻ tín dụng kể cả
Siminar, hội thảo ,huấn luện đào tạo cán bộ và đổi mới trang thiết bị kỹ thuật để
đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả thanh toán thẻ tín dụng.Trong
thục tể, một số khách hàng còn ngần ngại sử dụng thẻ tín dụng và cho rằng chi
phí thanh toán thẻ còn cao, thời gian thanh toán cha thạt nhanh chóng.Đó là
những tồn tại thực tế nhng phơng thức thanh toán nào cũng có giá thàng của
nó.Vấn đề là phải làm sao có giá thành phù hợp và đợc xã hội chấp nhận.Vừa
qua các ngân hàng thơng mại kể cả Viêtcombank và ACB đã có nhiều cố gắng
trong việc hạ thấp chi phí, thậm chí có ngân hàng đã phải chịu lổi trong đầu t
trang thiết bị, kỹ thuật mới về thanh toán thẻ , nhng vẫn cha tỏ ra hấp dẫn đối
với khách hàng sử dụng thẻ tín dụng.Có lẽ,đây là vấn đề các ngân hàng và
khách hàng phải cố gắng, nỗ lực cao hơn nữa để từng bớc mở rộng thanh toán
thẻ tín dụng trên toàn cõi đất nớc ta.
Thẻ thanh toán là gì? Một cách đơn giản nhất ,thẻ thanh toán là một
loại giấy tờ có giá đặc biệt đợc làm bằng chất dẻo tổng hợp đợc nhà phát hành
ấn định giá trị, dùng để trả tiền hàng hoá ,dịch vụ hay để rút tiền mặt thông qua
các máy đọc thẻ.Thẻ thanh toán lần đầu tiên mang tên Diners club, đợc ngòi
Mỹ sử dụng vào năm 1949 để trả tiền ăn tại 27 nhà hàng ttrong hoặc ven thành
phố New york. Ngày nay, trên 70% gia đình tại mỹ đã sử dụng thẻ thanh toán
để trả tiền hàng hoá và dịch vụ thay vì họ phải trả bằng tiền mặt hoặc dùng các
phơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác.Chỉ tính riêng tại Mỹ, hiện nay
có khoảng 800 triệu thẻ các loại đang đợc lu hành với tổng giá trị khoảng 300
tỷ dola Mỹ. Cùng với sssự pháp triển nhanh chóng của nền văn minh nhân loại
và kỹ thuật máy tính phát triển nh vũ bão thẻ thanh toán ngày càng thu hút sự
chú ý và nghiên cứu ứng dụng ccủa nhiều nớc kể cả những nớc đang phát triển .

ở Viẹt nam ,ngân hàng đầu tiên thực hiện dịch vụ này là ngân hàng ngoại thơng
Viẹtnam.Lần đầu tiên VCD nhận làm đại lí thanh toán thẻ Visa cho ngân hàng
BFCE của Singapore vào năm 1990.Năm1991 có thêm MasterCard của tổ chức
tầi chính BFCE của Malaysia, sau đó là các loại thẻ JCB của Nhật, Amex của
Mỹ. Năm 1993, VCD đã phát hành đợc MasterCard sử dụng đồng tiền trong n-
ớc ,sau đó là thẻ Visa cũng đợc phát hành vào năm 1979.Cho đến nay, VCD vẫn
là ngân hàng duy nhất tại Việt nam chấp nhận thanh toán cả 4 loại thẻ tín dụng
quốc tể phổ cập nhất thế giới là Visa, MasterCard ,Amex và JCB. Hiện nay các
ngân hàng nh: ngân hàng ACB,First Vinabark, ngân hàng Xuất nhập khẩu
(EXIMBANK),ngân hàng Sài Gòn Công Thơng ,ngân hàng Công Thuơng, ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn(NHNo),... cũng đã tổ chức thực hiện
dịch vụ thanh toán bằng thẻ, nhng chủ yếu là làm đại lí thanh toán. Hiện chỉ có
VCB và ACB là đã phát hành MASTERCARD và VISACARD trong nớc, còn
NHNo phát hành và thanh toán thẻ nội bộ.Tính đến nay, hai ngân hàng phát
hành thể là VCB và ACB đã phát hành đợc khoảng 5000 thẻ tín dụng quốc tế
với doanh số sử dụng năm 1999 khoảng 100 tỉ đôngf Việt nam .Tuy nhiên tỉ
trọng doang số sử dụng trong nớc chỉ chiếm khoảng 35%.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lợi ích khi sử dụng thẻ thanh toán : qua nửa thế kỷ không ngừng đợc
các nhà phát hành( bao gồm các công ty, các tập đoàn tài chính mạnh, các ngân
hàng trên thế giới) hoàn thiện, ngày nay, thẻ thanh toán đã đạt tới khả năng tiện
lợi và an toàn cao.Nhiều loại thể đã đợc phát hành và sử dụng hầu nh trên toàn
cầu vì những u điểm nổi bật của nó.Trớc hết về mặt xã hội và nhà nớc , thanh
toán bằng thẻ giúp loại bỏ một khối lợng tiền mặt rất lớn lẽ ra phải lu chuyển
trực tiếp trong lu thông để thanh toán các khoản mua hàng ,trả tiền dịch vụ
trong cơ chế thị trờng ngày càng sôi động ,phát triển ở tất cả các nớc.Đói với
ngời sử dụng thẻ, những lợi ích từ việc sử dụng thẻ thanh toán nổi rõ hơn khi sử
dụng tiền mặt hay các phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt khác nh vừ
tiện lợi( gọn nhẹ, nhanh chóng), an toàn, tiết kiệm, vừ văn minh ,hiện đại nhng
vẫn không bị phân biệt giá so với khi trả bằng tiền mặt- pháp luật đã quy định

cụ thể nh vậy.Còn trong việc vận chuyển ,mang tiền đi, không cách nào tiện
bằng cách gửi tiền vào một nơi( ví dụ ở Hà nội) rút tiền mặt ở nhiều nơi khác( ví
dụ TP.Hồ Chí Minh...) thông qua hệ thống rút tiền tự động ,vừa an toàn, vừa
đơn giản, chi phí lại thấp hơn nhiều lần so với việc phải mang theo tiền mật.Đối
với các cơ sở bán hàng, cung ứng dịch vụ chấp nhận thẻ sẽ giúp tăng nhanh
doanh số hơn, làm cho nơi bán hàng trở nên văn minh ,hiện đại hơn, thu hút
khách hàng nhiều hơn.Còn đối với ngân hàng ( ngân hàng phát hành và ngân
hàng thanh toán) cững có những lợi ích lớn nh: làm phong phú các hình thức
thanh toán tăng hiệu quả nghiệp vụ thanh toán, mở rộng đối tợng thanh toán,
tăng doanh số thanh toán và tăng lợi nhuận. Hiện nay thị trờng Việt nam chỉ
mới có tỉ lệ rất nhỏ sử dụng thẻ thanh toán.Nếu ngân hàng có thể phổ biến đợc
đến khoảng 10% dân số cả nớc thì doanh số sử dụng thẻ trong nuức sẻ lên tới
con số hàng nghìn tỉ đồng mỗi năm, gấp hàng trăm lần con số sử dụng thẻ hiện
nay.Nếu đợc nh vậy ,một khối lợng lớn tiền mặt lẽ ra phải đợc in ấn, lu chuyển,
bảo quản, kiểm đếm.. sẽ đợc giảm bớt đáng kể, góp phần tiết kiệm một khối l-
ợng tiền mặt khổng lồ cho xã hội bởi việc tiét giảm các chi phí phát sinh khi sử
dụng tiền mặt. Đó cững là một mục tiêu của chính sách tiền tệ của các nớc khi
lựa chọn loại công cụ để đạt các mục tiêu vĩ mô.
Ai đợc quyền sử dụng thẻ thanh toán? Nói chung, những ngời có thu
nhập ổn định, đạo đứcc tốt, có lý lịch rõ ràng và chấp nhận những điều kiện
rằng buộc của ngân hàng phát hành thẻ đều có thể đợc cấp thẻ thanh toán.Về
điều kiện tài chính đối với ứng viên chủ thể, có nhiều loại thẻ, song chung quy
có hai loại chủ yếu: thẻ có ký quỹ và thẻ không có ký quỹ.Theo quy chế phát
hành và sử dụng thẻ ngân hàng hiện hành do ngân hàng Nhà nớc ban hành, chỉ
cần ngời sử dụng thẻ đủ năng lực hành vi dân sự, có tài khoản mở tại ngân hàng
phát hành thẻ và chấp nhận các điều kiện do ngân hàng phát hành thẻ quy định-
đều có thể đợc cấp thẻ thanh toán để sử dụng cho nhu cầu thanh toán hàng hoá,
dịch vụ hay rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động .
Những yêu cầu đối với ứng dụng công nghệ thẻ điện tử:
Mặc dù những khoản tiền mặt đựoc lu trữ dới dạng các bit thông tin có

thể nạp vào thẻ thông minh rất gọn nhẹ tiện dụng, dẽ dàng mang theo ngời và
đợc sử dụng nh tiền mặt mà không bị lộ diện nhng không ai có thể đảm bảo
chắc chắn về độ an toàn tuyệt đối trong thanh toán thẻ. Thực tế thẻ tín dụng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cững chứa đựng những nguy cơ và rủi ro không nhỏ. Theo thống kê của các tổ
chức thẻ quốc tế, mỗi năm các tổ chức này và các thành viên phải chi không dới
1% doanh số cho rủi ro và phòng ngừa rủi ro .Các ngân hàng rất dễ phải chịu
thanh toán, thậm chí nguy cơ phá sản nếu không lu tâm đến vấn đè này. Rủi ro
và nguy cơ rủi ro có thể xuất hiện ở nhiều khâu trong toàn bộ quá trình phát
hành, sử dụng và thanh toân thẻ gây tổn thất cho chủ thẻ, cơ sở chấp nhận thẻ,
ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán. Những rủi ro có thể phát sinh nh
đơn xin phát hành thẻ có các thông tin giả mạo; thẻ giả; thẻ bị mất cắp, thất lạc,
chủ thẻ không nhận đợc thẻ do ngân hàng phát hành gửi; tài khoản của chủ thể
bị lợi dụng; nhân viên cơ sở chấp nhận thẻ in nhiều hoá đơn thanh toán của một
thẻ; tạo băng từ giả. Ngoài ra còn một số nguy cơ rủi ro khác có thể xuất hiện
nếu các ngân hàng không chú trọng đúng mức đén việc quản lí hệ thống sử lí
dữ liệu và quản trị hệ thống kỹ thuật. Vì vậy vấn đề đặt ra trớc mắt cho chúng ta
hiện nay là làm thế nào để các ứng dụng công nghệ thẻ tự động vừa đạt đợc tính
hiệu quả về kinh tế, thẩm mĩ và an toàn đồng thời vẫn đảm bảo đợc tính hình
thức đẹp, độ bền cao.Thẻ cần đựoc sử dụng ít nhất từ 5-10 năm chống đợc các
tác động phá huỷ ( cọ sát, bẻ gập, ngâm nớc...) trong quá trình sử dụng .Xét về
góc độ kỹ thuật phải đảm bảo khả năng chống làm giả. Thẻ phải có chứa những
đặc tính bảo mật nh: in ảnh bóng mờ để chông photocopy; hình in bằng kỹ thuật
vi in; mhững dấu hiệu bảo mật của hãng sản xuất thẻ( đã đợc in sẵn trên vật liệu
thể rắn) ; các hình hoa văn tinh sảo; các dữ liệu in bằng mực nhạy cảm với tia
cực tím.Đặc biệt, phải triệt để thực hiện nguyên tắc, mỗi đối tợng chỉ đợc cấp
một thẻ ( nếu mất mới đợc cấp lại). Để giải quyết triệt để yêu cầu này nhất thiết
phải ứng dụng các công nhgệ nhận biết dữ liệu sinh học, trong đó , nhận biết
dấu vân tay tự động là công nhgệ đợc quan tâm nhiều nhất. Công nghệ ứng
dụng thẻ không chỉ đơn thuần là việc in ra thẻ. Nó đòi hỏi phải ứng dụng nhiều

công nghệ khác nhau, phải xây dựng một hạ tầng thông tin hoàn chỉnh từ máy
in thẻ, máy đọc thẻ tại các địa điểm ứng dụng và hệ thống mạng truyền thông
kết nối các điểm ứng dụng. Công nghệ thẻ tự động thực chất là một tổ hợp
nhiều công nghệ hiện đại trong đó CNTT chiếm vai trò chủ chốt :
-Công nghệ thu dữ liệu tự động: cần dùng các thiết bị hiện đại nh máy
ảnh số để chụp ảnh và đa trực tiếp vào máy tính , máy ảnh chụp phim tức thời
để thu nhận dữ liệu ở các vùng xa xôi hẻo lánh, các máy quét ảnh chất lợng cao
để quét đợc ảnh vân tay từ các bản hoặc các chữ ký , các thiết bị quét vân tay
trực tiếp hoặc lấy mẫu chữ ký trực tiếp..
-Công nghệ in thẻ hiện đại đáp ứng đợc khả năng in các đặc tính bảo mật
đa dạng trên thẻ; khả năng sử dụng nhiều loại vật liệu thẻ( thẻ giấy , thẻ nhựa..);
khả năng tích hợp nhiều thao tác trong một bớc in( vừa in thẻ hai mặt, vừa ép
nhựa); khả năng kiểm soát chặt chẽ toàn bộ quá trình in thẻ ở các trung tâm in
ấn tập trung.
-Công nghệ mã hoá dữ liệu: dữ liệu( chữ số, ảnh , vân tay) có thể đợc
mã hoá theo nhiều cách khác nhau : dùng dải băng từ; dùng mã vạch; dùng chíp
điện tử; dùng các dòng chữ để có thể nhận dạng bằng máy.
-Công nghệ nhận biết tự động và xác nhận chủ nhân.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Công nghệ CSDL tiên tiến có khả năng hỗ trợ dữ liệu lớn và dữ liệu ảnh
với những đòi hỏi cao về bảo mật, an toàn dữ liệu, về tính năng hoạt động và
khả năng mở rộng.
-Công nghệ mạng truyền thông : Trong các ứng dụng quy mô lớn, việc
truyền dữ liệu giữa các văn phòng đăng ký cấp thẻ ở địa phơng tới các trung
tâm khu vực ( cấp tỉnh/ cấp miền) và sau đó về trung tâm ở trung ơng sẽ là vấn
đề lớn. Khi đa thẻ vào sử dụng, việc liên lạc để đối chiếu với CSDL trung tâm
theo cơ chế khách/ chủ là rất quan trọng. Ngoài kỹ thuật và quy trình truyền dữ
liệu trên mạng diện rộng, còn có một số vấn đề nữa cần đợc nghiên cứu là vấn
đề mã hoá, bảo mật dữ liệu trên đờng truyền.
Công nghệ thẻ ngày càng đợc ứng dụng rộng rãi nhờ các u điểm : nhỏ ,

gọn, chứa thông tin cô đọng, sử dụng tiện lợi: bền, sử dụng nhiều lần: để tự
động hoá khâu nhận biết và xác nhận chủ nhân với mức độ tịn cậy cao, nhờ đó
có thể sử lí nhanh chóng các giao dịch. Việc ứng dụng công nghệ thẻ ở Việt
nam hiện nay nhìn chung mới dừng ở sơ khai , ứng dụng các loại thẻ ra vào có
dải bănng từ cho một số cơ quan, xí nghiệp. Riêng trong lĩnh vực ngân hàng đã
có những bớc đi có tính đột phá trong việc ứng dụng công nghệ thẻ tự động- thẻ
thanh toán điện tử- thẻ tín dụng .
Một số quy định chung cho việc phát hành, sử dụng , bảo quản và
thanh toán thẻ .
Đối với ngân hàng phát hành thẻ:tên chủ thẻ: tên NHPHT; số thẻ; nhãn
hiệu thơng mại thời hạn sử dụng thẻ...là yếu tố phải hội đủ trên thẻ. Trong quy
chế cũng quy định các NHPHT có quyền quy định thêm các yếu tố khác không
trái với pháp luật hiện hành. Điều này có lẽ sẽ liên quan đến việc mở rộng hệ
thống thông tin trên thẻ khi công nghệ thẻ phát triển thẻ sau này, hoặc giúp các
NHPHT có phơng pháp riêng để quản lí . Thẻ tín dụng hay các phơng thức tín
dụng khác đều phải tuân theo các quy định về tín dụng hiện hành. Do đó trong
quy chế cũng quy định cho NHPHT khi cấp thẻ tín dụng, phải xem xét và cấp
cho chủ thẻ một hạn mức tín dụng nhát định. Hạn mức tín dụng của thẻ tín dụng
cho một khách hàng nằm trong tổng mức cho vay chung đối với khách hàng đó
và tổng mức cho vay chung này không đọc vợt quá giới hạn cho vay tối đa của
ngân hàng với một khách hàng theo quy định của pháp luật. NHPHT phải quy
định thời hạn trả nợ , lãi suất, cũng nh lãi suất d nợ tín dụng thẻ cha đợc thanh
toán đúng hạn và mức trả nợ tối thiểu tính trên d nợ tín dụng thẻ cho các chủ thẻ
tín dụng. Các quy định này không trái với các quy định hiện hành của ngân
hàng nhà nớc về lãi suất cho vay. Bên cạnh đó quy định nêu rõ thẻ chỉ đợc cấp
cho cá nhân, không cấp thẻ cho tập thể và d nợ tín dụng thẻ của NHPHT đợc
tính vào tổng mức d nợ cho vay chung của mình .
Đối với chủ thẻ : Quy chế quy dịnh,chủ thẻ không đợc chi vợt hạn mức
tín dụng đã đợc NHPHT chấp thuận trong hợp đồng. Trong trờng hợp muốn s
dụng vợt hạn mức tín dụng phải thoả thuận trong hợp đồng với NHPHT. Đồng

thời phải thanh toán đầy đủ đúng hạn mức trả nợ tối thiểu đợc NHPHT quy
định.

×