Tải bản đầy đủ (.pdf) (98 trang)

Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền và định hướng phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam Luận văn ThS. Luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (707.58 KB, 98 trang )

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

V VN HUN

ĐặC ĐIểM CủA PHáP LUậT
TRONG NHà NƯớC PHáP QUYềN Và định HƯớNG
PHáT TRIĨN HƯ THèNG PH¸P LT VIƯT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2014


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

V VN HUN

ĐặC ĐIểM CủA PHáP LUậT
TRONG NHà NƯớC PHáP QUYềN Và định HƯớNG
PHáT TRIĨN HƯ THèNG PH¸P LT VIƯT NAM
Chun ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TSKH. ĐÀO TRÍ ÚC

HÀ NỘI – 2014



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã
hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tơi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Văn Huân


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT TRONG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN .................................................................................... 7
1.1.

Lịch sử học thuyết Nhà nước pháp quyền ........................................ 7

1.1.1. Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời cổ đại .......................................... 7

1.1.2. Học thuyết tư sản về nhà nước pháp quyền .......................................... 8
1.1.3. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong học thuyết MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.......................................................... 10
1.2.

Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền........ 12

1.2.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền ........................................................ 12
1.2.2. Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền ............................ 12
1.3.

Những quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam XHCN .................................................................... 13

1.4.

Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền ................... 18

1.4.1. Các chuẩn mực quốc tế về đặc điểm của pháp luật trong nhà
nước pháp quyền ................................................................................. 18
1.4.2. Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực pháp luật ........ 18
1.4.3. Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền .......................... 20
Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN NAY.......................................................................................... 32
2.1.

Quan niệm về hệ thống pháp luật .................................................... 32

2.2.

Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam ........................................ 32



2.2.1. Đánh giá khái quát hệ thống pháp luật Việt Nam trước khi có
Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 .................. 32
2.2.2. Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay ............................. 38
2.3.
Đánh giá nguyên nhân của thực trạng hệ thống pháp luật........... 68
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN ........................................................ 72
3.1.
3.2.
3.3.
3.3.1.
3.3.2.
3.3.3.
3.4.
3.4.1.
3.4.2.

3.4.3.
3.5.
3.6.

Phát triển lý luận về pháp luật và hệ thống pháp luật phù hợp
với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN ......... 72
Xây dựng hệ thống pháp luật với đa dạng các nguồn luật............ 75
Nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng pháp luật ...................... 77

Đổi mới việc lập và thơng qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh ....... 77
Hoàn thiện pháp luật về đổi mới quy trình, nâng cao chất lượng
cơng tác xây dựng pháp luật ................................................................. 79
Tăng cường các điều kiện bảo đảm xây dựng pháp luật ..................... 80
Nâng cao chất lượng công tác tổ chức thi hành pháp luật ............ 81
Tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật ............................... 81
Phát triển hệ thống thông tin và phổ biến, giáo dục pháp luật,
tăng cường năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống
pháp luật .............................................................................................. 82
Phát triển hệ thống đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm
công tác pháp luật................................................................................ 83
Thiết lập cơ chế và thiết chế tài phán đối với các vi phạm
Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp ...... 84
Hoàn thiện quy định và thực hiện pháp luật về dân chủ .............. 85

Hoàn thiện quy định và bảo đảm thực thi pháp luật về
quyền con người, nhân đạo hóa vì con người ................................. 86
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 90
3.7.


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHYT:

Bảo hiểm y tế

HĐND:


Hội đồng nhân dân

PBGDPL:

Phổ biến giáo dục pháp luật

QPPL:

Quy phạm pháp luật

UBND:

Ủy ban nhân dân

UBTVQH: Ủy ban thường vụ quốc hội
XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài
Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Nhà
nước Cộng hoà XHCN Việt Nam) đã là nhà nước mang bản chất của nhà
nước kiểu mới, đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tính pháp quyền trong tổ chức, hoạt động của nhà nước đã thể hiện trong
nhiều văn kiện Đảng và thể hiện ngày càng rõ nét hơn phù hợp với từng giai
đoạn cách mạng trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992. Mặc dù
vậy, khái niệm nhà nước pháp quyền mới được Đảng ta chính thức sử dụng

tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ năm 1994, và từ đó đến nay
Đảng ta ln quan tâm chỉ đạo thực hiện và cụ thể hóa trong các văn kiện của
Đảng. Hai mươi năm đã trôi qua nhưng đến nay hệ thống lý luận nghiên cứu
về nhà nước pháp quyền XHCN còn chưa được xây dựng một cách đầy đủ,
toàn diện và khoa học. Nhiều nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam vẫn còn đang trong q trình hồn thiện.
Việc xây dựng và hồn thiện nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là
nhiệm vụ có tính tất yếu trước u cầu đổi mới mạnh mẽ về phương pháp và
tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước
trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng
Nhà nước pháp XHCN Việt Nam là xây dựng phương thức tổ chức nền chính
trị nhằm duy trì và phát huy dân chủ XHCN, làm cho nhà nước thật sự trong
sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và quản lý xã hội.
Cùng với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, hệ thống pháp luật
Việt Nam trong gần ba thập kỷ qua kể từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi
mới đã có sự phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Quy

1


trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới. Nhiều bộ luật,
luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khn khổ pháp lý ngày càng hồn
chỉnh hơn để nhà nước quản lý bằng pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Nguyên tắc pháp quyền từng bước được đề cao và phát huy trên thực
tế. Công tác phổ biến và giáo dục pháp luật được tăng cường đáng kể. Những
tiến bộ đó đã góp phần thể chế hoá đường lối của Đảng, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý điều hành của nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ
vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, do được xây dựng
trên nền tảng của một hệ thống chính trị - pháp lý đặc thù của thời kỳ chuyển
đổi từ nền kinh tế XHCN sang kinh tế thị trường nên nhiều khía cạnh pháp

luật như đặc điểm, cấu trúc, định chế của pháp luật… của Việt Nam cần được
tiếp tục nghiên cứu phát triển và hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà
nước pháp quyền.
Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua chúng ta đã có nhiều cố gắng xây dựng và phát
triển hệ thống pháp luật, song do một số nguyên nhân khác nhau mà hệ thống
pháp luật của chúng ta vẫn chưa toàn diện, thống nhất, chưa đáp ứng được
yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền. Chúng ta cịn có nhiều bất cập trong
cơng tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong công tác tổ
chức thực hiện pháp luật và trong hoạt động kiểm tra, giám sát, rà soát và hệ
thống hóa văn bản quy phạm pháp luật cũng như trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của cán bộ làm công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật cịn hạn chế. Chính vì vậy chất lượng và hiệu quả của pháp luật trong quá
trình điều chỉnh xã hội nói chung cịn chưa cao. Bên cạnh đó, chúng ta đang
từng bước xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN nên đặt ra yêu cầu phải xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống
pháp luật là một tất yếu khách quan.

2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khái niệm nhà nước pháp quyền, hệ thống pháp luật, đặc điểm của
pháp luật là những vấn đề đã được nhiều nhà khoa học luật đề cập với các
cách tiếp cận khác nhau của nhiều chuyên ngành chuyên sâu trong lĩnh vực
pháp luật. Có thể nêu ra một số cơng trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Đề tài nghiên cứu khoa học “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật đáp ứng các yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân, vì dân” do TS. Vũ Đức Khiển làm chủ nhiệm và các đề tài về hoàn
thiện hệ thống pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… do Bộ Tư

pháp thực hiện; Các giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của các trường
đại học chuyên luật (ĐH Luật Hà Nội, ĐH Luật TP.HCM, Khoa luật ĐHQG,
Khoa luật ĐH Vinh, Khoa luật ĐH Huế, Cần Thơ…) cũng đề cập nhiều vấn
đề lý luận về nhà nước pháp quyền, khái niệm pháp luật, đặc điểm của pháp
luật…; Luận án Tiến sĩ luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam” của NCS. Lê Minh Tâm (năm
1992) đã giải quyết khá cơ bản các vấn đề lý luận về hệ thống pháp luật, xây
dựng các khái niệm khoa học và những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá mức độ
hoàn thiện của một hệ thống pháp luật, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề
xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn đầu
của thập kỷ 90 thế kỷ trước; Các cơng trình nghiên cứu, bài viết khác bàn về hệ
thống pháp luật như: “Các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt
Nam” của tác giả Trần Ngọc Đường; “Những vấn đề cơ bản về nhà nước và
pháp luật” của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; “Về khái niệm hiệu
quả pháp luật và những tiêu chí xác định hiệu quả pháp luật” của tác giả Lê
Minh Tâm (đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật tháng 11/2000); Bài viết
“Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp

3


quyền XHCN” của PGS.TS. Hà Hùng Cường (đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp năm 2009); Bài viết “Một số đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết
số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam” của TS. Dương Thị Thanh Mai và ThS. Nguyễn Văn Hiển (đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp năm 2009)…
Các cơng trình nghiên cứu nêu trên đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận về
pháp luật và nêu những bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời
đưa ra các giải pháp nhằm hồn thiện cơng tác xây dựng pháp luật và tổ chức
thi hành pháp luật. Tuy nhiên các cơng trình này đều có điểm chung là nghiên

cứu pháp luật ở các quy phạm, các văn bản luật, các tư tưởng và học thuyết
pháp lý; mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa xây dựng thể chế và tổ chức thi
hành pháp luật... mà chưa đề cập toàn diện và đầy đủ đến đặc điểm của pháp
luật trong nhà nước pháp quyền. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài là yêu
cầu cần thiết góp phần phát triển pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những đặc điểm của pháp luật trong nhà nước
pháp quyền, nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng pháp luật của Việt Nam
trong những năm qua, tác giả đề tài đề xuất giải pháp cơ bản để góp phần phát
triển pháp luật cùng với q trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu lý luận về nhà nước pháp quyền nói chung và Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng, đặc điểm của pháp luật trong nhà
nước pháp quyền.
- Đánh giá thực trạng, nêu nguyên nhân của những tồn tại của hệ thống
pháp luật nước ta.

4


- Xác định phương hướng xây dựng pháp luật cùng với quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về nhà nước pháp quyền và đặc điểm của
pháp luật trong nhà nước pháp quyền, xác định rõ đặc điểm của pháp luật
trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; Đánh giá thực trạng của hệ
thống pháp luật Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp, phương
hướng cơ bản nhằm phát triển hệ thống pháp luật trong quá trình xây dựng

Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là tư tưởng về nhà nước
pháp quyền và pháp luật trong nhà nước pháp quyền. Đồng thời dựa trên quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng ta về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Cơ sở thực tiễn của đề tài là các báo cáo tổng kết, đánh giá về chất
lượng, hiệu quả của hệ thống pháp luật, thực tiễn công tác xây dựng và thi
hành pháp luật ở nước ta trong những năm qua.
Phương pháp nghiên cứu: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp
logic, phương pháp hệ thống, thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp;
phương pháp so sánh và điều tra xã hội.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, làm sâu sắc thêm
về đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền. Từ đó góp phần xây
dựng và phát triển hệ thống pháp luật phù hợp với tiến trình xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

5


Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công
tác nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật, cán bộ công tác tại các cơ quan xây
dựng, bảo vệ pháp luật và học viên, sinh viên ngành luật. v.v…
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn bao gồm: phần mở đầu và 3 chương, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo.


6


Chương 1
ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1. Lịch sử học thuyết Nhà nước pháp quyền
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng dân chủ
đã hình thành ngay từ thời cổ đại. Nội dung tư tưởng đó ln gắn liền với sự
khẳng định chủ quyền nhân dân, lên án sự độc đoán của nhà cầm quyền và
đòi hỏi nhà nước cũng phải phục tùng pháp luật. Các nhà tư tưởng tư sản thế
kỷ 17-18 đã phát triển quan niệm về nhà nước pháp quyền thời cổ đại với
một thế giới quan pháp lý mới và trở thành Học thuyết về nhà nước pháp
quyền. Ngày nay, Học thuyết về Nhà nước pháp quyền ngày càng được bổ
sung và hoàn thiện.
1.1.1. Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời cổ đại
Ở phương Đông cổ đại, tư tưởng chính trị pháp lý tiêu biểu đã chứa
đựng những dấu hiệu của nhà nước pháp quyền. Trong đó, các quan điểm về
pháp luật của Khổng Tử thể hiện rất đặc sắc yếu tố pháp quyền vì đã đề cập
đến nhiều phương diện của pháp luật, có nhiều giá trị tích cực vì pháp luật
được xây dựng trên cơ sở luân lý và đạo đức.
Hàn Phi Tử là người phát triển tư tưởng chính trị pháp lý lên đỉnh cao.
Ơng khẳng định pháp trị là phương pháp duy nhất để quản lý xã hội, các quy
định của pháp luật phải khơng thiên vị ai và phải có sự thay đổi. Tất cả mọi
người đều phải tôn trọng pháp luật, pháp luật phải nghiêm minh và có chế độ
thưởng, phạt đúng đắn.
Ở phương Tây: Hy Lạp, La Mã là nơi phát triển về chính trị, kinh tế và
văn hố nên sớm hình thành tư tưởng về nhà nước pháp quyền. Các nhà tư
tưởng đã đề cập đến vai trò thống trị của pháp luật trong xã hội, tính tối cao,
tính hợp lý của các đạo luật; tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ không phải chỉ đối


7


với cá nhân mà cả nhà nước; pháp luật của nhà nước phải phù hợp với pháp
luật tự nhiên. Tư tưởng chính trị pháp lý ở phương Tây cổ đại còn đề cập đến
việc tổ chức bộ máy nhà nước sao cho hợp lý để tránh sự lạm quyền.
Solon, nhà tư tưởng Hy Lạp (638-559 Tr.CN) đã nêu ý tưởng về nhà
nước pháp quyền khi ông chủ trương cải cách nhà nước bằng việc đề cao vai
trò của pháp luật. Ông đưa ra tuyên bố: “Ta giải phóng tất cả mọi người bằng
quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp giữa sức mạnh với pháp luật”[10].
Heraclit (520-460 Tr. CN) kêu gọi nhân dân “phải đấu tranh bảo vệ pháp luật
như bảo vệ chốn nương thân của mình”[10]. Xocrat (469-399 Tr.CN) đã nêu
quan điểm phục tùng và tôn trọng pháp luật là tơn trọng lý trí, cơng bằng và
giá trị phổ biến, nếu không quyền lực sẽ lạc lối. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại
Platon (427-374 Tr. CN) lại nhấn mạnh đến nguy cơ của sự chà đạp, bất chấp
pháp luật: “Tơi nhìn thấy sự diệt vong của cái nhà nước ở nơi nào mà pháp luật
khơng có sức mạnh và dưới quyền lực của ai đó. Cịn nơi nào mà pháp luật đứng
trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì ở đó
tơi thấy có sự cứu thốt của nhà nước” [8]. Aristote (384-322 Tr. CN) nhấn
mạnh đến tính tối cao của pháp luật trong một nhà nước được tổ chức theo
đúng nghĩa của nó. Ơng cho rằng nhà nước có cơng bằng hay khơng đều phải
gắn với pháp luật, chỉ có pháp luật mới là tiêu chuẩn để điều chỉnh mọi giao
tiếp trong xã hội nên “ở nơi nào khơng có pháp luật thì khơng có hình thức
chế độ nhà nước”[8]...
1.1.2. Học thuyết tư sản về nhà nước pháp quyền
Các nhà tư tưởng tư sản đã tiếp thu và phát triển tư tưởng về nhà nước
pháp quyền từ thời cổ đại, thể hiện thế giới quan pháp lý mới, thể hiện thái độ
chống chế độ chuyên quyền phong kiến, tình trạng vơ pháp luật, pháp luật tàn
bạo, đấu tranh vì một chế độ nhà nước hoạt động trên cơ sở pháp luật và phục
tùng pháp luật. Đồng thời nó khẳng định mạnh mẽ tính nhân đạo, ngun tắc


8


tự do, bình đẳng của cá nhân, bình đẳng trong quan hệ giữa nhà nước và cá
nhân, thừa nhận những quyền của con người không thể bị tước đoạt, đề cao
chủ quyền nhân dân và nguyên tắc phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt
động của nhà nước.
Người đặt nền móng cho sự ra đời Học thuyết về nhà nước pháp quyền
là John Locke (1632-1704), nhà tư tưởng người Anh. Trong mơ hình nhà
nước mà ơng đưa ra, pháp luật có vị trí cao nhất và luật này phải phù hợp với
luật tự nhiên, các quyền tự nhiên và tự do cá nhân được ghi nhận. Quyền lực
nhà nước bao gồm ba loại quyền lập pháp, hành pháp và quyền liên minh, liên
kết, trong đó quyền lập pháp phải là tối cao vì nó có quyền làm ra các đạo luật
có giá trị bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội. Sau khi luật được làm
ra thì ngay chính những người làm ra luật cũng phải tuân theo các đạo luật đó,
nếu cơ quan lập pháp và nhà vua vi phạm pháp luật như vượt quá thẩm quyền
hay lạm dụng quyền lực thì đều có thể dẫn đến sự tan rã của chính quyền.
Các nhà khai sang Pháp, điển hình là Montesquieu và Rousseau đều
nêu lên tư tưởng về nhà nước pháp quyền và tư tưởng phân chia quyền lực
trong các tác phẩm của mình. Montesquieu (1698-1755) với tác phẩm nổi
tiếng “Tinh thần pháp luật” đã xây dựng thuyết phân chia quyền lực trong tổ
chức nhà nước. Theo ơng, tự do chính trị, sự an ninh, an tồn của cơng dân
chỉ có được khi khơng có sự lạm dụng quyền lực. Ở mỗi nhà nước đều có ba
loại quyền, đó là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp và ba
quyền đó được giao cho ba cơ quan khác nhau. Sự phân chia, kìm chế và đối
trọng lần nhau giữa ba quyền là điều kiện chủ yếu bảo đảm tự do chính trị
trong nhà nước và xã hội. Rousseau (1712-1788), người xây dựng học thuyết
về chủ quyền nhân dân cho rằng con người khi thoát ra khỏi trạng thái tự
nhiên với tính năng tự hồn thiện phải liên kết lại với nhau thành xã hội để

bảo vệ quyền tự do vốn có của mình. Để tạo ra sức mạnh chung nhằm bảo vệ

9


mọi thành viên trong xã hội cần phải có một hình thức liên kết giữa con người
với con người, cần có sự thoả thuận giữa nhân dân và nhà nước bằng khế ước
xã hội. Thơng qua đó nhân dân thực hiện quyền của mình bằng cách uỷ quyền
cho các đại biểu trong bộ máy nhà nước. Với sự thoả thuận ấy, con người mất
đi cái tự do tự nhiên, bị hạn chế những điều muốn làm, bù lại họ có quyền tự
do dân sự và quyền sở hữu những cái mà con người có. Nếu nhà nước khơng
đảm bảo được tự do cá nhân, khơng đem lại lợi ích cho xã hội thì người ta có
quyền thoả thuận lại để giành tự do cho mình. Vì vậy, nếu quyền lực nhà
nước được tách ra thành các bộ phận thì chúng vẫn phải phụ thuộc lẫn nhau
mới thực hiện được ý chí chung.
Nhà triết học người Đức, Kant (1724-1804) đã đưa ra lập luận triết học
về nhà nước pháp quyền. Theo ông, nhà nước là tập hợp của nhiều người
cùng phục tùng pháp luật và các đạo luật pháp quyền, bản thân nhà nước cũng
phải phục tùng; nhà nước pháp quyền khơng phải là hiện thực kinh nghiệm
mà là mơ hình lý tưởng cần phải tuân thủ. Heghen (1770-1831) đã đưa ra lập
luận: Cấu trúc của nhà nước pháp quyền với các yếu tố xã hội công dân, trật
tự pháp luật mang tính chất pháp quyền tạo thành.
Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tư
tưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về Nhà nước pháp
quyền như Thomas Jefferson (1743 – 1826, tác giả của Tuyên ngôn độc lập
Mỹ năm 1776), Thomas Paine (1737 - 1809), John Adams (1735 - 1826)…
1.1.3. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong học thuyết Mác- Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh
Khi xây dựng Học thuyết chun chính vơ sản - học thuyết về nhà
nước kiểu mới, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin chưa đề cập

đến khái niệm nhà nước pháp quyền với ý nghĩa đầy đủ. Song lý luận về
pháp chế XHCN, về dân chủ, tự do, công bằng… và pháp luật là công cụ

10


để bảo đảm thực hiện, đã thể hiện được những tư tưởng cốt lõi về nhà nước
pháp quyền.
Ở Việt Nam, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được thể hiện lần đầu
tiên bởi Hồ Chí Minh trong Bản yêu sách gửi đến Hội nghị Vecxay: “Bẩy xin
Hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền” (Việt Nam yêu
cầu ca, 1922). Ngay từ khi còn đang trong quá trình tìm tịi con đường cứu
nước, Hồ Chí Minh đã có những nhận thức sâu sắc về vai trị, ý nghĩa của nhà
nước pháp quyền đối với việc tổ chức và quản lý xã hội. Người chủ trương
sau khi Việt Nam giành được độc lập, chúng ta phải xây dựng một nhà nước
kiểu mới, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân thể hiện ở cả mục đích, nguyên tắc tổ chức lẫn phương
thức hoạt động của nhà nước. Nhà nước đó phải được tổ chức một cách hợp
hiến, hợp pháp, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và quản lý xã hội bằng
pháp luật, thể hiện sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị… Nó phải thực sự là
cơng cụ quyền lực của nhân dân, phản ánh, thực hiện và bảo vệ lợi ích của
nhân dân lao động.
Xây dựng Nhà nước Viê ̣t Nam thành nhà nước của dân , do dân và vì
dân là cố ng hiế n vi ̃ đa ̣i của Người vào kho tàng lý luâ ̣n của chủ nghia Mác
̃

-

Lênin về nhà nước . Sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về n hà nước là từ việc

nghiên cứu kỹ các mơ hình nhà nước trong lịch sử dân tộc cũng như trên thế
giới, Người đã lựa chọn một mơ hình nhà nước phù hợp với thực tế của Việt
Nam. Ngoài ra, trong tư tưởng về xây dựng nhà nước kiểu mới, Hồ Chí Minh
cịn chỉ rõ: Bản chất dân chủ triệt để của nhà nước, sự thống nhất giữa bản
chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước, kết
hợp cả đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội.

11


1.2. Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
1.2.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền
Hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác và thống nhất về nhà nước
pháp quyền. Trong lý luận có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về
nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền luôn được xem là một khái
niệm mới. Tuy nhiên nhìn chung các quan điểm thường nhấn mạnh đến một
trong những yếu tố cơ bản sau đây về nhà nước pháp quyền: Tính tối cao của
luật, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của nhà nước; cơ chế phân chia quyền lực,
kìm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp;
dân chủ, xã hội công dân; quyền con người…
Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà đó là những
giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ, một cách thức
tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Trong đó nhà nước là một tổ
chức cơng quyền được thành lập và hoạt động trên cơ sở pháp luật với mục đích
mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
xã hội công dân, thông qua hệ thống các thể chế và yêu cầu dân chủ như đề cao
quyền làm chủ của nhân dân. Nhà nước đó có cơ chế tổ chức và thực hiện quyền
lực khoa học và hiệu quả, dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội. Hay nói
cách khác: Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước.
1.2.2. Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, có thể nêu những đặc điểm cơ bản về
nhà nước pháp quyền như sau:
- Là nhà nước có hệ thống pháp luật hồn thiện, đảm bảo tính đồng bộ
và thống nhất để thực hiện có hiệu quả việc quản lý xã hội. Pháp luật trong
nhà nước pháp quyền phải giữ vai trị tối thượng, mang tính pháp lý cao,
khách quan, công bằng và nhân đạo và phù hợp với đạo đức xã hội.
- Mối quan hệ giữa nhà nước và cơng dân là bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ. Mọi cá nhân, tổ chức, kể cả nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật.

12


- Quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo đảm thực
hiện. Quyền con người, quyền công dân vừa là bộ phận hợp thành của khái
niệm nhà nước pháp quyền, vừa là mục tiêu, nhiệm vụ của các hoạt động nhà
nước. Để đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp
quyền, cần thiết phải thể chế hố các quyền con người, quyền cơng dân,
khơng chỉ trong Hiến pháp mà còn trong cả một hệ thống pháp luật đồng bộ
và nhất quán.
- Việc tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền phải
đảm bảo nguyên tắc loại bỏ và ngăn ngừa việc độc quyền quyền lực, tức là
quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan và
phải đảm bảo khả năng kiểm soát được quyền lực.
- Nhà nước được phân định với xã hội dân sự và quan hệ chặt chẽ với
xã hội dân sự. Nhà nước phải tôn trọng, đề cao xã hội dân sự, tạo mọi điều
kiện phát huy sức mạnh của mọi thiết chế xã hội nhằm đạt được các mục tiêu
của chế độ dân sự.
- Là nhà nước có trách nhiệm với cộng đồng thế giới, thực hiện các
cam kết quốc tế mà nhà nước là thành viên ký kết hay công nhận.
Những đặc điểm cơ bản nêu trên là tiêu chí để xác định nhà nước pháp

quyền. Trong lý luận chính trị pháp lý cịn có thể nêu thêm nhiều đặc điểm
khác của nhà nước pháp quyền như tính minh bạch, cơng bằng và nhân đạo...
Tựu trung lại, nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước ở trình độ
cao và tính pháp quyền được biểu hiện ở mọi lĩnh vực quan hệ xã hội. Nhà
nước đó có mục đích và nhiệm vụ là vì con người.
1.3. Những quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việt Nam XHCN
Kể từ khi thực hiện cơng cuộc đổi mới tồn diện đất nước năm 1986,
trong nhận thức, Đảng ta đã thấy rõ sự cần thiết phải xây dựng và thực hiện quản

13


lý nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền. Trên cơ sở nhận thức của Đảng,
chúng ta đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1980 và ban hành Hiến pháp 1992. Sau
các lần sửa đổi, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 tiếp tục khẳng định:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm
chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức [17].
Ở nước ta, xây dựng nhà nước pháp quyền tức là xây dựng một phương
thức tổ chức nền chính trị với mục đích là khơng ngừng duy trì bản chất giai
cấp cơng nhân và tính nhân dân của nhà nước, phát huy cao độ tính dân chủ,
làm cho bộ máy nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực
và hiệu quả quản lý và điều hành của nhà nước.
Những quan điểm cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam bao gồm:
- Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân

dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Ở Việt Nam, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà
nước. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân
uỷ quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân.
Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng của
nhân dân. Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là công bộc của nhân dân. Là
nhà nước của dân, do chính nhân dân lập qua thông qua chế độ bầu cử dân
chủ. Bầu cử dân chủ là phương thức thành lập bộ máy nhà nước đã được xác
lập trong nền chính trị hiện đại, đảm bảo tính chính đáng của chính quyền khi
tiếp nhận sự uỷ quyền quyền lực từ nhân dân.

14


Tư tưởng về một nhà nước của dân, do dân, vì dân đã được thể chế hố
thành một mục tiêu hiến định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của chính thể
dân chủ cộng hồ ở nước ta: “Xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt
của nhân dân” (Lời nói đầu - Hiến pháp 1946). Đặc điểm này của Nhà nước ta
tiếp tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân cơng rành mạch và
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp và có sự kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền
lực nhà nước
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội” của Đảng năm 1991 đã khẳng định quan điểm về sự tồn tại của ba quyền
và sự phân công, phối hợp giữa ba phạm vi quyền lực đó của nhà nước trên cơ
sở tiếp thu, kế thừa, phát triển, vận dụng vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt
Nam các tri thức của nhân loại và trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Đến
Hội nghị Trung ương lần thứ tám (Khoá VII, 1995) quan niệm của Đảng về ba
quyền đã được sự bổ sung: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân cơng

và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nghị quyết đại hội XI và Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
đều có bổ sung quan tâm vấn đề kiểm soát quyền lực trong cơ chế tổ chức
quyền lực nhà nước ở nước ta. Theo đó nguyên tắc quyền lực nhà nước là
thống nhất có sự phân cơng, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được hoàn thiện một bước quan
trọng. Quan điểm về sự thống nhất quyền lực nhà nước, có sự phân cơng, phối
hợp, kiểm soát chặt chẽ giữa ba quyền và quyền lực nhà nước là một quan điểm
có tính ngun tắc chỉ đạo trong thiết kế mơ hình tổ chức Nhà nước pháp
quyền Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

15


- Nhà nước pháp quyền Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến
pháp và pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của Hiến pháp, pháp luật trong
đời sống xã hội đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức
Trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, ý chí của nhân dân và sự lựa
chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất
bằng Hiến pháp. Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý
cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hố, xã hội, quốc phịng, an
ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Pháp luật là kết quả của sự thể chế hoá đường lối, chính sách của
Đảng trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, xã hội. Pháp luật thể hiện ý
chí và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc
đẩy tiến bộ xã hội nên pháp luật phải là phương thức quan trọng đối với tính
chất và hoạt động của nhà nước và là thước đo giá trị phổ biến của xã hội:
công bằng, dân chủ, bình đẳng và vì con người. Nhà nước pháp quyền phải

có một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm
cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật. Pháp luật thể chế hoá các nhu cầu
quản lý xã hội, là hình thức tồn tại của các cơ cấu và tổ chức xã hội và của
các thiết chế nhà nước. Vì vậy, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp
luật là lối sống có trật tự và lành mạnh nhất của xã hội. Tất cả các cơ quan
nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải nghiêm
chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
Trong quản lý xã hội, muốn cho pháp luật được người dân tơn trọng và
tự giác thực hiện thì pháp luật phải được bảo vệ, phải thể hiện được những giá
trị đạo đức. Do vậy quản lý xã hội bằng pháp luật kết hợp với giáo dục, nâng
cao đạo đức cũng là một tất yếu khách quan, xuất phát từ chính địi hỏi từ

16


thực tế. Nhà nước pháp quyền thượng tôn pháp luật nhưng khơng loại trừ đạo
đức vì pháp luật trong nhà nước pháp quyền suy cho cùng là hướng tới giá trị
nhân đạo, cơng bằng, tất cả vì mục đích phục vụ con người.
- Nhà nước pháp quyền Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người,
các quyền và tự do của công dân, nâng cao trách nhiệm giữa nhà nước và
công dân, giữa nhà nước và xã hội
Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân, mở rộng dân chủ,
nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, giữa công dân với
Nhà nước luôn được Đảng ta dành sự quan tâm đặc biệt. Đảng ta đã xác định
nguyên tắc: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước
ta; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, quyền làm chủ đó
được thể chế hố bằng pháp luật; dân chủ đi đôi với kỷ cương, kỷ luật; xây
dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.
Thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện,

làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng việc xây dựng và
thực hiện các quy ước, hương ước tại cơ sở. Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi
mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và
thực hiện các quyết định.
- Nhà nước pháp quyền Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đời sống xã hội và
đời sống nhà nước không những không trái với bản chất nhà nước pháp quyền
nói chung mà cịn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây
dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở nước ta.
Đối với Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị, quyết
định phương hướng chính trị của Nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự

17


là tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân, thực sự của dân, do dân và vì
dân, để thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước. Nhà nước triển
khai tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng bằng các hoạt
động quản lý nhà nước, tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia
quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Những quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN
thể hiện sự sáng tạo của Đảng ta trong việc tiếp thu tính phổ biến, những giá
trị chung của nhân loại về nhà nước pháp quyền vận dụng vào hoàn cảnh đặc
thù của nước ta.
1.4. Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền
1.4.1. Các chuẩn mực quốc tế về đặc điểm của pháp luật trong nhà
nước pháp quyền
- Đặc điểm cơ bản nhất của pháp luật trong nhà nước pháp quyền là sự
hiện diện của pháp luật trong đời sống xã hội với tư cách là ý chí của nhân
dân - cơ sở của một xã hội có trật tự pháp định dựa trên sự áp dụng phổ biến

của một hệ thống pháp luật.
- Về mặt hình thức pháp lý, sự ngự trị pháp luật phải đảm bảo sự ràng
buộc bởi pháp luật đối với nhà nước (là cơng cụ để giới hạn, kiểm sốt chính
quyền bằng pháp luật), xã hội và mọi cơng dân. Nói cách khác, đó là một nhà
nước gắn chặt với pháp luật và được hợp pháp hóa bởi pháp luật.
- Về nội dung pháp lý, pháp luật phải mang tính pháp quyền, đảm bảo
yêu cầu khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội.
- Pháp luật mang tính cơng bằng, trở thành đại biểu của công lý, là sự
tồn tại hiện hữu của ý chí tự do; được thực hiện nghiêm minh, được bắt nguồn
từ bản chất lý trí của con người; pháp luật được sử dụng vì con người.
1.4.2. Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực pháp luật
Xu hướng thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Đặc

18


biệt cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế năm 2008-2009 đã làm bộc lộ những
vấn đề toàn cầu mới, buộc các quốc gia và các cộng đồng quốc tế phải có
những hợp tác mới để đối phó giải quyết. Nền kinh tế và chính trị thế giới
đứng trước thay đổi mới kế cả trong tư duy chiến lược và trong các hành động
thực tiễn của các quốc gia. Thay đổi đang là một xu thế tất yếu và là phương
châm hành động của nhiều quốc gia phát triển. Chính những thay đổi đã và
đang diễn ra tại các nước phát triển và trong các cộng đồng chính trị, kinh tế,
quốc tế đang tác động mạnh mẽ đến các quốc gia đang phát triển trong đó có
Việt Nam. Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu vào đời sống quốc tế
và có vai trị ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Do vậy,
Việt Nam phải chủ động để thích ứng với những thay đổi đang diễn ra mạnh
mẽ trên thế giới và đối phó thành công với những thách thức nảy sinh từ
những thay đổi này đối với con đường phát triển của đất nước. Hội nhập quốc
tế và khu vực là một trong những điều kiện quan trọng để Việt Nam phát triển

và nâng cao vị thế quốc tế của mình. Sự hội nhập phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng.
Để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN, bảo đảm công bằng xã
hội và phát huy dân chủ, càng đòi hỏi chúng ta phải quán triệt phương châm
quản lý xã hội bằng pháp luật, phải dựa vào pháp luật, nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật, đảm bảo thắng lợi của quá trình đổi mới. Đặc biệt, hiện nay
xây dựng nhà nước pháp quyền là một tất yếu khách quan trên con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhằm tăng cường pháp chế XHCN và
quản lý xã hội bằng pháp luật. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
cần phải đề cao pháp luật, kỷ cương để đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất từ
một khung pháp lý hoàn thiện duy trì được sự hợp tác trong cạnh tranh, đảm
bảo nền kinh tế phát triển đúng định hướng và yêu cầu quản lý xã hội. Quản
lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm bảo đảm

19


×