Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 12 tỉnh thanh hóa năm 2013 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (171.85 KB, 5 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THANH HOÁ
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
Năm học: 2013 - 2014
Môn thi: NGỮ VĂN
Lớp 12 - THPT
Ngày thi: 20 tháng 3 năm 2014
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Đề thi có 03 câu, gồm 01 trang
Câu 1 (6.0 điểm )
Hạnh phúc trong tầm tay.
Câu 2 (6.0 điểm)
Tiếng nói riêng của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trong cảm nhận về sự sống trần
gian qua hai đoạn thơ sau:
“ Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; ”
(Trích Vội vàng, Xuân Diệu, Ngữ văn 11, tập 2, NXBGD, 2008)
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền ”
(Trích Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11, tập 2, NXBGD, 2008)
Câu 3 (8.0 điểm)
“Phong cách văn học biểu hiện trước hết ở cách nhìn, cách cảm thụ có tính
chất khám phá, ở giọng điệu riêng biệt của tác giả.”


(Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD, 2008)
Từ hình tượng sông Hương trong bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông? của
Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh/ chị hãy bàn luận về ý kiến trên.
===== Hết =====
- Thí sinh không sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Số báo danh
…………………….
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THANH HOÁ
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
Năm học: 2013 - 2014
Môn thi: NGỮ VĂN
Lớp 12 - THPT
Ngày thi: 20 tháng 3 năm 2014
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ CHÍNH THỨC
I. Yêu cầu chung
Giám khảo cần:
- Nắm bắt kĩ nội dung trình bày của thí sinh để đánh giá được một cách tổng quát và
chính xác, tránh đếm ý cho điểm.
- Vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm, nên sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí.
Đặc biệt khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo
- Chấm theo thang điểm 20 (câu 1: 6.0 điểm; câu 2: 6.0 điểm; câu 3: 8.0 điểm)
II. Yêu cầu cụ thể
Câu 1 (6.0 điểm)
1. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm một bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống: hệ thống luận
điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc, hình ảnh.
- Biết kết hợp các thao tác lập luận, bố cục hợp lí, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả.

2. Yêu cầu về kiến thức
Cần đáp ứng một số ý chính sau:
Nội dung Điểm
1. Giải thích 1.0
- Mỗi người có một quan niệm và cảm nhận khác nhau về hạnh phúc. Tuy
nhiên có thể nhận thấy hạnh phúc thường gắn liền với trạng thái vui sướng khi
con người cảm thấy thỏa mãn ý nguyện nào đó của mình.
- Hạnh phúc trong tầm tay: hạnh phúc không phải điều gì quá xa vời. Ai
cũng có khả năng tạo lập hạnh phúc cho bản thân mình.
0.5
0.5
2. Bàn luận 4.0
- Hạnh phúc là khát vọng, là mong muốn, là đích đến của con người trong
cuộc sống.
- Mỗi người tùy thuộc vào khả năng và hoàn cảnh đều có thể có được hạnh
phúc. Vì vậy, con người cần phải nỗ lực, cố gắng để đạt được hạnh phúc.
- Hạnh phúc không phải là điều gì quá xa vời. Nhiều khi hạnh phúc chính là
những điều giản dị, gần gũi xung quanh chúng ta mà không phải ai cũng đủ tự tin
và tinh tế để nhận ra.
- Những người tự ti, mặc cảm về bản thân hay theo đuổi những điều viển
vông vượt quá khả năng của mình đều không thể có được hạnh phúc.
1.0
1.0
1.0
1.0
3. Bài học nhận thức và hành động 1.0
- Cần có nhận thức đúng đắn về hạnh phúc trong mối quan hệ với hoàn cảnh
và khả năng của bản thân.
- Luôn tự tin, biết trân trọng và gìn giữ hạnh phúc.
0.5

0.5
Câu 2 (6.0 điểm)
1. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm một bài nghị luận văn học: hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt
chẽ, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc, hình ảnh.
- Biết kết hợp các thao tác lập luận, bố cục hợp lí, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả.
2. Yêu cầu về kiến thức
Cần đáp ứng một số ý chính sau:
Nội dung Điểm
1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận 0.5
2. Tiếng nói riêng của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trong những cảm
nhận về sự sống trần gian qua hai đoạn thơ
5.0
2.1. Giải thích 0.5
- Tiếng nói riêng là nét độc đáo trong cách nhìn, cách cảm nhận và cách thể
hiện của nhà thơ, là biểu hiện cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ.
- Tiếng nói riêng góp phần bộc lộ tư tưởng, khẳng định bản lĩnh, tài năng của
mỗi nhà văn, nhà thơ.
2.2. Biểu hiện tiếng nói riêng của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trong cảm
nhận về sự sống trần gian qua hai đoạn thơ
4.5
2.2.1. Cảm hứng sáng tạo 0.5
- Với Xuân Diệu là cảm xúc rạo rực, háo hức của một trái tim nồng nhiệt,
cuồng si đang tận hưởng trọn vẹn thanh sắc của cuộc đời.
- Còn với Hàn Mạc Tử là nỗi khắc khoải trong nỗ lực tìm kiếm sợi dây liên
hệ với cuộc đời.
2.2.2. Những cảm nhận riêng về sự sống trần gian 3.0
- Trong đoạn thơ của Xuân Diệu:
+ Thiên nhiên tạo vật quấn quýt, giao hòa, quyến rũ và rạo rực xuân tình,
hiển hiện trực tiếp như một bữa tiệc trần gian bày ra trước mắt thi nhân.

+ Nhân vật trữ tình chủ động khám phá và tận hưởng mọi vẻ đẹp cuộc sống
với một niềm vui sướng, hân hoan.
- Trong khổ thơ của Hàn Mặc Tử:
+ Thiên nhiên trong buổi ban mai trong trẻo, tinh khôi, vừa gần gũi, thân
thuộc vừa xa lạ, cách ngăn hiện lên trong nỗi nhớ của thi nhân.
+ Nhân vật trữ tình khao khát, say mê nhưng không thể có được cảm giác
hòa hợp, gắn bó. Đó là tâm thế của người lữ khách chan chứa lòng yêu sống, đau
đáu hướng về cuộc đời.
1.5
1.5
2.2.3. Nghệ thuật biểu hiện 1.0
- Đoạn thơ của Xuân Diệu: hình ảnh mới lạ, ngôn ngữ gợi cảm với nhiều
biện pháp tu từ đặc sắc (nhân hóa, so sánh,…), cú pháp tân kì.
- Đoạn thơ của Hàn Mặc Tử: câu hỏi tu từ đa sắc thái, hình ảnh giàu sức liên
tưởng, ngôn ngữ tinh tế, độc đáo (đại từ phiếm chỉ ai, phụ từ chỉ mức độ quá)
3. Đánh giá khái quát 0.5
- Hai đoạn thơ ngắn nhưng phần nào đã biểu hiện được những nét độc đáo
trong phong cách thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử.
- Tiếng nói riêng đó được tạo nên từ tài năng vượt trội, tâm hồn nhạy cảm
trước thiên nhiên, cuộc sống và trái tim thấm đẫm tình đời, tình người của hai thi
sĩ, góp phần tạo nên sự hấp dẫn và sức sống lâu bền của tác phẩm.
Câu 3 (8.0 điểm)
1. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm một bài nghị luận văn học: hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt
chẽ, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc, hình ảnh.
- Biết kết hợp các thao tác lập luận, bố cục hợp lí, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả.
2. Yêu cầu về kiến thức
Cần đáp ứng một số ý chính sau:
Nội dung Điểm
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận 1.0

2. Giải thích ý kiến 0.5
Phong cách văn học là những nét riêng, độc đáo của một tác giả trong quá
trình nhận thức và phản ánh cuộc sống phong cách là sự thể hiện tài nghệ của
người nghệ sĩ trong việc đưa đến cho độc giả một cái nhìn mới mẻ về cuộc đời
thông qua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân
của người sáng tạo.
3. Bàn luận 6.0
3.1. Khẳng định vấn đề 0.5
- Hình tượng sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? góp phần
khẳng định phong cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
- Nét độc đáo trong phong cách của nhà văn biểu hiện trước hết ở cách
nhìn, cách cảm thụ và giọng điệu riêng biệt.
3.2. Biểu hiện của phong cách Hoàng Phủ Ngọc Tường khi xây dựng
hình tượng sông Hương
5.5
3.2.1 Cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá 4.0
- Sông Hương luôn được cảm nhận ở vẻ đẹp giàu nữ tính:
+ Hình ảnh sông Hương gắn với vẻ đẹp của người con gái: cô gái Digan,
người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở, là người gái đẹp nằm ngủ mơ
màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại, là người tài nữ đánh đàn lúc đêm
khuya, là nàng Kiều trong đêm tình tự với Kim Trọng, là người con gái dịu dàng
của đất nước.
+ Sông Hương được miêu tả bằng một hệ thống từ ngữ gợi nét đẹp đặc
trưng của người phụ nữ: sắc đẹp dịu dàng, đường cong thật mềm, hình cung thật
2.0
1.0
tròn, dòng sông mềm như tấm lụa, uốn một cánh cung rất nhẹ, điệu slow tình
cảm, ngập ngừng như muốn đi muốn ở, những vấn vương của một nỗi lòng, chút
lẳng lơ kín đáo của tình yêu Đó là vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, kín đáo nhưng
cũng đầy gợi cảm.

- Sông Hương được miêu tả trong chiều sâu của những giá trị văn hóa:
+ Hình ảnh so sánh mới lạ: là bản trường ca của rừng già, vẻ đẹp trầm mặc
như triết lí, như cổ thi, điệu slow tình cảm, là không gian sinh thành và nuôi
dưỡng nền âm nhạc cổ điển Huế, là hành động rất lạ với tự nhiên và rất giống
con người ở đây
+ Trong quan hệ với thi ca, sông Hương luôn gợi những cảm hứng mới mẻ,
không bao giờ tự lặp lại mình Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó
0.5
0.5
3.2.2. Giọng điệu riêng biệt 1.5
- Giọng điệu tha thiết, yêu thương:
+ Dõi theo hành trình của sông Hương từ thượng nguồn cho đến khi về với
biển.
+ Phát hiện những biến đổi tinh tế của sông Hương trong không gian và
thời gian.
+ Phát hiện mối liên hệ khăng khít giữa vẻ đẹp của sông Hương với mảnh
đất cố đô và những nét đặc trưng trong văn hóa của con người xứ Huế.
- Giọng điệu dịu dàng, mê đắm: hành trình của sông Hương được miêu tả
trong sự liên tưởng đến câu chuyện tình yêu mãnh liệt, say đắm với nhiều cung
bậc cảm xúc: mong đợi, vui sướng, ngập ngừng, bịn rịn, lưu luyến, nhớ nhung
- Giọng điệu tự hào, trân trọng:
+ Khám phá nét riêng, độc đáo của sông Hương trong tương quan với
những dòng sông nổi tiếng trên thế giới để chợt nhớ và yêu quý điệu chảy lặng lờ
của nó khi ngang qua thành phố.
+ Sông Hương đã sống những thế kỉ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của
nó là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh
biếc.
0.5
0.5
0.5

4. Đánh giá khái quát 0.5
- Thông qua cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá, giọng điệu
riêng biệt, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem đến cho người đọc hình ảnh một sông
Hương vừa quen, vừa lạ, vừa chân thực nhưng đầy sức gợi.
- Sông Hương trong bài kí là sản phẩm của một cái tôi nghệ sĩ tinh tế tài
hoa, một cái tôi giàu vốn văn hóa và trí tưởng tượng phong phú, một cái tôi say
đắm với tình yêu quê hương đất nước. Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã
làm nên sự đa dạng cho thể loại kí nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung.

×