Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Bản Full Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong Luật hình sự Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (747.51 KB, 103 trang )


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT




NGUYN TH THO



Tội thiếu trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà n-ớc trong luật hình sự Việt Nam





LUN VN THC S LUT HC






H NI - 2015

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT





NGUYN TH THO


Tội thiếu trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà n-ớc trong luật hình sự Việt Nam


Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04


LUN VN THC S LUT HC



Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. TRNH QUC TON


H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong

Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn


Nguyễn Thị Thảo








MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI THIẾU TRÁCH
NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN
CỦA NHÀ NƯỚC 8

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong luật
hình sự Việt Nam 8
1.1.1. Khái niệm về sở hữu nhà nƣớc, tài sản của Nhà nƣớc 8
1.1.2. Khái niệm về tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến
tài sản của Nhà nƣớc 12
1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nƣớc trong luật hình sự Việt Nam 15
1.2. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội thiếu trách nhiệm gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 15
1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trƣớc khi ban
hành bộ luật hình sự năm 1985 15
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến trƣớc khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999 18
1.2.3. Giai đoạn từ khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999 đến nay 20
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 22
Chương 2: CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ, ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ ĐỐI VỚI
TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM
TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC THEO BỘ LUẬT
HÌNH SỰ NĂM 1999 23

2.1. Các dấu hiệu pháp lý của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 23
2.1.1. Khách thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến
tài sản của Nhà nƣớc 24
2.1.2. Mặt khách quan của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản của Nhà nƣớc 27
2.1.3. Chủ thể của tội phạm thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản của Nhà nƣớc 31
2.1.4. Mặt chủ quan của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản của Nhà nƣớc 34

2.2. Đường lối xử lý đối với người thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nước theo bộ luật hình sự năm 1999 40
2.2.1. Phạm tội thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng 41
2.2.2. Phạm tội thuộc trƣờng hợp nghiêm trọng 43
2.2.3. Phạm tội thuộc trƣờng hợp rất nghiêm trọng 44
2.2.4. Hình phạt bổ sung 44
2.3. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến
tài sản của Nhà nước với một số tội phạm theo quy định của bộ
luật hình sự năm 1999 45
2.3.1. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
(Điều 145 BLHS) 45
2.3.2. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc với tội cố ý làm trái quy định của Nhà nƣớc về quản lý
kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 BLHS) 47
2.3.3. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của
Nhà nƣớc (Điều 144 BLHS) với tội Tham ô tài sản (Điều 278 BLHS) 50
2.3.4. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
(Điều 285 BLHS) 59
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 62

Chương 3: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH
PHÒNG CHỐNG TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT
HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC 64
3.1. Thực trạng xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nước 64
3.1.1. Tình hình xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến
tài sản của Nhà nƣớc 64

3.1.2. So sánh thực trạng xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nƣớc với tội phạm chung, tội phạm xâm
phạm sở hữu và nhóm tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tƣ lợi 67
3.1.3. Những tồn tại, hạn chế qua thực tiễn xử lý tội thiếu trách nhiệm gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc 70
3.1.4. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong xét xử tội thiếu trách
nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc 75
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật, hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội
thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của
Nhà nước 83
3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác
đấu tranh phòng chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nƣớc 83
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội thiếu trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc 85
3.2.3. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và trình độ
chuyên môn của cán bộ thực hiện công tác điều tra, truy tố, xét xử tội
thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc 86
3.2.4. Đẩy mạnh công tác giám sát, quản lý tài sản công, chống lãng phí, thiệt
hại đến tài sản của Nhà nƣớc và nâng cao trình độ của cán bộ quản lý 88
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật dân sự
BLHS: Bộ luật hình sự
LHS: Luật hình sự
PLHS: Pháp luật hình sự




DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1:
Thống kê số liệu thụ lý sơ thẩm hình sự tội thiếu
trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc giai đoạn 2010-2014
65
Bảng 3.2:
Thống kê số liệu xét xử sơ thẩm hình sự tội thiếu
trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc giai đoạn 2010-2014
66
Bảng 3.3:
Tỷ lệ xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến
tài sản của Nhà nƣớc so với tỷ lệ xét xử của tội
phạm chung và các tội xâm phạm sở hữu
68
Bảng 3.4:
Các tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tƣ lợi
69



1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự những năm gần
đây cho thấy tình hình tội phạm của nhóm tội xâm phạm sở hữu có nhiều diễn
biến phức tạp, gây ra nhiều hậu quả và tác hại lớn cho xã hội, ảnh hƣởng
nghiêm trọng đến lợi ích của cá nhân của nhƣ của Nhà nƣớc. Loại tội phạm
này không chỉ tăng nhanh về số lƣợng mà còn tăng nhanh cả về đối tƣợng
phạm tội. Tình trạng đó đã và đang gây ra không ít những khó khăn, thách
thức đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án cũng nhƣng trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội
phạm, đảm bảo phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp
thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan ngƣời vô tội
để góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, bảo
vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Nhìn chung, các cơ quan tố tụng trong quá trình áp dụng quy định của
các điều luật thuộc Chƣơng XIV - Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình
sự (BLHS) năm 1999 đều thuận lợi nên kết quả điều tra, truy tố, xét xử đối
với loại tội phạm trong thời gian qua từng bƣớc đƣợc nâng cao, số lƣợng các
vụ án xâm phạm sở hữu đƣợc đƣa ra xét xử tƣơng đối lớn so với tội phạm nói
chung. Riêng đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài
sản của Nhà nƣớc đƣợc quy định tại Chƣơng XIV BLHS năm 1999, trong giai
đoạn từ 2010 đến 2014 Tòa án cấp sơ thẩm trong cả nƣớc thụ lý giải quyết 19
vụ với 31 bị cáo, chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng số án cũng nhƣ bị cáo của
nhóm tội xâm phạm sở hữu cần phải giải quyết. Mặc dù số lƣợng án về tội
thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc hàng
năm xảy ra không nhiều nhƣng lại có một số vụ án gây thiệt hại lớn đến tài

2
sản của Nhà nƣớc, gây bất bình trong nhân dân, tạo dƣ luận xấu và làm cho

lòng tin của nhân dân đối với những ngƣời làm công tác quản lý tài sản cũng
nhƣ đối với trình độ của những ngƣời này.
Do tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, thực tiễn áp dụng
quy định đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc còn gặp nhiều bất cập nên trong một số vụ án cụ thể đã có tình
trạng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng có nhận thức
khác nhau về việc định tội cũng nhƣ định khung hình phạt khi tiến hành xử lý
hình sự đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài
sản của Nhà nƣớc. Cá biệt, có trƣờng hợp còn nhầm lẫn trong việc xác định
tội danh, áp dụng không đúng pháp luật, không phân biệt đƣợc sự khác nhau
giữa tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà
nƣớc với một số tội phạm khác trong BLHS năm 1999.
Vì vậy, để làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự, nhận diện đầy đủ
và hiểu sâu sắc hơn các vấn đề lý luận cũng nhƣ thực tiễn điều tra, truy tố,
xét xử đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc trong giai đoạn từ 2010 đến 2014, trên cơ sở đó tìm giải pháp
hoàn thiện về mặt lập pháp hình sự cũng nhƣ giải pháp thực tiễn nhằm hoàn
thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm là một việc làm cần thiết nên học viên đã quyết định chọn
nghiên cứu đề tài: “Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến
tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ
luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà
nƣớc đã đƣợc nghiên cứu và đề cập trong các Giáo trình LHS Việt Nam của
các cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật học nhƣ: Khoa Luật, trƣờng Đại học

3
quốc gia Hà Nội; trƣờng Đại học Luật Hà Nội; Viện Nhà nƣớc và pháp luật
thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và một số cơ sở đào tạo khác…

Dƣới góc độ khoa học pháp lý hình sự, việc nghiên cứu tội thiếu trách
nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc chƣa đƣợc quan
tâm nghiên cứu mà chỉ đƣợc đề cập, bình luận chung trong các giáo trình đƣợc
giảng dạy ở các cơ sở đào tạo đại học và đƣợc một số các tác giả nghiên cứu
chung trong nhóm tội xâm phạm sở hữu nhƣ: Giáo trình LHS Việt Nam (Phần
các tội phạm), Khoa luật- Đại học Quốc Gia Hà Nội, do GS.TSKH Lê Cảm
chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001; Giáo trình LHS Việt Nam (Tập
II) do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2010; TS. Nguyễn Đức Mai (chủ biên), Chương XIV- Các tội xâm phạm sở
hữu, Trong sách: Bình luận khoa học BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2013,
phần các tội phạm, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013; TS.
Nguyễn Mai Bộ, Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS 1999 được sửa đổi bổ
sung năm 2009, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010;
Th.s Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học BLHS năm 1999 (Phần các tội phạm),
Tập II- "Các tội xâm phạm sở hữu", Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tái
bản 2010. Ngoài ra, còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học cũng chỉ
có một số bài viết đơn lẻ đề cập đến nhóm tội xâm phạm sở hữu nhƣ “Hoàn
thiện các quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu” Tạp chí Tòa án
nhân dân tháng 1/2009, PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh và Tội thiếu trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc trong hoạt động ngân
hàng, Tạp chí Ngân hàng tháng 11/2009, Ls Phan Văn Lãng…
Dƣới góc độ đề tài luân văn thạc sĩ, luận án tiễn sĩ luật học: đối với tội
thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc thì
chƣa có công công trình khoa học nào đề cập đến mà chỉ có một số luận văn
thạc sĩ nghiên cứu về một số tội danh cụ thể khác trong nhóm tội xâm phạm

4
sở hữu và có luận văn tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Chí, Viện Nhà nƣớc và
pháp luật, Hà Nội năm 2000 với đề tài “Trách nhiệm hình sự đối với các tội
xâm phạm sở hữu”.

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã từng bƣớc nhận diện và làm rõ
một số vấn đề về khái niệm, đặc trƣng cơ bản của tội thiếu trách nhiệm gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc. Tuy nhiên các tác giả của
các công trình nghiên cứu này chƣa phân tích sâu về lý luận cũng nhƣ thực
tiễn áp dụng và đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy
định của BLHS năm 1999 về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản của Nhà nƣớc. Có thể khẳng định việc nghiên cứu về tội thiếu
trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc dƣới góc độ
một luận văn thạc sĩ luật học là có tính thời sự và cấp thiết vì cho đến nay
chƣa có một công trình nào đề cập riêng đến tội thiếu trách nhiệm gây thiệt
hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc một cách hệ thống các vấn đề
pháp lý, lý luận và thực tiễn điều tra, tuy tố, xét xử.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, đối tƣợng và phạm
vi nghiên cứu của luận văn tập trung khái quát lịch sử hình thành và phát triển
tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc từ
sau Cách mạng Tháng tám 1945 đến nay; làm sáng tỏ những vấn đề lý luận,
các dấu hiệu pháp lý đặc trƣng và đƣờng lối xử lý đối với tội thiếu trách
nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc, phân tích thực
tiễn xét xử trong những năm gần đây với tƣ cách là một tội phạm trong
chƣơng các tội xâm phạm sở hữu của BLHS.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, làm sáng tỏ

5
một cách có hệ thống những vấn đề về lập pháp, lý luận về tội thiếu trách
nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc và việc áp dụng
các quy định này trong thực tiễn, từ đó xác định những bất cập trong việc áp
dụng các quy định. Đồng thời nghiên cứu thực trạng tội phạm về tội thiếu

trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc để đề xuất
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác điều tra, truy tố, xét xử,
gióp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, nhiệm vụ đầu tiên là phân tích các căn cứ
về mặt pháp lý, lý luận và thực tiễn xét xử, xác định bản chất, dấu hiệu pháp
lý đặc trƣng của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc, đƣờng lối xử lý hình sự, qua đó so sánh với một số tội phạm
đƣợc quy định tại BLHS năm 1999.
Mục đích tiếp theo là nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng quy phạm
PLHS về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà
nƣớc trong năm năm từ 2010 đến 2014, đồng thời phân tích những hạn chế
trong việc áp dụng pháp luật.
Mục đích cuối cùng là từ cơ sở lý luận và thực tiễn điều tra, truy tố, xét
xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc,
Luận văn đƣa ra một số kiến nghị, đề xuất dƣới góc độ hoàn thiện pháp luật
hình sự, đƣờng lối xử lý và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
đấu tranh phòng, chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến
tài sản của Nhà nƣớc.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của Luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin,

6
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm và định hƣớng của Đảng và Nhà nƣớc ta về
chính sách hình sự, quan điểm, đƣờng lối xử lý các tội xâm phạm sở hữu
trƣớc yêu cầu mới.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng phƣơng pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac- Lê nin. Các phƣơng

pháp của khoa học LHS, tội phạm học, khoa học thống kê tƣ pháp, khoa học
lịch sử, so sánh kết hợp với phân tích xã hội học, phƣơng pháp quy nạp, diễn
dịch đƣợc sử dụng linh hoạt trong nghiên cứu.
6. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Luận văn hệ thống một cách toàn diện và đầy đủ những vấn đề lý luận
và thực tiễn của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc theo LHS Việt Nam và đánh giá thực tiễn xét xử trong thời
gian năm năm trên phạm vi cả nƣớc. Góp phần bổ sung sung và hoàn thiện lý
luận về tội phạm đối với các tội phạm cụ thể trong LHS Việt Nam, nhất là các
tội xâm phạm sở hữu. Do đó, luận văn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần
thiết cho các nhà khoa học, luật gia, các sinh viên, học viên cao học và nghiên
cứu sinh chuyên ngành tƣ pháp hình sự.
6.2. Về mặt thực tiễn
Qua việc phân tích các dấu hiệu pháp lý hình sự, luận văn góp phần xác
định cụ thể dấu hiệu của tội phạm thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nƣớc khi đánh giá hành vi phạm tội cũng nhƣ định
tội danh đối với loại tội phạm này. Đồng thời những kiến nghị hoàn thiện
pháp luật góp phần đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tƣ pháp hiện nay
cũng nhƣ đảm bảo việc áp dụng thống nhất pháp luật trong cả nƣớc.

7
7. Kết cấu của Luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài
liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc trong LHS Việt Nam.
Chương 2: Các dấu hiệu pháp lý, đƣờng lối xử lý và thực tiễn xét xử
tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
của Nhà nƣớc.

Chương 3: Thực trạng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng
cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội thiếu trách
nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc.







8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM
GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm về sở hữu nhà nước, tài sản của Nhà nước
Sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan, xuất hiện và
phát triển song song cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Khi nói về
sở hữu thì các hình thức sở hữu luôn là vấn đề đƣợc quan tâm bởi hình thức
sở hữu là sự phản ánh ra bên ngoài nội dung của một chế độ sở hữu nhất định
mà trong một xã hội dù dƣới bất kì một hình thức tổ chức thể chế nào cũng
phải xác định một chế độ sở hữu nhất định. Từ sự “định hƣớng” của Hiến
pháp năm 1992 về chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, Chƣơng XIII, Bộ
luật dân sự năm 2005 thì Nhà nƣớc ta có 06 hình sở hữu, bao gồm sở hữu Nhà
nƣớc; sở hữu tập thể; sở hữu tƣ nhân; sở hữu chung; sở hữu của các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị- xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội- nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp. Mỗi hình thức sở hữu có
các chế độ pháp lý đặc trƣng và có vai trò nhất định, trong đó sở hữu Nhà

nƣớc giữ vai trò chủ đạo trong các hình thức sở hữu, là nền tảng của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Chế độ sở hữu và hình thức sở hữu cũng đƣợc Hiến
pháp năm 2013 ghi nhận cụ thể.
Theo quy định tại Điều 220 đến Điều 207 BLDS năm 2005 thì Nhà
nƣớc là chủ sở hữu đối với tài sản của chế độ sở hữu toàn dân, Nhà nƣớc
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngƣời đại diện cho nhân dân quản lý,
nắm giữ những tƣ liệu sản xuất. Nhà nƣớc thực hiện quyền chiếm hữu, sử
dụng và định đoạt đối với tài sản đó.

9
Một vấn đề quan trọng của sở hữu nhà nƣớc đó là quyền sở hữu Nhà
nƣớc. Quyền sở hữu Nhà nƣớc hiểu theo nghĩa khách quan là tổng hợp các
quy phạm pháp luật nhằm:
- Xác nhận việc chiếm hữu của Nhà nƣớc đối với những Tƣ liệu sản
xuất chủ yếu, quan trọng nhất.
- Quy định về nội dung và trình tự thực hiện các quyền năng chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản Nhà nƣớc.
- Xác định phạm vi, quyền hạn của các cơ quan Nhà nƣớc, các doanh
nghiệp do Nhà nƣớc thành lập trong việc quản lý nghiệp vụ những tài sản do
Nhà nƣớc giao theo quy định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm
vụ kinh doanh, quản lý hoặc hoạt động công ích.
Theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu Nhà nƣớc đƣợc hiểu là toàn bộ
những hành vi mà Nhà nƣớc - với tƣ cách chủ sở hữu - thực hiện các quyền
năng cụ thể về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của mình Nhà
nƣớc “là chủ” đối với các tƣ liệu sản xuất chủ yếu và cũng tự quy định các
quyền năng, nhƣng không có nghĩa là quyền hạn của Nhà nƣớc là vô tận đối
với tài sản mà Nhà nƣớc là chủ sở hữu. Nhà nƣớc cũng nhƣ các chủ thể khác
chỉ thực hiện quyền của chủ sở hữu trong phạm vi pháp luật cho phép.
Nhà nƣớc là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu Nhà nƣớc,
Nhà nƣớc tham gia quan hệ quyền sở hữu với tƣ cách là chủ thể đặc biệt và là

chủ thể duy nhất đối với các tƣ liệu sản xuất. Nhà nƣớc đại diện cho nhân dân
nắm và quản lý toàn bộ tài sản thuộc sở hữu toàn dân đồng thời nắm toàn bộ
quyền lực chính trị. Nhà nƣớc giao tài sản cho các doanh nghiệp Nhà nƣớc,
cơ quan Nhà nƣớc, đơn vị vũ trang quyền quản lí, sử dụng đúng mục đích
theo quy định của pháp luật và thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản
lý, sử dụng tài sản đó.
Tài sản của Nhà nƣớc rất đa dạng, tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992,

10
Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 200 Bộ luật dân sự năm 2005 liệt kê
khá rõ những loại tài sản này:
Hiến pháp 1992:
Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong lòng
đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài
sản do Nhà nƣớc đầu tƣ vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành
và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao,
quốc phòng, an ninh cùng các loại tài sản khác mà pháp luật quy định
là của Nhà nƣớc, đều thuộc sở hữu toàn dân [23, Điều 17].
Hiến pháp năm 2013:
Đất đai, tài nguyên nƣớc, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở
vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do
Nhà nƣớc đầu tƣ, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý [28, Điều 53].
BLDS năm 2005:
Tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nƣớc bao gồm đất đai,
rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách Nhà nƣớc,
núi, sông hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự
nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản
do Nhà nƣớc đầu tƣ vào doanh nghiệp, công trình thuộc các
ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật,

ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp
luật quy định [26, Điều 200].
Khái niệm về tài sản của Nhà nƣớc cũng đƣợc quy định cụ thể tại Nghị
định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06-03-1998 của Thủ tƣớng Chính phủ:
Tài sản Nhà nƣớc là những tài sản đƣợc hình thành từ nguồn
ngân sách Nhà nƣớc hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nƣớc, tài
sản đƣợc xác lập quyền sở hữu của Nhà nƣớc theo quy định của

11
pháp luật, đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong
lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời.
1. Tài sản Nhà nƣớc khu vực hành chính sự nghiệp là những
tài sản Nhà nƣớc giao cho các cơ quan Nhà nƣớc, các đơn vị sự
nghiệp, các đơn vị lực lƣợng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp quản
lý và sử dụng gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các phƣơng tiện giao thông vận tải, trang thiết bị làm việc
và các tài sản khác.
2. Tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng,
lợi ích quốc gia bao gồm:
a) Hệ thống các công trình giao thông vận tải;
b) Hệ thống các công trình thủy lợi;
c) Hệ thống chiếu sáng, cấp thoát nƣớc;
d) Các công trình văn hoá;
đ) Các công trình kết cấu hạ tầng khác.
3. Tài sản Nhà nƣớc tại doanh nghiệp.
4. Tài sản đƣợc xác lập sở hữu của Nhà nƣớc theo qui định

của pháp luật, bao gồm:
a) Tài sản là tang vật, phƣơng tiện vi phạm pháp luật bị tịch
thu sung quĩ Nhà nƣớc và tiền phạt do vi phạm pháp luật;
b) Tài sản bị chôn dấu, chìm đắm đƣợc tìm thấy; tài sản bị
đánh rơi, bỏ quên, vắng chủ, vô chủ và các tài sản khác theo qui
định của pháp luật là tài sản Nhà nƣớc;
c) Tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc biếu, tặng,

12
đóng góp và các hình thức chuyển giao quyền sở hữu tài sản khác
cho Nhà nƣớc, tài sản viện trợ của Chính phủ, tổ chức phi Chính
phủ nƣớc ngoài và các tổ chức quốc tế khác.
5. Tài sản dự trữ Nhà nƣớc.
6. Đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong
lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời (sau đây
gọi chung là đất đai, tài nguyên thiên nhiên khác) [29].
1.1.2. Khái niệm về tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản của Nhà nước
Chế định quan trọng và chủ yếu trong LHS chính là chế định về tội
phạm. Tội phạm nói chung đƣợc các nhà làm luật ghi nhận và đƣợc quy
định tại Điều 8 BLHS năm 1999, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009 với khái
niệm nhƣ sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định
trong BLHS, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của
công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã

hội chủ nghĩa [25, Điều 8].
Xuất phát từ khái niệm chung về tội phạm mang tính định hƣớng này,
khái niệm tội phạm đƣợc các nhà khoa học khái quát là “là hành vi nguy hiểm
cho xã hội, trái pháp luật hình sự (tức là hành vi bị LHS cấm), do người có
năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện
một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)”

3, tr.297.

13
Theo quan điểm của tác giả luận văn cho rằng, tội phạm có 5 dấu hiệu
đặc trƣng bao gồm: tính nguy hiểm cho xã hội; tính trái pháp luật hình sự;
tính có năng lực trách nhiệm hình sự; tính đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và
tính có lỗi. Với cách tiếp cận này thì tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc cũng có 05 đặc trƣng cơ bản đó là:
hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc
là hành vi nguy hiểm cho xã hội; hành vi đó bị LHS cấm, nếu thực hiện hành
vi này là trái với pháp luật hình sự; hành vi này phải do ngƣời có năng lực
trách nhiệm hình sự thực hiện; ngƣời thực hiện hành vi phạm tội phải đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự và cuối cùng hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản phải là hành vi có lỗi với lỗi vô ý.
Theo quy định tại Điều 144 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm
2009 thì điểm đặc trƣng để hình thành khái niệm về tội thiếu trách nhiệm gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc gồm ba yếu tố chính đó: do
ngƣời có trách nhiệm trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nƣớc;
do thiếu trách nhiệm và cuối cùng là gây thiệt hại nghiêm trọng.
Nhƣ vậy, trƣớc hết ngƣời thực hiện tội phạm là ngƣời có trách nhiệm
“trực tiếp quản lý”, tức là ngƣời này phải đƣợc giao nhiệm vụ quản lý trực
tiếp đối với tài sản, có trách nhiệm duy trì sự toàn vẹn của tài sản Nhà nƣớc
mà mình đảm nhận. Đây chính là dấu hiệu về chủ thể đặc biệt của tội Thiếu

trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc, không phải
mọi trƣờng hợp gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nƣớc đều đƣợc xem là phạm
tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nƣớc.
Thứ hai là do ngƣời có trách nhiệm quản lý đã không làm hoặc làm
không đúng nhiệm vụ của mình. Theo từ điển Tiếng Việt thì “trách nhiệm” là
“phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải đảm bảo làm
tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” [19, tr.985].

14
Nhƣ vậy, thiếu trách nhiệm là hành vi không làm hoặc làm không hết yêu cầu
nhiệm vụ đƣợc giao.
Thứ ba là hậu quả của hành vi thiếu trách nhiệm gây ra thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản. Ngƣời đƣợc giao nhiệm vụ đã không làm hết trách nhiệm
đƣợc giao gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc. Nếu không
có thiệt hại hoặc thiệt hại không liên quan đến tài sản thì không bị coi là có
hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.
Về quan điểm khoa học, khái niệm về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt
hại nghiêm trọng về tài sản của Nhà nước” đƣợc một số Tác giả đề cập trong
các sách báo pháp lý, về hình thức thì có sự khác nhau nhƣng cơ bản là đều
thống nhất với nhau về bản chất của loại tội phạm này.
Tác giả Nguyễn Mai Bộ có quan điểm: “Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt
hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là hành vi thiếu trách nhiệm làm
mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà
nước thực hiện một cách vô ý” [2, tr.349].
Tác giả Đinh Văn Quế có đƣa ra định nghĩa:
“Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà
nước là hành vi không làm hoặc làm không hết trách nhiệm nên đã để mất
mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
do mình trực tiếp quản lý” [20, tr. 309].
Trên cơ sở các đặc điểm vừa phân tích và dựa vào khái niệm chung về

tội phạm có thể đƣa ra khái niệm sau: Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định tại Điều 144 BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ
tuổi chịu trách nhiệm hình sự được giao nhiệm vụ quản lý tài sản của Nhà
nước nhưng đã không làm hoặc không làm hết trách nhiệm gây thiệt nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nước do mình trực tiếp quản lý.

15
1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam
BLHS năm 1999 đã quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nƣớc tại Điều 144 của Chƣơng XIV - Các tội xâm
phạm sở hữu, điều này có ý nghĩa rất quan trọng và đƣợc thể hiện nhƣ sau:
Ý nghĩa đầu tiên là tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc áp dụng
thống nhất pháp luật của các cơ quan tƣ pháp hình sự cũng nhƣng cuộc đấu
tranh phòng, chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài
sản của Nhà nƣớc.
Thứ hai, việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản của Nhà nƣớc có ý nghĩa trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm
của cán bộ công chức khi thực hiện nhiệm vụ của mình trong khi đƣợc giao
quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nƣớc.
Thứ ba, thể hiện tầm quan trọng của tài sản Nhà nƣớc đối với sự tồn tại
và phát triển của đất nƣớc, cần đƣợc bảo vệ bởi pháp luật hình sự.
1.2. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội thiếu trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Qua nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm
phạm sở hữu nói chung và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản của Nhà nƣớc nói riêng, có thể chia thành các giai đoạn sau đây:
1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước
khi ban hành bộ luật hình sự năm 1985

Cách mạng thành công, Nhà nƣớc mới thành lập phải đối phó với thù
trong giặc ngoài và hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nƣớc còn khó
khăn, để giải quyết các vụ án hình sự, Nhà nƣớc ta đã ban hành Sắc lệnh số
47-SL ngày 10-10-1945 tạm thời giữ lại các luật lệ tại miền Bắc, Trung, Nam
Bộ cho đến khi ban hành các văn bản pháp luật thống nhất trong toàn quốc.

16
Để bảo vệ chính quyền mới, Sắc lệnh 47 quy định: “Những điều khoản trong
các luật lệ cũ được tạm thời giữ lại do sắc lệnh này chỉ được thi hành khi nào
không trái với nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dân
chủ cộng hòa” [7]. Sắc lệnh số 47 đƣợc ban hành kịp thời đã hạn chế tới mức
thấp nhất sự xáo trộn trong đời sống và quan hệ thƣờng nhật của nhân dân,
góp phần ổn định xã hội. Trong giai đoạn này Nhà nƣớc cũng ban hành một
số Sắc lệnh quy định về các tội xâm phạm sở hữu nhƣ: Sắc lệnh số 12 ngày
12-3-1949 quy định về tội trộm cắp vật dụng nhà binh trong thời bình và thời
kì chiến tranh; Sắc lệnh số 267 ngày 15-6-1956 trừng trị những âm mƣu và
hành động phá hoại tài sản của Nhà nƣớc, của hợp tác xã và của nhân dân,
làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa
nhằm góp phần vào việc bảo vệ sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa. Tại
Sắc lệnh này, Nhà nƣớc ta có quy định về hành vi thiếu trách nhiệm trong
công tác do mình phụ trách gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà
nƣớc, của hợp tác xã, của nhân dân tại Điều 10:
Kẻ nào vì thiếu tinh thần trách nhiệm mà trong công tác mình
phụ trách đã để lãng phí, để hƣ hỏng máy móc, dụng cụ, nguyên vật
liệu, để lộ bí mật Nhà nƣớc, để xảy ra tai nạn, v.v làm thiệt hại một
cách nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc, của hợp tác xã, của
nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà
nƣớc, sẽ bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù. Nếu bị can là ngƣời phụ
trách thì có thể bị phạt tới 5 năm tù. Nếu gây ra thiệt hại đặc biệt
nghiêm trọng, bị can có thể bị phạt tới 20 năm tù hoặc chung thân,

và phải bồi thƣờng thiệt hại [8].
Xã hội ngày càng phát triển, tài sản của Nhà nƣớc cũng nhƣ tài sản của
công dân ngày càng đƣợc tích lũy nhiều hơn, bên cạnh đó thì tội phạm về xâm
phạm sở hữu càng phát triển gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của Nhà

17
nƣớc. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của tài sản xã hội chủ nghĩa đối với sự
tồn tại và phát triển của đất nƣớc trong thời kỳ đất nƣớc còn chia cắt, thù
trong giặc ngoài nên ngoài hai sắc lệnh trên, ngày 21-10-1970, Ủy ban
Thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài
sản xã hội chủ nghĩa nhằm xử lý đối với các hành vi nguy hiểm gây thiệt hại
đến tài sản xã hội chủ nghĩa và nhằm răn đe, phát huy tinh làm làm chủ tập
thể của cán bộ, công nhân, viên chức, đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa và ý
thức tôn trọng và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt tại Điều 14 của
Pháp lệnh có quy định rõ về tội thiếu tinh thần trách nhiệm, gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, cụ thể nhƣ sau:
1. Kẻ nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản
xã hội chủ nghĩa, vì thiếu tinh thần trách nhiệm không chấp hành
hoặc chấp hành không đúng các nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể
lệ, để mất mát, hƣ hỏng, lãng phí, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài
sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm.
2. Phạm tội trong trƣờng hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì bị
phạt tù từ 5 năm đến 15 năm [39, Điều 14].
So với Sắc lệnh 267 thì Pháp lệnh năm 1970 đã quy định cụ thể hơn về
các hành vi xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa. Về hình phạt Pháp lệnh năm
1970 không quy hình phạt chung thân đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc nhƣng ngoài hình phạt chính
thì bổ sung thêm hình phạt phụ. Đó là ngoài việc bị xử phạt tù thì ngƣời phạm
tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ có liên quan trực tiếp đến tài
sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm.

Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa đƣợc ban
hành đã thể hiện nguyên tắc cơ bản của Nhà nƣớc ta là kiên quyết bảo vệ tài
sản xã hội chủ nghĩa, coi tài sản xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng và bất khả xâm

×