Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

Đề cương ôn tập môn thương mại quốc tế: Tác động của các tổ chức quốc tế tới Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (181.73 KB, 17 trang )

I.TÁC ĐỘNG CỦA AFTA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
1.Thương mại
Nhập khẩu
Trong những năm gần đây, hàng hóa từ ASEAN vào Việt Nam chiếm khoảng 25% kim
ngạch nhập khẩu (NK), trong đó nguyên vật liệu dùng cho sản xuất và hàng công nghiệp
chiếm tỷ trọng lớn. Các mặt hàng này đã có thuế suất dưới 5% trước khi thực hiện CEPT.
Vì vậy, AFTA không có tác động trực tiếp tới việc NK những mặt hàng này.
Ngoài ra, một số hàng NK có kim ngạch đáng kể ở Việt Nam như xăng dầu, xe máy
chưa được đưa vào danh sách giảm thuế ngay nên trước mắt sẽ nằm ngoài phạm vi tác động
của AFTA.
Về lâu dài, Việt Nam chắc chắn phải đưa thêm những mặt hàng từ danh mục loại trừ tạm
thời có thuế suất trên 20% vào diện cắt giảm ngay, và loại trừ dần các hàng rào phi thuế
quan (nhất là những hạn chế về số lượng nhập khẩu). Khi đó, rất có thể NK, nhất là những
mặt hàng tiêu dùng từ các nước ASEAN vào Việt Nam sẽ tăng lên nếu những mặt hàng
cùng loại sản xuất trong nước không cạnh tranh lại được.
Xuất khẩu
Xuất khẩu sang các nước ASEAN khác:
Về lý thuyết và dài hạn, AFTA có tác động làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt
Nam trên thị trường ASEAN nhờ giảm thuế quan và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan.
Song trong vài năm tới, khả năng AFTA làm tăng kim ngạch xuất khẩu (XK) của Việt Nam
sang các nước này không lớn do các nguyên nhân sau:
Xét về cơ cấu hàng xuất khẩu (XK):
Những năm gần đây, ASEAN thường chiếm khoảng 20-23% kim ngạch xuất khẩu (XK)
của Việt Nam. Đây là một con số đáng kể. Nhưng những mặt hàng được hưởng thuế suất
CEPT lại chỉ chiếm gần 20% kim ngạch XK sang ASEAN, tương đương với dưới 4% tổng
kim ngạch XK của Việt Nam năm 2001. Và mức tăng XK của những mặt hàng này sang
các nước ASEAN khác cũng không lớn.
1
Hơn nữa, cơ cấu hàng hóa của Việt Nam và ASEAN khá tương đồng. Với trình độ thua
kém hơn, Việt Nam chỉ có thể cạnh tranh trên thị trường ASEAN nhờ tính độc đáo của
chủng loại, mẫu mã và do đó, chỉ mang tính bổ sung cho cơ cấu hàng hóa nước đối tác.


Xét về bạn hàng:
2/3 doanh số buôn bán của Việt Nam với ASEAN được thực hiện với Singapore. Phần
lớn hàng Việt Nam xuất sang Singapore sẽ được tái xuất sang các nước khác. Nhưng ở
nước này, hệ thống thuế xuất nhập khẩu trước AFTA vốn đã thấp, gần như bằng 0%. Do
vậy, khi thực hiện CEPT trên toàn khối ASEAN, 1/3 kim ngạch xuất nhập khẩu còn lại của
Việt Nam với các nước ASEAN khác sẽ chưa làm thay đổi nhiều XK Việt Nam nếu xét
theo khía cạnh được hưởng ưu đãi thuế NK thấp.
Có thể kết luận rằng: Chỉ khi nào Việt Nam tạo được sự dịch chuyển cơ cấu sản xuất và
XK theo hướng tạo ra được nhiều chủng loại hàng hóa có sức cạnh tranh và nằm trong danh
mục cắt giảm của CEPT, các doanh nghiệp Việt Nam mới có thêm thuận lợi về yếu tố giá
cả khi muốn XK sang ASEAN.
Về phần XK sang các nước ngoài ASEAN:
Về dài hạn, AFTA có tác động gián tiếp làm tăng kim ngạch XK của Việt Nam sang các
thị trường ngoài ASEAN do nhập được đầu vào cho sản xuất XK với giá rẻ hơn từ các nước
ASEAN. Mặt khác, với tư cách một thành viên của AFTA, Việt Nam có điều kiện để khai
thác những lợi thế mới trong quan hệ thương mại với nước lớn.
Ví dụ: Việt Nam sẽ được hưởng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập của Mỹ ( General
Sytem of Prefence – GSP). Bởi GSP quy định "giá trị một sản phẩm được sản xuất tại một
nước thành viên của một hiệp hội kinh tế, khu vực thương mại tự do (như AFTA) thì được
coi là sản phẩm của một nước" và một sản phẩm NK vào Mỹ được hưởng GSP nếu "giá trị
nguyên liệu NK để sản xuất ra nó chiếm dưới 65% giá trị sản phẩm sau khi hoàn thành thủ
tục hải quan vào Mỹ".
Điều đó có nghĩa là các nước ASEAN có thể nhập nguyên liệu từ các nước thành viên
khác để sản xuất hàng XK sang Mỹ, và hàng XK sẽ được hưởng GSP nếu giá trị nguyên
liệu dưới 65% giá trị sản phẩm. Và do đó, AFTA giúp Việt Nam tăng cường tiếp cận và
thâm nhập thị trường Mỹ - đất nước có kim ngạch NK vượt 1000 tỷ USD mỗi năm.
2
Tuy vậy, như trên đã nói, cơ cấu sản phẩm của các nước ASEAN xuất ra thị trường thế
giới lại khá tương đồng với Việt Nam. Và họ cũng được hưởng những lợi ích tương tự. Do
đó, tham gia AFTA, Việt Nam tiếp tục phải chấp nhận cạnh tranh rất quyết liệt với các

thành viên khác trong hiệp hội không chỉ trên thị trường khu vực.
Cũng cần nói thêm rằng, việc Việt Nam tham gia AFTA và tổ chức Hợp tác Kinh tế châu
Á - Thái Bình Dương ( APEC ) tháng 11/1998 là những sự chứng minh, là bước chuẩn bị,
tập dượt để gia nhập WTO.
2. Đầu tư nước ngoài
Về lý thuyết, một khu vực thương mại tự do sẽ làm tăng đầu tư từ ngoài khu vực. Đó là
bởi các nhà đầu tư có thể sản xuất hàng hóa tại một hay một số nước và đưa ra tiêu thụ ở tất
cả các nước thành viên với mức thuế thấp và hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ. Khi các
nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một nước, họ sẽ có một thị trường tiềm năng rộng lớn hơn
nhiều lần nước đó.
Áp dụng lý thuyết đó vào AFTA và Việt Nam, thì các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư
vào Việt Nam, họ sẽ không chỉ nghĩ đến một thị trường với 80 triệu dân, mà còn tính đến cả
thị trường ASEAN với trên 500 triệu người.
Nhưng trên thực tế, thuế chỉ là một trong rất nhiều yếu tố được xem xét để đi đến quyết
định đầu tư. Thuế thấp sẽ mất đi ý nghĩa thu hút đầu tư nước ngoài nếu không đi kèm với sự
ổn định chính trị, xã hội, luật đầu tư nước ngoài thông thoáng, nguồn lao động giá rẻ và có
tay nghề cao Có thể lấy ví dụ đơn cử là Indonesia hiện nay. Mặc dù Indonesia đã hoàn
thành AFTA, nhưng rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài như Sony , Matsushita đã và đang
rời bỏ nước này sang Trung Quốc, Malaysia hay Việt Nam vì lo ngại và thất vọng trước nạn
khủng bố, mâu thuẫn sắc tộc, bất ổn quyền lực và tham nhũng
Đó cũng thách thức chung cho tất cả các thành viên của AFTA. Vì nếu như trước đây,
Indonesia hay Việt Nam không phải là thành viên của AFTA, để vượt qua hàng rào thuế
quan và các hạn chế NK vào thị trường Indonesia hay Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài
buộc phải đầu tư tại nước sở tại. Nhưng nay Việt Nam đã là thành viên AFTA, nếu môi
trường đầu tư vào Việt Nam không hấp dẫn, thì thay vì đầu tư Việt Nam, các nhà đầu tư
nước ngoài có thể sẽ đầu tư vào các nước ASEAN khác, hoặc đơn giản hơn, chỉ cần mở
3
rộng hoặc tăng thêm công suất của các nhà máy sẵn có tại các nước AFTA, đặc biệt là đối
với các dây chuyền sản xuất đã gần hết khấu hao nhưng vẫn vận hành tốt, rồi từ đó bán
hàng sang Việt Nam.

Như vậy, để tận dụng được những cơ hội thu hút đầu tư từ các nước khác mà AFTA đem
lại, Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện một cách đồng bộ và toàn diện môi trường đầu tư.
3. Công nghiệp
AFTA sẽ làm thay đổi cơ cấu công nghiệp khu vực theo hướng chuyên môn hóa và phân
bổ các nguồn lực một cách hợp lý hơn. Nhưng đây là sự thay đổi và phân bổ mang tính
động và phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn và nỗ lực chủ quan của từng nước.
Cũng giống như tại các nước ASEAN, ở một mức độ nào đó, AFTA sẽ làm thay đổi cơ
cấu công nghiệp của Việt Nam. Trong đó, một số ngành sẽ phát triển, một số ngành sẽ bị
thu hẹp. Tuy vậy, AFTA cũng tạo cho chúng ta điều kiện và thời gian để chuẩn bị và vươn
lên để có thể đứng vững và phát triển vì:
Thứ nhất, mọi thời hạn thực hiện và hoàn thành AFTA/CEPT đối với Việt Nam được
cộng thêm 3 năm;
Thứ hai, cũng như các nước ASEAN khác, Việt Nam không cần phải đưa ngay một lúc
tất cả các danh mục hàng hóa vào chương trình giảm thuế. Những mặt hàng nào có tỷ trọng
nhập khẩu cao và có khối lượng giá trị tiêu thụ lớn trên thị trường nội địa có thể sẽ đưa vào
giảm thuế chậm hơn;
Thứ ba, sau khi một mặt hàng được giảm thuế, các hàng rào phi thuế quan (nếu có đối
với mặt hàng đó) sau đó 5 năm mới phải xóa bỏ;
Thứ tư, việc cắt giảm thuế nhập khẩu đối với một số nguyên liệu, sản phẩm đầu vào sẽ
làm giảm chi phí sản xuất và do vậy, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho một số
sản phẩm công nghiệp.
Vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà kinh doanh là làm
thế nào để tận dụng được những cơ hội và thời gian một cách có hiệu quả, định hướng cơ
cấu công nghiệp và mặt hàng kinh doanh như thế nào để có thể phát huy được lợi thế so
sánh của Việt Nam trong phân công lao động khu vực.
4
Trên cơ sở định hướng phát triển công nghiệp theo cơ chế kinh tế mở, Nhà nước cần tạo
môi trường thuận lợi và đầu tư thích đáng, đồng thời áp dụng các biện pháp bảo hộ hợp lý
trong thời gian cho phép để các ngành có tiềm năng phát triển có thể cạnh tranh không
những trên thị trường trong nước mà còn trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, mọi sự bảo hộ của Nhà nước đều có giới hạn. Để đứng vững và phát triển, các
doanh nghiệp cần phải khẩn trương nghiên cứu nhu cầu thị trường trong nước và khu vực,
khả năng cạnh tranh của các nước ASEAN trong cùng lĩnh vực để kịp thời điều chỉnh cơ
cấu sản xuất, đổi mới trang thiết bị và công nghệ, nâng cao năng lực quản lý khi sự bảo hộ
không còn nữa, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam về cơ bản sẽ hoàn thành
AFTA vào năm 2005
4. Ngân sách nhà nước
Tham gia AFTA và thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo CEPT chắc chắn sẽ
tác động tới nguồn thu cho ngân sách, ít nhất là trong giai đoạn đầu khi Việt Nam thực sự
cắt giảm thuế quan, tức là từ 1/7 năm nay. Theo số liệu những năm gần đây, NK từ các
nước ASEAN chiếm khoảng 20-23% kim ngạch NK của Việt Nam, trong khi đó, thuế NK
(trừ dầu thô) đóng góp khoảng 25% tổng số thu ngân sách. Như vậy, về mặt số học đơn
thuần, khi cắt giảm thuế quan, rõ ràng nguồn thu ngân sách sẽ bị giảm.
Về dài hạn, AFTA sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất trong nước. Như vậy, cơ sở để tính toán
rằng, về dài hạn, phần giảm của thuế NK do thực hiện CEPT sẽ được bù lại bằng tăng thu
do kim ngạch buôn bán tăng và tăng thu từ các loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế
tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập công ty
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là lý thuyết, thực tế còn phụ thuộc vào sự phát triển của sản xuất
trong nước, hiệu quả của hệ thống thuế và bộ máy thu thuế.
Tóm lại, tham gia ASEAN và AFTA là bước đi tất yếu đầu tiên của Việt Nam trên con
đường hội nhập với khu vực và thế giới. Sự kiện này mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội mới
cũng như nhiều thách thức to lớn. Cơ hội và thách thức đan xen lẫn nhau, đòi hỏi sự nỗ lực
cả tầm vĩ mô và vi mô để khai thác triệt để các cơ hội và hạn chế đến mức thấp nhất ảnh
hưởng tiêu cực do các thách thức đưa đến.
5
Không nên coi việc thực hiện AFTA như một quá trình hay hành động riêng biệt, mà
phải đặt nó trong lộ trình hội nhập và tự do hóa thương mại tổng thể, trong đó, mục tiêu
nhất quán được xác định bởi khuôn khổ WTO.
II.Tác động của Bogor-APEC đối với Việt Nam.
2.1*Về chính trị: là thành viên của APEC, Việt Nam có uy tín lớn hơn và tiếng nói có

trọng lượng hơn trên trường quốc tế. Các hội nghị bộ trưởng thương mại và ngoại
giao hàng năm và đặc biệt là hội nghị cấp cao của các nền kinh tế ( từ năm 1993 ) là
cơ hội quý báu để thực hiện các cuộc gặp song cấp cao và để tham gia vào việc
quyết định các vấn đề quan trọng trong khu vực.
2.2*Về kinh tế: APEC hiện là khu vực đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Việt Nam, với 65,6%
tổng số vốn đầu tư. Trong 14 nước và lãnh thổ đầu tư lớn nhất ( trên 1 tỷ USD ) vào
- Chỉ 10 nước và vùng lãnh thổ trên đã có 39,5 tỷ USD, chiếm 95,6% tổng số vốn đầu tư
trực tiếp của APEC và chiếm 62,7% tổng số vốn đầu tư trực tiếp của tất cả các nước vào
Việt Nam.
-APEC cũng là khu vực có lượng vốn hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA ) lớn nhất cho
Việt Nam, trong đó Nhật Bản là nước có số vốn lớn nhất trong tất cả các nước và các tổ
chức trên thế giới. Hạ tầng cơ sở của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể một phần quan
trọng là nhờ vào nguồn vốn này.
2.2.1-Xuất khẩu: của Việt Nam vào các nước APEC cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
các khu vực trên thế giới. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thì xuất
khẩu vào các thành viên APEC đã chiếm 58%. Năm 2003, chiếm tới 72,8%.
Trong các nhóm hàng Việt Nam xuất khẩu vào APEC thì hàng thô hay mới sơ chế chiếm
khoảng 52,7% ( trong đó dầu thô chiếm 26,8%, lương thực thực phẩm và động vật sống
chiếm 21,5% ); hàng đã chế biến hay tinh chế chiếm khoảng 46,5%.
2.2.2- Nhập khẩu: của Việt Nam từ APEC chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các khu vực:
năm 1995 là 6493,6 triêu USD, chiếm 79,6%; năm 2000 là 12998 triệu USD,
chiếm 83,1%; năm 2001 là 13185,9 triệu USD, chiếm 81,3%; năm 2002 là 15
792,7 triệu USD, chiếm 80%; năm 2003 là 20 057,1 triệu USD, chiếm 79,4% ;
năm 2004 ước 25,3 tỷ USD, chiếm 79,2%.
6
Trong các mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu từ APEC thì hàng thô hay hàng mới sơ chế
chiếm 20,9%, hàng đã qua chế biến hay tinh chế chiếm 78,9%, trong đó máy móc, phương
tiện vận tải và phu tùng chiếm 31%, hàng chế biến chủ yếu chiếm 27,1%, hóa chất và sản
phẩm liên quan chiếm 13,7%, hàng chế biến khác chiếm 7%
- Chín nước và vùng lãnh thổ mà Việt Nam nhập khẩu trên 1tỷ USD đều là thành viên

APEC, đó là: Trung Quốc: 4 456,5 triệu USD; Đài Loan 3 698,0 triệu USD; Singapore: 3
618,5 triệu USD; Nhật Bản: 3 552,6 triệu USD; Hàn Quốc: 3328,4 triệu USD; Thái Lan:
1858,1 triêu USD; Malaysia: 1214,7 triệu USD; Mỹ 1127,4 triệu USD; Hồng Kông:
1074,7triệu USD. Chỉ 9 thị trường này đã xuất khẩu sang Việt Nam 23 928,9triệu USD,
chiếm 90,3% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.
2.3- Du lịch:
Trong 2 927,9 nghìn lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2004 thì APEC đã có trên
2,2 triệu lượt khách, chiếm 75,7%. Trong 14 nước và vùng lãnh thổ có tổng số khách đông
(trên 50 nghìn lượt người) của thế giới thì APEC đã có 10, đó là Trung Quốc:778,4nghìn:
Nhật Bản 267,2 nghìn; Đài Loan:256,9 nghìn; Hàn Quốc:233 nghìn ; Australia:128,7 nghìn;
Malaysia: 55,7 nghìn; Canada:53,8 nghìn; Thái Lan:53,7 nghìn; Singapore:50,9 nghìn.
- 10 năm tham gia APEC, Việt Nam đã tích cực chủ động tham gia các chương trình hợp
tác kinh tế, thương mại, đầu tư vào quá trình tự do hoá thương mại của APEC.
- Đặc biệt, việc tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC 14 năm 2006 là bằng chứng cho
thấy những đóng góp to lớn của Việt Nam đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương,
khẳng định năng lực và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
7
III. Tác động của ACFTA tới quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc:
Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN và ASEAN là đối tác thương
mại lớn thứ 4 của Trung Quốc. Năm 2009, tổng kim ngạch thương mại giữa ASEAN và
Trung Quốc đạt 213 tỷ USD.
- Từ năm 2004, Trung Quốc đã vươn lên trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt
Nam xét về kim ngạch. Tốc độ tăng trưởng thương mại hai chiều bình quân trên 25%/năm.
Năm 2010, kim ngạch thương mại Việt - Trung đạt trên 27 tỷ USD, tăng trên 700 lần so với
kim ngạch năm 1991. Mức nhập siêu của Việt Nam khá lớn với trên 12,7 tỷ USD. Có 3
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nhập siêu, đó là:
+ Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc phần lớn là các sản phẩm có hàm
lượng chế tạo, gia công thấp hoặc nguyên liệu thô như cao su, than đá, dầu thô, các loại
khoáng sản, hạt điều, hàng thủy hải sản, chiếm từ 52-85% tổng kim ngạch xuất khẩu sang
Trung Quốc. Thời gian gần đây, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có xu hướng thay đổi tích cực

nhưng tốc độ còn chậm.
+ Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguồn cung ứng nguyên, nhiên liệu, máy móc nhập khẩu
từ Trung Quốc với kim ngạch chiếm từ 65-81%.
+ Nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc có giá thành hợp lý, phục vụ tốt cho mục tiêu nâng
cao năng lực sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam; các hoạt động biên mậu diễn ra phức tạp
và khó kiểm soát.
- Do cách thức cam kết giảm thuế của Việt Nam có xu hướng dồn việc thực thi cắt giảm
thuế vào giai đoạn sau nên từ khi ACFTA có hiệu lực đến nay, tác động do cam kết giảm
thuế đối với nhập khẩu của Việt Nam không lớn. Tỷ lệ sử dụng Mẫu E của Trung Quốc trên
tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam chỉ chiếm dưới 7%. Từ năm
2010, lộ trình giảm thuế của Việt Nam đi vào thực chất hơn, thuế suất cao được giảm thiểu
đáng kể. Tuy nhiên, các mặt hàng nhạy cảm (SL) và nhạy cảm cao (HSL) hầu như không bị
tác động bởi lộ trình giảm thuế do cam kết giảm thuế trong hai nhóm nhạy cảm này là
không đáng kể, thậm chí đối với nhiều mặt hàng, thuế suất cam kết còn cao hơn thuế MFN
của Việt Nam.
8
- Từ năm 2010, Việt Nam có lợi thế hơn so với Trung Quốc và ASEAN 6 nhờ lộ trình
giảm thuế kéo dài thêm 5 năm. Theo số liệu năm 2001 (căn cứ để đàm phán ACFTA), 90%
số dòng thuế mà Việt Nam có cam kết loại bỏ thuế chỉ chiếm 53% kim ngạch nhập khẩu từ
Trung Quốc; 10% số dòng thuế còn lại thuộc danh mục nhạy cảm (có lộ trình giảm thuế
chậm hoặc không loại bỏ thuế quan) nhưng lại chiếm trên 47% kim ngạch nhập khẩu của
Việt Nam từ Trung Quốc. Căn cứ số liệu năm 2007, 90% số dòng thuế Việt Nam có cam
kết loại bỏ thuế chỉ chiếm 37% kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc; 10% là các mặt hàng
nhạy cảm có kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tới 63%. Thực tế này là điều kiện
tốt để Việt Nam phát triển hiệu quả các ngành kinh tế đang cạnh tranh với hàng nhập khẩu
của Trung Quốc dưới tác động của ACFTA
.Qua hơn 6 năm thực hiện, các doanh nghiệp của Việt Nam đã tận dụng khá tốt cam kết
trong ACFTA để thúc đẩy xuất khẩu sang Trung Quốc. Việt Nam là một trong hai nước có
tỷ trọng hàng xuất khẩu sử dụng mẫu xuất xứ form E khá cao, trên 10% (sau Thái Lan
11%). Tiêu biểu là năm 2009, tỷ lệ sử dụng mẫu E tăng 264% so với năm 2008.

-Đặc biệt, chương trình Thu hoạch sớm (EHP) đã đem lại hiệu quả tích cực cho xuất
khẩu của Việt Nam. Với việc Trung Quốc và ASEAN 6 giảm thuế xuống 0% đối với các
mặt hàng trong EHP (nông sản, thủy sản) từ ngày 1/1/2006, Việt Nam đã liên tục xuất siêu
sang Trung Quốc với quy mô ngày càng tăng, đạt 462 triệu USD vào năm 2009. 10 tháng
đầu năm 2010, Việt Nam cũng đã xuất khẩu sang Trung Quốc gần 600 triệu USD các mặt
hàng này. Tuy nhiên, tham gia chương trình EHP, Việt Nam cũng phải mở cửa cho hàng
nông sản và hải sản của Trung Quốc. Với lý do này, từ năm 2006, trên thị trường đã xuất
hiện nhiều rau quả ôn đới và cận nhiệt đới có xuất xứ Trung Quốc. Trong bối cảnh tiêu
dùng nội địa tăng trưởng ở mức 20-30%/năm nhưng sản xuất trong nước mới tăng khoảng
6%/năm thì việc nhập khẩu bổ sung từ Trung Quốc và một số nước khác là điều khó tránh
khỏi. Tuy nhiên, có thể thấy nông sản Việt Nam vẫn giữ được lợi thế cạnh tranh trên thị
trường nội địa. Năm 2010, một số mặt hàng như cà rốt, bắp cải, hành, tỏi đã giảm về kim
ngạch nhập khẩu, đặc biệt bắp cải giảm 16,1% về lượng và 16,9% về trị giá, hành giảm
56,6% về lượng và 71,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009. Điều này cho thấy nhập khẩu
9
từ Trung Quốc chỉ đang bổ sung cho hàng hóa sản xuất trong nước, đặc biệt vào những thời
điểm thiếu hụt.
-Về dài hạn, từ năm 2010, Việt Nam có cơ hội khai thác tối đa ưu đãi xuất khẩu của
Trung Quốc với 90% số dòng thuế đạt 0-5%. Quá trình này sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ
thay đổi cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam theo hướng tích cực hơn, tăng xuất khẩu các sản
phẩm chế biến, giảm xuất khẩu khoáng sản và sản phẩm chế biến thô.
IV. Tác động của Khu vực Thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc tới quan hệ thương
mại Việt Nam-Hàn Quốc:
Trong nhiều năm qua Hàn Quốc luôn là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam. Hàn
Quốc là 1 trong 10 đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, chỉ sau Trung Quốc,
Mỹ và Nhật Bản. Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ 5 và là thị trường nhập khẩu lớn
thứ 2 của Việt Nam.
-Tốc độ tăng trưởng bình quân kim ngạch thương mại song phương Việt Nam-Hàn Quốc
trong 10 năm qua (2001~2010) là rất cao, đạt trên 23%. Năm 2009, mặc dù chịu sự ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng kim ngạch thương mại hai chiều vẫn

giữ được mức tăng trưởng 2,1%. Đặc biệt trong năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam sang
Hàn Quốc đã vượt mức 2 tỷ USD với mức tăng trưởng là 15,7%. Trong năm 2010, kim
ngạch thương mại hai chiều có sự phục hồi rõ rệt với kim ngạch thương mại hai chiều đạt
trên 12,85 tỷ đô la, tăng 42,2% so với năm 2009. Trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang Hàn Quốc đạt 3,1 tỷ đô la, tăng 49,8%,kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ
Hàn Quốc đạt 9,75 tỷ đô la, tăng gần 40% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng xuất
khẩu chính của ta sang Hàn Quốc là dầu thô, dệt may, thủy sản, than đá, gỗ và sản phẩm gỗ,
v.v.
-Một đặc điểm nổi bật trong quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc là việc ta liên tục
nhập siêu từ nước này. Trong năm 2010, Việt Nam chịu thâm hụt thương mại lên đến gần
6,7 tỷ đô la, tăng 57,8% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng nhập siêu/xuất khẩu là 216%,
cao hơn nhiều so với chỉ tiêu chung. Mặc dù vậy, nhập siêu từ Hàn Quốc được đánh giá là
tương đối tích cực vì cơ cấu nhập khẩu từ Hàn Quốc chủ yếu là các mặt hàng nguyên nhiên
liệu đầu vào cho các ngành sản xuất công nghiệp và sản xuất hàng xuất khẩu (chiếm hơn
10
70% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc). Sắt thép các loại là mặt hàng chiếm tỷ trọng
cao nhất (12,3%) tiếp đến là vải các loại (11,7%), máy móc thiết bị (11,2%), máy vi tính sản
phẩm điện tử (8,6%), xăng dầu các loại (8,3%), chất dẻo nguyên liệu (7,3%), nguyên phụ
liệu dệt may và da giầy (4,9%).
- Khu vực thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc đã đem lại những lợi ích đáng kể cho
các nền kinh tế ASEAN, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam có
thể khai thác hạn ngạch thuế quan với thuỷ sản, mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch hàng đầu
của ta vào Hàn Quốc. Hàn Quốc cam kết dành cho ASEAN lượng hạn ngạch thuế quan như
sau: (i) Tôm đông lạnh: 5000 tấn miễn thuế; (ii) Tôm tươi: 300 tấn miễn thuế; (iii) Mực
nang: 2000 tấn miễn thuế; (iv)Tôm luộc: 2000 tấn miễn thuế; (iiv) Sắn: 25000 tấn với thuế
suất 20%; (iiiv) Tinh bột sắn: 9600 tấn với thuế suất 9%. Với mức thuế trong hạn ngạch 0%
(so với mức trung bình 15% ngoài hạn ngạch) là lợi thế cho các doanh nghiệp ASEAN và
Việt Nam. Bên cạnh đó, thuế suất mà Hàn Quốc dành cho các sản phẩm mà ta có thế mạnh
như dệt may, giày da, sản phẩm chế biến cũng rất thấp, góp phần tạo cơ hội xuất khẩu quan
trọng cho các mặt hàng này.

Có thể nói đây là Khu vực thương mại tự do đem lại lợi ích lớn nhất cho các doanh nghiệp
Việt Nam xét trên khía cạnh tận dụng các ưu đãi của Hiệp định. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi theo
AKFTA thông qua việc áp dụng mẫu quy tắc xuất xứ (mẫu AK) của các doanh nghiệp Việt
Nam là rất cao, lên tới 58,6% ngay trong năm đầu tiên thực hiện Hiệp định AKTIG
(2007) và tăng lên 66,5% vào năm 2008, 64,6% năm 2009. Như vậy, có thể nói đa số hàng
hóa xuất khẩu của ta sang Hàn Quốc đã tận dụng được ưu đãi từ Hiệp định AKFTA. Tỷ lệ
này đặc biệt cao đối với các nhóm hàng hóa như nguyên liệu (gần 100%), khoáng sản chế
biến (trên 95%), sản phẩm da (trên 70%), dệt may (88%). Ngược lại, hàng xuất khẩu từ Hàn
Quốc sang Việt Nam không tận dụng được nhiều các ưu đãi trong Hiệp định AKFTA, với
tỷ lệ sử dụng mẫu quy tắc xuất xứ chỉ đạt khoảng 3%. Đây cũng là minh chứng rõ ràng để
kết luận Hiệp định AKFTA không làm tăng nhập siêu của ta trong quan hệ thương mại với
Hàn Quốc
11
V. Tác động của hiệp định ASEAN – Nhật Bản đến Thương mại VN – NB
- Nhật hiện là nhà đầu tư lớn thư hai tại ASEAN sau EU, chiếm 18% trong tổng số 171 tỷ
USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khối này từ 2002 tới 2006.
Nhật là một đối tác quan trọng của ASEAN, chiếm 12% tổng thương mại thế giới năm 2006
của khối này. ASEAN dự định ký kết thỏa thuận thương mại tự do với Hàn Quốc năm 2008
và với Australia, New Zealand năm 2010.
- Năm 2008, kim ngạch mậu dịch hai nước đạt mức kỷ lục 17,3 tỷ USD và năm 2009 đạt
13,76 tỷ USD. Trong quý 1/2010, kim ngạch thương mại hai nước đạt 3,52 tỷ USD.
- Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Nhật Bản bao gồm thủy sản, dệt
may, dầu thô, cáp điện, than đá, đồ gỗ
- Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Nhật Bản gồm máy móc, thiết bị,
dụng cụ và phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, sắt thép các loại, vải các
loại, linh kiện ôtô, nguyên liệu dệt, da
- Trong những năm gần đây, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản
đã có sự thay đổi rõ rệt. Việt Nam đã xuất khẩu sang Nhật Bản hoa tươi, hàng may mặc cao
cấp, thực phẩm chế biến, hàng công nghiệp nhẹ như may mặc, cơ khí, đóng tàu…
- Về đầu tư: Tính đến 20/4/2010, Nhật Bản có 1.211 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại

Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 19,34 tỷ USD, đứng thứ 3/84 quốc gia và vùng lãnh
thổ đầu tư tại Việt Nam, sau Đài Loan và Hàn Quốc.
- Riêng trong năm 2010, tính đến ngày 20/5/2010, có 34 dự án mới với tổng số vốn 1,1 tỷ
USD, đứng thứ 3 sau Hà Lan và Hàn Quốc trong số 36 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại
Việt Nam.
- Về viện trợ phát triển chính thức (ODA): Nhật Bản là nước viện trợ ODA lớn nhất cho
Việt Nam. Từ năm 1992 đến nay, Nhật Bản đã cam kết khoảng 16 tỷ USD ODA cho Việt
Nam, trong đó riêng tài khóa 2009, khoản vay của Nhật Bản dành cho Việt Nam đạt
145,613 tỷ yên, mức cao nhất từ trước đến nay với tỷ lệ giải ngân là 13,8%.
12
- Việt Nam và Nhật Bản đã ký Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA) (ký
ngày 25/12/2008, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/10/2009).
VI. Hiện diện thương mại
hiện diện thương mại là một trong 4 phương thức cung cấp dịch vụ
- Cung cấp qua biên giới
- Tiêu dùng ngoài lãnh thổ
- Hiện diện thương mại
- Hiện diện thể nhân.
Phương thức hiện diện thương mại là:
- phương thức mà theo đó, nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên thiết lập các
- hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi
- nhánh v.v…trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ
Theo quy định pháp luật hiện hành, thương nhân nước ngoài hiện diện thương mại tại
Việt Nam dưới các hình thức sau đây:
(i) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (công ty liên doanh, công ty
100% vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật Đầu tư); và
(ii) Văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam (hoạt động
theo Luật Thương mại; một số văn phòng đại diện, chi nhánh trong một số lĩnh vực đặc thù
sẽ hoạt động theo các luật chuyên ngành).
Gia nhập WTO, Việt Nam cam kết mở cửa các dịch vụ phân phối đối với tất cả các sản

phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam kể từ ngày
11-1-2007 trừ một số mặt hàng thuộc nhóm sau đây:
- thuốc lá và xì gà
- sách, báo, tạp chí, vật phẩm đã ghi hình
- kim loại quý và đá quý
- dược phẩm
- thuốc nổ
- dầu thô và dầu đã qua chế biến
- gạo, đường mía và đường củ cải
việc hạn chế phân phối những mặt hàng này sẽ được gỡ bỏ dần theo lộ trình
theo biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam trong WTO, nhà phân phối có vốn đầu tư nước
ngoài được phép phân phối các sản phẩm theo lộ trình sau đây:
13
- từ ngày 11-1-2007. Được phép phân phối những mặt hang được sản xuất tại Việt
Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam ngoại trừ:
+ xi măng và clinke
+ lốp (trừ lốp máy bay)
+ giấy
+ máy kéo, phương tiện cơ giới
+ ô tô con và xe máy
+ sắt, thép
+ thiết bị nghe nhìn
+ rượu và phân bón
- từ ngày 1-1-2009: bổ sung them quyền phân phối thông qua đại lý hoa hồng, bán
buôn và bán lẻ với các sản phẩm máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con và xe máy
- từ ngày 11-1-2010: không có bất kỳ hạn chế nào về sản phẩm được phép phân phối
Việt Nam cam kết cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động phân phối tại Việt
Nam dưới các hình thức sau:
- lập liên doanh với đối tác Việt Nam với điều kiện phần vốn nước ngoài trong lien
doanh không quá 49% (từ ngày 1-1-2008 sẽ không hạn chế vốn nước ngoài trong liên

doanh.
- Lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với điều kiện phải thành lập sau ngày 1-1-
2009)
Việt Nam không cam kết về việc cho phép doanh nghiệp phân phối nước ngoài được thành
lập chi nhánh để thực hiện các hoạt động đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, bán lẻ.
Tuy nhiên, đối với dịch vụ nhượng quyền thương mại, kể từ ngày 11-1-2007, các doanh
nghiệp nước ngoài có thể thành lập chi nhánh để cung cấp dịch vụ này. Tuy nhiên, trưởng
chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam
Theo cam kết WTO đối với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài không có hiện diện
thương mại tại Việt Nam, Việt Nam chỉ cho phép phân phối qua biên giới những sản phẩm
sau:
- Các sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân
14
- Các chương trình phân mềm máy tính hợp pháp phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục
địch thương mại
VII. Nhượng quyền thương mại (Franchising)
Theo hình thức nhượng quyền thương mại, doanh nghiệp nhượng quyền sẽ trao cho bên
nhận quyền quyền kinh doanh, sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh, sản xuất hay dịch vụ
của công ty mình, trên thương hiệu của mình. Đổi lại, doanh nghiệp nhận quyền phải trả
cho bên nhượng quyền một khoản chi phí sử dụng bản quyền hay chiếc khấu % doanh thu
trong khoảng thời gian do hai bên thỏa thuận. Thông thường, các chi phí đầu tư cơ sở hạ
tầng, nhân lực do bên nhận quyền đảm nhiệm, doanh nghiệp nhượng quyền chỉ chuyển giao
mô hình kinh doanh, hỗ trợ về thương hiệu, quảng bá.
Nội dung cam kết:
- Việt Nam không cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối (trong đó có dịch vụ
franchising) liên quan đến các loại hàng hoá, dịch vụ sau: Thuốc lá và xì gà; sách, báo và
tạp chí; vật phẩm đã ghi hình; kim loại qu. và đá quý; dược phẩm (không bao gồm các sản
phẩm bổ dưỡng phi dược phẩm dưới dạng viên nén, viên con nhộng hoặc bột); thuốc nổ;
dầu thô và dầu đã qua chế biến; gạo; đường mía và đường củ cải.
- Việt Nam cam kết không hạn chế phương thức cung cấp dịch vụ franchising qua biên giới

(phương thức 1) và phương thức tiêu dùng dịch vụ franchising ở nước ngoài (phương thức
2). Việt Nam không cam kết mở cửa thị trường dịch vụ theo phương thức 4 (hiện diện của
thể nhân), trừ các cam kết chung. Đối với việc cung cấp dịch vụ franchising theo phương
thức 3 (hiện diện thương mại), về cơ bản, Việt Nam cũng cam kết không hạn chế nhà cung
cấp nước ngoài nếu tuân thủ các quy định sau: Thứ nhất, nhà cung cấp nước ngoài phải
thành lập lien doanh với đối tác Việt Nam với tỉ lệ vốn góp của bên nước ngoài không quá
49%. Kể từ ngày 01/01/2008, hạn chế mức vốn góp 49% nêu trên sẽ được bãi bỏ. Kể từ
ngày 01/01/2009, Việt Nam cam kết không hạn chế mức vốn góp trong liên doanh. Thứ hai,
sau 3 năm kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO, nhà cung cấp nước ngoài sẽ được phép
thành lập chi nhánh. Các cam kết nói trên rất “cởi mở”. Tuy nhiên, thực tiễn franchising
quốc tế cho thấy nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thường ít khi cung cấp dịch vụ theo
phương thức hiện diện thương mại. Để tiếp cận thị trường Việt Nam, các nhà cung cấp dịch
15
vụ franchising nước ngoài không vấp phải các điều kiện như điều kiện về quốc tịch; hạn chế
về khu vực bán hàng; điều kiện theo đó phải có luật sư địa phương trong các dịch vụ liên
quan đến giấy tờ pháp lí v.v
- Cũng giống như hầu hết các thành viên khác của WTO, trong cam kết gia nhập WTO, về
cơ bản, Việt Nam không đưa ra rào cản để hạn chế áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia
(NT). Việt Nam cam kết không phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ franchising
nước ngoài và nhà cung cấp dịch vụ franchising trong nước trong việc cung cấp dịch vụ
theo phương thức cung cấp qua biên giới, phương thức tiêu dung ở nước ngoài. Riêng đối
với việc cung cấp dịch vụ theo phương thức hiện diện của thể nhân Việt Nam chưa cam kết,
trừ các cam kết chung. Đối với việc cung cấp dịch vụ theo phương thức hiện diện thương
mại, về cơ bản, Việt Nam cam kết không hạn chế áp dụng nguyên tắc NT cho các nhà cung
cấp dịch vụ nước ngoài, ngoại trừ quy định theo đó trưởng chi nhánh phải là người thường
trú tại Việt Nam.
16
TÁC ĐỘNG_ TMQT
I.TÁC ĐỘNG CỦA AFTA ĐỐI VỚI VIỆT NAM 1
III. Tác động của ACFTA tới quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc: 8

V. Tác động của hiệp định ASEAN – Nhật Bản đến Thương mại VN – NB 12
VI. Hiện diện thương mại 13
VII. Nhượng quyền thương mại (Franchising) 15
TÁC ĐỘNG_ TMQT 17
17

×