Tải bản đầy đủ (.doc) (116 trang)

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở trường phổ thông có nhiều cấp học quận 11, thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (567.79 KB, 116 trang )

B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
MAI C THNG
Một số giải pháp nâng cao chất lợng
công tác quản lý nội trú ở trờng phổ thông
có nhiều cấp học Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
NGHệ AN, 2014
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
MAI C THNG
Một số giải pháp nâng cao chất lợng
công tác quản lý nội trú ở trờng phổ thông
có nhiều cấp học Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Chuyờn ngnh: QUN Lí GIO DC
Mó s: 60.14.01.14
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS H Vn Hựng
NGHệ AN, 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa học và Luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn:
- PGS.TS Hà Văn Hùng, người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
- Các thầy cô Phòng Sau Đại học và Khoa Quản lý Giáo dục Trường Đại học
Vinh, Tp.Vinh, Nghệ An.
- Các thầy cô Phòng Sau Đại học Trường Đại học Đồng Tháp, Tp. Cao
Lãnh, Đồng Tháp.
- Các thầy cô trường Đại học Vinh và Đại học Đồng Tháp đã trực tiếp giảng
dạy chúng tôi trong thời gian qua.
- Hội đồng Quản trị, Ban Giám hiệu, các đồng nghiệp Trường Tiểu học,


Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Trương Vĩnh Ký đã tạo điều kiện
tốt cho tôi trong công tác, học tập.
- Gia đình và những người thân luôn động viên và ủng hộ tôi trong thời gian
học tập.
- Bạn hữu lớp Cao học Quản lý Giáo dục - khóa 20B.
- Những học sinh đã luôn hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành
luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, nhưng luận văn vẫn
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến góp ý chân
thành của các chuyên gia, các thầy giáo, cô giáo, đội ngũ cán bộ, giáo viên và
bạn bè để Luận văn được hoàn thiện hơn!
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Mai Đức Thắng
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phạm vi nghiên cứu 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
7.1. PP nghiên cứu lý luận 4
7.2. PP nghiên cứu thực tiễn 4
7.3. PP thống kê toán học 4
8. Đóng góp mới của Luận văn 4
9. Cấu trúc Luận văn 5

Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng công tác quản lý
nội trú ở trường phổ thông có nhiều cấp học 6
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1. Quản lý, Quản lý giáo dục và quản lý nội trú 8
12.2. Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú. .12
1.3. Khái quát về công tác quản lý nội trú ở trường phổ thông có nhiều cấp học
13
1.3.1. Vị trí, vai trò của trường phổ thông có nhiều cấp học 13
1.3.2. Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của GVQN nội trú 16
1.3.3. Nội dung của công tác quản lý trong các trường phổ thông có nhiều
cấp học 18
1.4. Một số vấn đề về nâng cao chất lượng quản lý nội trú ở trường phổ thông có
nhiều cấp học 18
3
1.4.1. Mục đích của công tác quản lý nội trú 18
1.4.2. Nội dung công tác quản lý nội trú 19
1.4.3. Tính chất của quản lý công tác HS nội trú 18
1.5. Vấn đề nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở trường phổ thông có
nhiều cấp học 19
1.5.1. Điều kiện kinh tế, xã hội 19
1.5.2. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước 20
1.5.3. Đội ngũ giáo viên 21
1.5.4. Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nội trú 22
1.5.5. Các văn bản pháp quy hướng dẫn các hoạt động của nội trú 22
1.6. Mối quan hệ giữa nhà trường với cha mẹ học sinh, mối quan hệ các tổ, bộ
phận trong nhà trường về công tác quản lý nội trú 23
Kết luận chương 1 23
Chương 2. Thực trạng chất lượng công tác quản lý nội trú ở trường phổ
thông có nhiều cấp học Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh 24

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế, văn hóa-xã hội, tình hình giáo dục nói chung
và công tác quản lý nội trú nói riêng ở Quận 11, Tp.HCM 24
2.2. Một số nét lịch sử hình thành và phát triển của trường phổ thông có nhiều
cấp học Quận 11, Tp.HCM 27
2.3.Thực trạng chất lượng đào tạo ở các trường phổ thông có nhiều cấp học có
nhiều cấp học có tổ chức nội trú Quận 11, Tp.HCM 29
2.4. Thực trạng công tác quản lý ở các trường phổ thông có nhiều cấp học có tổ
chức nội trú Quận 11, Tp.HCM 30
2.5. Thực trạng học sinh nội trú ở trường phổ thông có nhiều cấp học có tổ chức
nội trú Quận 11, Tp.HCM 30
2.6. Thực trạng công tác quản lý nội trú ở các trường phổ thông có nhiều cấp
học Quận 11, Tp.HCM 34
4
2.7. Thực trạng công tác quản lý nội trú và các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao
chất lượng nội trú 38
2.8. Đánh giá thực trạng công tác quản lý nội trú của trường Phổ thông có nhiều
cấp học tại Quận 11, Tp. HCM 43
Kết luận chương 2 47
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở
các trường phổ thông có nhiều cấp học Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh 48
3.1. Nguyên tắc đề xuất giải pháp 48
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 48
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 48
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 49
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi 49
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 49
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở trường phổ
thông có nhiều cấp học quận 11, Tp.HCM 50
3.2.1. Nâng cao công tác thực hiện những văn bản quy phạm pháp luật,
tuyên truyền giáo dục pháp luật cho CB-GV-NV và HS Nội trú 50

3.2.2. Hoàn thiện hệ thống văn bản phục vụ cho công tác quản lý nội trú 51
3.2.3. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cấp các điều kiện
cơ sở vật chất phục vụ công tác tổ chức nội trú 59
3.2.4. Tăng cường tuyển chọn được một số đội ngũ, bồi dưỡng nghiệp vụ và
trao đổi chuyên môn cho đội ngũ GVQN nội trú 63
3.2.5. Tăng cường phối hợp CMHS, với các tổ, bộ phận có liên quan trong
nhà trường, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức xã
hội để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nội trú 70
3.2.6. Tăng cường tổ chức hoạt động ngoại khóa, giáo dục kỹ năng sống,
phong trào thể dục thể thao, hoạt động tập thể và sinh hoạt tập thể
nhằm giáo dục nhân cách, tư tưởng, đạo đức cho học sinh nội trú 74
5
3.2.7. Tăng cường quản lý hoạt động học và tự học của HS nội trú 77
3.2.8. Tổ chức phong trào thi đua trong tập thể học sinh nội trú 83
3.2.9. Nâng cao hiệu quả công tác Tư vấn học đường cho HS nội trú 85
3.3. Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất 91
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 98
1. Kết luận 98
2. Kiến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
6
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Diễn giải Ghi chú
1 BLĐ Ban Lãnh đạo
2 CBQL Cán bộ quản lý
3 CBQLGD Cán bộ quản lý giáo dục
4 CB-GV Cán bộ - giáo viên
5 CB-GV-NV Cán bộ - giáo viên - nhân viên
6 CSVC-TBGD Cơ sở vật chất - Thiết bị giáo dục
7 GDCD Giáo dục công dân

8 GDĐĐ Giáo dục đạo đức
9 GD-ĐT Giáo dục và Đào tạo
10 GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp
11 GV Giáo viên
12 GVBM Giáo viên bộ môn
13 GVCN Giáo viên chủ nhiệm
14 GVQN KTX Giáo viên quản nhiệm ký túc xá
15 NXB Nhà xuất bản
16 HĐQT Hội đồng quản trị
17 HT Hiệu trưởng
18 HS Học sinh
19 CMHS Cha mẹ học sinh
20 PCGD Phổ cập giáo dục
21 PHT Phó Hiệu trưởng
22 QLGD Quản lý giáo dục
23 QLGDĐĐ Quản lý giáo dục đạo đức
24 SHCN Sinh hoạt chủ nhiệm
25 TCN Tổng chủ nhiệm
7
26 TH Tiểu học
27 THCS Trung học cơ sở
28 THPT Trung học phổ thông
29 TNTP Thiếu niên tiền phong
30 TNCS HCM Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
31 TQN Tổng quản nhiệm
32 TT Tư thục
33 UBND Ủy ban nhân dân
34 XHH Xã hội hóa
35 XHHGD Xã hội hóa giáo dục
36 XHCN Xã hội chủ nghĩa

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hóa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn
minh. Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Cùng với sự phát triển của
khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt
quan tâm. Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
đã chỉ rõ: "Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, là điều kiện phát huy nguồn lực con người"[1]. Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí,
phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất
nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo
cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào
8
tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu
cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều
kiện cho mọi công dân học tập suốt đời ”[14].
Giáo dục (GD) phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng mặt
bằng dân trí, đáp ứng yêu cầu phát triển chất lượng nguồn nhân lực và kinh tế - xã
hội (KT - XH) của một quốc gia. Trong thời đại ngày nay, với tốc độ phát triển như
vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, việc nhanh chóng hòa nhập vào cộng
đồng khu vực và thế giới, đòi hỏi GD phổ thông phải có những bước tiến mới
mạnh mẽ, giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
kỹ năng cơ bản, hình thành nhân cách toàn vẹn con người Việt Nam Xã hội chủ
nghĩa, chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên các trường đại học và cao đẳng chuyên
nghiệp hoặc đi vào cuộc sống lao động sáng tạo, tham gia xây dựng và bảo vệ quê

hương, đất nước.
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 cũng nêu rõ “khuyến khích và
bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục”[11].
Đến nay, xã hội hóa giáo dục đã được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước,
xã hội hóa giáo dục đã góp phần xây dựng nên một xã hội học tập, một xã hội toàn
dân tham gia vào các hoạt động giáo dục. Nhân dân hiến đất làm trường học, các
đoàn thể, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm hăng hái mở
trường học. Từ những trường học tình thương, đến các trường Mầm non, Tiểu học,
Trung học, Dạy nghề và Đại học, các loại hình giáo dục ra đời như trường Dân lập,
trường Tư thục. Rõ ràng xã hội hoá giáo dục đã và đang là sự hợp tác có hiệu quả
giữa nhà nước, nhân dân và các tổ chức xã hội để thực hiện một nền giáo dục dân
chủ rộng mở cho tất cả mọi người trong xã hội, một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại
và đậm đà bản sắc dân tộc.
Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) là đô thị lớn nhất nước bao gồm 19
quận và 5 huyện, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh,
9
Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Chính vì nằm giữa trung tâm
các tỉnh có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục phát triển mạnh mẽ như vậy
nên nhu cầu học tập của học sinh ở các tỉnh thành lân cận về Tp.HCM học tập là rất
lớn. Đặc biệt, nhu cầu cho con em ăn ở, học tập tại các trường phổ thông nội trú
đang ngày một gia tăng, nhất là ở các gia đình không đủ điều kiện chăm sóc, kèm
cặp con em. Các trường Công lập hầu như không thể tổ chức cho HS ăn học nội
trú. Mô hình trường Dân lập - Tư thục đã nhanh chóng gánh vác chức năng quan
trọng này. Xuất phát từ nhu cầu đó mà hàng loạt các trường phổ thông nội trú lần
lượt ra đời ở các đô thị lớn, trong đó Tp.HCM nổi bật lên như một điển hình.
Mô hình học sinh nội trú không phải là mới mẻ với giáo dục thế giới và ở
Việt Nam. Tuy nhiên về mặt lý luận, thực tiễn, mô hình này vẫn còn những bất cập.
Hệ thống văn bản pháp lý, các văn bản hướng dẫn đối với loại hình này gần như

chưa được chú ý. Các trường phổ thông nội trú vẫn còn trong giai đoạn “vừa học,
vừa làm”. Những quy định về hồ sơ – sổ sách cũng như qui định về cơ sở vật chất
vẫn chưa được chặt chẽ, rõ ràng và đồng bộ ở tất cả các trường.
Thực tiễn hiện nay các trường phổ thông có tổ chức nội trú chưa thống nhất
được cách làm, cơ quan thẩm quyền chưa thể quản lý được chất lượng của các
trường này. Các điều kiện đảm bảo chất lượng như về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật
chất phục vụ việc ăn ở cho học sinh nội trú, các hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp,
các hoạt động giáo dục về kỹ năng sống, về giáo dục nhân cách, công tác đảm bảo
an ninh, trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội, việc phối hợp giữa các lực lượng trong
và ngoài nhà trường vẫn còn những bất cập, hạn chế.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nâng
cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở trường phổ thông có nhiều cấp học
Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu. Chúng tôi mong muốn
đóng góp một phần hiểu biết về thực tế cũng như một phần nghiên cứu về lý luận
nhằm đưa chất lượng của các trường phổ thông nội trú đi đúng hướng và đạt hiệu
quả khoa học cao hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
10
Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở
trường phổ thông có nhiều cấp học quận 11, Tp.HCM.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý nội trú ở trường phổ thông có
nhiều cấp học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác
quản lý nội trú ở trường phổ thông có nhiều cấp học.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được một số giải pháp có tính khoa học và khả thi
thì sẽ nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở các trường phổ thông có nhiều
cấp học Quận 11, Tp.HCM.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng công tác quản
lý nội trú ở trường phổ thông có nhiều cấp học tại Tp.HCM.
5.2. Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nội trú ở trường phổ thông có
nhiều cấp học Quận 11, Tp.HCM trong giai đoạn hiện nay.
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở
trường phổ thông có nhiều cấp học Quận 11, Tp.HCM.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Công tác quản lý nội trú ở các trường nhiều cấp học gồm Tiểu học, Trung
học cơ sở và Trung học phổ thông trên địa bàn Quận 11, Tp.HCM.
- Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở các trường
phổ thông có nhiều cấp học Quận 11, Tp.HCM.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm nghiên cứu lý luận có các phương pháp nghiên
cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
11
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng
cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn có các
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;
- Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
8. Những đóng góp mới của luận văn
8.1. Về mặt lý luận

Tổng quan về công tác quản lý nội trú tại các trường phổ thông có nhiều cấp
học, làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài; khẳng định tầm quan trọng về công
tác nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú.
8.2. Về mặt thực tiễn
+ Đánh giá một cách có khoa học về thực trạng công tác quản lý nội trú tại
các trường phổ thông có nhiều cấp học Quận 11, Tp.HCM.
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lý nội trú tại các trường
phổ thông có nhiều cấp học Quận 11, Tp.HCM có cơ sở khoa học và thực tiễn
nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời gian sắp tới.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở
trường phổ thông có nhiều cấp học.
Chương 2. Thực trạng chất lượng công tác quản lý nội trú ở trưởng phổ thông có
nhiều cấp học Quận 11, Tp.HCM.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở trường
phổ thông có nhiều cấp học Quận 11, Tp.HCM.
12
13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NỘI TRÚ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
CÓ NHIỀU CẤP HỌC
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người, được thực hiện một cách
tự giác, vượt qua ngưỡng “tập tính” của các giống loài động vật bậc thấp khác.
Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo
dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục và từ đó cũng xuất hiện
khoa học về QLGD. Người học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo.

Để nâng cao chất lượng đào tạo ngoài việc xem xét các yếu tố người dạy, nội dung,
chương trình, cơ sở vật chất thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối
tượng người học. Xung quanh vấn đề người học có rất nhiều vấn đề cần nghiên
cứu, trong đó có vấn đề người học trong quá trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục ở
trong khu nội trú.
Ký túc xá thường được dành cho đối tượng là sinh viên. Tuy nhiên, trong hơn
một thập niên trở lại đây do nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội hóa giáo dục ngày
càng phát triển sâu rộng. Nhiều loại hình trường Dân lập, Tư thục ở các trường có
nhiều cấp học phát triển không ngừng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội
về nhu cầu sinh hoạt học tập của đối tượng HS ở lại trường. Vấn đề nghiên cứu về
quản lý HS nội trú ít được đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu liên quan
đến việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác nhau như: Nguyễn
Hữu Hợp (chủ biên), Nguyễn Dục Quang - “Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở
trường tiểu học” (Giáo trình dành cho hệ tại chức đào tạo giáo viên tiểu học) –
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội 1995.
Năm 1997 Bộ GD-ĐT ban hành riêng “Quy chế HS, học sinh nội trú trong
các trường đại học, cao đẳng, TCCN” nhằm quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn
của các trường trong việc tổ chức quản lý khu nội trú, quyền và nghĩa vụ của HS,
14
học sinh trong các khâu liên quan đến việc ăn, ở, học tập, sinh hoạt trong khuôn
viên nội trú của các trường đào tạo.
Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, ngày 18 tháng 10 năm
2002 Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã ký Quyết định số 41/2002/QĐ-BGD&ĐT về việc
sửa đổi bổ sung công tác HSSV nội trú.
Ngày 26/7/2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Thông tư số 27/2011/TT-
BGD&ĐT về việc Ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú tại các cơ sở giáo dục
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thông tư này có hiệu lực thi hành ngày 10 tháng 8
năm 2011 và thay thế Quyết định số 2137/GD-ĐT ngày 29/6/1997 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú trong các
trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; Quyết định số

41/2002/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 10 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo.
Quản lý HSSV nội trú là vấn đề mới chưa được nghiên cứu nhiều, tuy nhiên có
một số tác giả nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau về quản lý người
học. Có thể kể đến các công trình sau: Đề tài luận văn thạc sỹ QLGD: “Một số giải
pháp nhằm nâng cao năng lực tự học của học sinh trường Dự bị đại học dân tộc Trung
ương - Việt Trì - Phú Thọ” của Lê Trọng Tuấn năm 2001 đã đánh giá thực trạng năng
lực tự học của học sinh trường Dự bị Đại học Dân tộc trung ương và đề xuất một số
giải pháp thích hợp nâng cao năng lực tự học của học sinh; Đối với đề tài nghiên cứu
việc quản lý học sinh nội trú vùng miền núi phía bắc có công trình nghiên cứu của Bùi
Sĩ Đức: “Các biện pháp quản lý học sinh nội trú ở trường CĐSP Yên Bái” năm 2007
đã đánh giá thực trạng công tác quản lý SV nội trú của trường CĐSP Yên Bái và đề
xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao biện pháp quản lý SV nội trú.
Những nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác quản lý học sinh trong
đó có quản lý học sinh nội trú và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý. Tuy nhiên,
những nghiên cứu về quản lý học sinh nội trú ở các trường phổ thông nhiều cấp học
hiện nay chưa có nhiều đề tài nghiên cứu cụ thể.
Các trường Phổ thông nhiều cấp học có chế độ nội trú cũng gặp phải vấn đề
nan giải trong công tác quản lý HS, xuất phát từ đặc điểm riêng của mỗi trường nên
15
không thể áp dụng giải pháp quản lý của trường này vào trường khác. Do vậy, vấn
đề “Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú ở trường phổ
thông có nhiều cấp học quận 11, thành phố Hồ Chí Minh” là vấn đề cần được
nghiên cứu để tìm ra được các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý HS nội trú.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý, Quản lý giáo dục và quản lý nội trú
1.2.1.1. Quản lý
- Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nhu cầu Quản lý xã hội cũng
được hình thành, trình độ tổ chức, điều hành quản lý xã hội cũng được nâng cao.
Khi đề cập đến vai trò Quản lý, Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp

hay lao động chung nào đó tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng
cần đến một sự lãnh đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những
chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động
của các khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì phải cần có nhạc trưởng” [23].
- Trong Từ điển Tiếng Việt (1992), Quản lý đóng vai trò là một động từ và được
định nghĩa như sau: “Quản lý là quá trình trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất
định; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [33].
- Để kết hợp các yếu tố con người, công cụ, phương tiện, tài chính. . . nhằm
đạt mục tiêu đã định trước, cần phải có sự tổ chức, điều hành chung, đó chính là
quản lý. Có nhiều định nghĩa khái nhiệm quản lý theo các quan điểm khác nhau.
+ Theo quan điểm kinh tế, F.Taylor (1856 - 1915) cho rằng “Quản lý là
nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương
pháp tốt nhất và rẻ nhất” [20].
+ Theo quan điểm xã hội, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là sự tác
động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản
lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh
tế… bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và
biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối
tượng” [21].
16
+ Theo quan điểm hệ thống: Thế giới đang tồn tại, mọi sự vật hiện tượng là
một chỉnh thể, thống nhất. Quản lý với tư cách là những tác động vào hệ thống, vào
từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt được các
mục tiêu đã đề ra. Như vậy "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm
năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến đổi của
môi trường” [17].
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
- QLGD là một bộ phận của quản lý xã hội nói chung. Theo

P.V.Khuđominxky định nghĩa: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất
cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản cho thế hệ trẻ, đảm
bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các
quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học
và giáo dục, của sự phát triển thể chất của tâm lý và trẻ em” [20].
- Nhà lý luận Xô Viết Mechti-Zade đã chỉ rõ: “Quản lý giáo dục là tập hợp
những biện pháp (tổ chức, phương pháp cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài
chính…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống
giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng
cũng như chất lượng” [20, tr.34].
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, chủ thể của quy luật quản lý nhằm làm cho sự
vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng thực hiện các tính chất của nhà trường
XHCN mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục
tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [26].
+ Tiêu điểm của nhà trường là quá trình giáo dục nên cũng có thể hiểu
quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo
dục được tiến hành bởi tập thể giáo viên và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực
lượng xã hội nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu
đào tạo của nhà trường.
17
1.2.1.3. Quản lý trường học
- Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục
thế hệ trẻ. Nó là tế bào của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp nào từ cơ sở đến trung
ương. Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, do đó khi nói đến
quản lý giáo dục là nói đến quản lý nhà trường cùng với quản lý hệ thống giáo dục.
- Theo tác giả Tiến sĩ Phạm Minh Hạc thì quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh. Quản lý

trực tiếp trường học bao gồm quản lý QTDH – GD, quản lý tài chính, quản lý nhân
lực, quản lý hành chính, quản lý môi trường giáo dục. Trong đó quản lý QTDH –
GD là trung tâm [19].
1.2.1.4. Quản lý nội trú
Quản lý nội trú là tổ chức, quản lý toàn diện các hoạt động trong khu Ký túc
xá như: Quản lý, điều hành, phục vụ nhu cầu ăn, ở, sinh hoạt, an ninh trật tự, học
tập và rèn luyện của HS nội trú, góp phần rèn luyện nhân cách HS trong hệ thống
giáo dục và đào tạo chung của nhà trường; tổ chức, quản lý và điều hành các dịch
vụ vui chơi giải trí.
* Các chức năng và nhiệm vụ của công tác quản lý nội trú ở các trường
phổ thông nhiều cấp học.
- Chức năng:
- Một bộ phận giáo viên với chức năng quản lý học sinh về ăn, ở, sinh hoạt
và học tập trong Ký túc xá sau giờ học trên lớp.
- Thay mặt phụ huynh trực tiếp chăm sóc học sinh, tìm hiểu tâm tư, nguyện
vọng của học sinh nhất là những học sinh thuộc đối tượng cần rèn luyện nhiều về
học tập và sinh hoạt
- Trực tiếp liên hệ với phụ huynh học sinh khi các em có vấn đề về học tập,
sinh hoạt cũng như đau ốm.
- Nhiệm vụ:
+ Lập kế hoạch tổ chức hoạt động nội trú trong một năm học;
+ Tập huấn bồi dưỡng công tác quản lý nội trú;
18
+ Phối hợp với các Tổ, bộ phận có liên quan lập hồ sơ HS đăng ký nội trú;
+ Hoàn tất hồ sơ HS nội trú;
+ Lập danh sách học sinh ở nội trú theo phòng, theo lớp đảm bảo khoa học,
thuận lợi, văn minh, hiện đại cho công tác quản lý và học tập của HS nội trú;
+ Tổ chức tiếp nhận học sinh vào nội trú và sắp xếp phòng cho học sinh vào
đầu mỗi năm học.
+ Tổ chức quản lý cơ sở vật chất và sử dụng có hiệu quả;

+ Phân loại học sinh theo học lực, hạnh kiểm để có những phương án chăm
sóc đạt kết quả tốt;
+ Tổ chức sinh hoạt với học sinh nội trú về nội quy, quy định của nội trú.
+ Tổ chức thực hiện, theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch;
+ Điểm danh, quản lý và báo cáo khẩu phần ăn của HS nội trú cho bộ phận
phục vụ.
+ Tổ chức, trực tiếp tham gia cùng giáo viên bộ môn, giáo viên dò bài quản
lý học sinh nội trú trong những giờ học và tự học buổi tối;
+ Tổ chức các hoạt động rèn luyện thể dục thể thao, rèn luyện các kỹ năng
sống cần thiết cho HS nội trú;
+ Tổ chức đêm văn nghệ nội trú hằng năm vào những ngày Lễ, Hội như:
Ngày lễ Trung thu, Noel, Mừng Xuân, Tổng kết giải TDTT nội trú và tổng kết phát
thưởng học sinh gỏi nhất khối nội trú, học sinh gương mẫu;
+ Tổ chức cho học sinh nội trú đạt những thành tích cao trong học tập,
những học sinh gương mẫu được đi làm từ thiện ở những Trung tâm trẻ em khuyết
tật, mái ấm tình thương, tặng tập, sách và quà cho những trẻ em vùng sâu, vùng xa;
+ Trực tiếp đưa học sinh đi khám bệnh khi cần thiết.
+ Hàng tuần, GVQN nội trú có trách nhiệm trả học sinh ra về vào trưa
ngày thứ 7 và đón HS vào trước 18h30 ngày Chủ nhật (có sổ ký nhận đưa đón).
+ Thứ ba hằng tuần, Tổ Quản nhiệm nội trú họp giao ban với BLĐ để báo
cáo tình hình hoạt động của nội trú và BLĐ triển kế hoạch trong thời gian tới.
+ Liên hệ chặt chẽ với GVCN để nắm vững tình hình học tập, sinh hoạt
và chấp hành nội quy của những HS ở nội trú.
19
+ Phối hợp với các tổ chức Đoàn, Đội, Hội đồng tư vấn học đường, Ban đại
diện CMHS, CMHS trong việc giáo dục HS nội trú;
+ Động viên, giúp đỡ, hướng dẫn các em thực hiện nghiêm túc các quy định,
nội quy của nhà trường nói chung, nội quy, quy định nội trú nói riêng; Tìm hiểu
tâm tư, nguyện vọng của từng HS để tư vấn hướng nghiệp trong kỳ thi CĐ - ĐH
hàng năm.

+ Phối hợp với các Tổ, bộ phận có liên quan lập kế hoạch sửa chữa, nâng
cấp cơ sở vật chất định kỳ của nội trú;
+ Quản lý nội trú theo qui định của nhà trường; quản lý HS thực hiện tốt nội
qui nội trú; bảo đảm trật tự an ninh, môi trường sinh hoạt và giáo dục lành mạnh; tổ
chức các hoạt động tuyên truyền nhằm giáo dục cho HS nội trú, các hoạt động văn
- thể - mỹ nhằm nâng cao đời sống tinh thần và đẩy mạnh phong trào tự quản trong
HS ở nội trú; tổ chức đánh giá kết quả thực hiện nội qui của từng HS nội trú sau
mỗi tuần, tháng, Học kỳ;
+ Kết hợp chặt chẽ với công an phường để thực hiện có hiệu quả các biện
pháp bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn nội trú, bảo vệ tài sản và tính mạng
của HS nội trú; thành lập ban an ninh trật tự trực 24/24;
+ Trực những vị trí theo phân công của Tổ trưởng tổ Quản nhiệm nội trú;
+ Thực hiện công tác tổng hợp về các lĩnh vực được phân công; thống kê,
báo cáo kịp thời theo yêu cầu của cấp trên và của trường.
+ Hỗ trợ khối văn phòng khi nhà trường tổ chức những ngày Lễ Hội truyền
thống, các chuyến tham quan của học sinh.
1.2.2. Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú
1.2.2.1. Giải pháp, giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý
nội trú
- Giải pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể. Giải
pháp là là phương pháp giải quyết [33].
- Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú là những cách thức,
phương pháp giải quyết những thực trạng trong công tác quản lý nội trú nhằm nâng
cao chất lượng công tác quản lý nội trú.
20
- Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nội trú là nội dung, cách
thức giải quyết vấn đề HS nội trú của nhà trường cùng những lực lượng ngoài nhà
trường có liên quan đến HS nội trú nhằm hình thành nhân cách của HS theo yêu
cầu, mục tiêu đào tạo.
- Chủ thể chính thực hiện công tác quản lý nội trú là Ban Quản lý nội trú

(nòng cốt là GVQN nội trú), chịu trách nhiệm phối hợp với các tổ chức đoàn thể
trong nhà trường, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban đại diên cha mẹ học sinh, phụ
huynh học sinh, chính quyền địa phương nhằm thực hiện các giải pháp quản lý
do mình hoạch định đối với đối tượng chịu quản lý là HS nội trú theo yêu cầu của
công tác HS nội trú.
- Để đạt các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp, khích
lệ động viên, dẫn dắt, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý vào mục tiêu
đã được xác định trước thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ quản lý.
- Như vậy, xét cho cùng thì giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý
HS nội trú chính là một loại công cụ quản lý HS nội trú, nhằm từng bước đưa HS
nội trú đi đến mục tiêu của công tác quản lý HS nội trú. Bởi vì công cụ quản lý là
những phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn
dắt, khích lệ, điều hòa, phối hợp hoạt động của con người và cộng đồng trong việc
thực hiện và đạt được mục tiêu đề ra.
1.3. Khái quát về công tác quản lý nội trú ở trường phổ thông có nhiều cấp
học
1.3.1.Vị trí, vai trò của trường phổ thông có nhiều cấp học
1.3.1.1. Sự ra đời của trường phổ thông có nhiều cấp học
- Hầu như các trường phổ thông có nhiều cấp học hiện nay trong Tp.HCM
nói chung và trong Quận 11 nói riêng đều là mô hình trường Tư thục, Dân lập
(ngoài Công lập).
- Quyết định số 1931/QĐ-BGD&ĐT, ban hành ngày 20/8/1991 do Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế trường phổ thông Dân lập.
21
- Quyết định số 39/2001/QĐ-BGD&ĐT, ban hành ngày 28/8/2001 do Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành về Quy chế tổ chức và hoạt động của các
trường ngoài Công lập, hết hiệu lực ngày 15/05/2011.
- Thông tư số 13/2011/TT-BGDĐT, ban hành ngày 28/03/2011 do Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành về Quy chế tổ chức và hoạt động của
trường Tiểu học, trường Trung học Cơ sở, trường Trung học Phổ thông và trường

phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục.
- Quyết định 23/2000/QĐ-BGDĐT, ban hành ngày 11/7/2000 do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành về Điều lệ trường trung học. Theo Quyết định
23/2000/QĐ-BGDĐT quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của trường Trung
học cơ sở và trường Trung học phổ thông (sau đây gọi chung là trường Trung học);
về tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục phổ thông. Trường trung học là cơ sở giáo
dục của bậc Trung học, bậc học nối tiếp bậc Tiểu học của hệ thống giáo dục quốc
dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Trường trung học được tổ chức theo các
loại hình Công lập, Bán công, Dân lập, Tư thục. Trường Trung học Bán công, Dân
lập, Tư thục sau đây gọi chung là trường Trung học ngoài Công lập.
- Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT, ban hành ngày 02/4/2007 do Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành về Điều lệ trường THCS, THPT và
trường phổ thông có nhiều cấp học. Theo Quyết định 07/2007/QĐ-BGDĐT Bộ
GD-ĐT đã quy định chi tiết như sau:
+ Trường Trung học cơ sở (THCS), trường Trung học phổ thông (THPT) và
Trường phổ thông có nhiều cấp học (sau đây gọi chung là trường trung học).
+ Các trường phổ thông có nhiều cấp học gồm:
a) Trường Tiểu học và Trung học cơ sở;
b) Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông;
c) Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
- Tên trường phổ thông có nhiều cấp học cũng được thay đổi từ quyết định
số 07/2007/QĐ-BGDĐT của Bộ GD-ĐT.
- Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT được thay thế bởi thông tư 12/2011/
TT-BGDĐT ban hành ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo[5].
1.3.1.2. Vị trí của trường phổ thông có nhiều cấp học
22
- Theo điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và
trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo thông tư 12/2011/TT-
BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông

có nhiều cấp học (sau đây gọi chung là trường Trung học). Trường Trung học là cơ
sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp
nhân và có con dấu riêng [5].
1.3.1.3. Nhiệm vụ và quyền hạn trường phổ thông có nhiều cấp học
- Theo điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và
trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo thông tư 12/2011/TT-
BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nhiệm
vụ, quyền hạn của trường trung học kể cả hai loại hình Công lập và Tư thục (ngoài
Công lập) như sau [5]:
+ Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu,
chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động
giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
+ Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
+ Tuyển sinh và tiếp nhận HS; vận động HS đến trường; quản lý HS theo
quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
+ Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối
hợp với gia đình HS, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
+ Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định
của Nhà nước.
+ Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, HS tham gia hoạt động xã hội.
+ Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
+ Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
- Đối với trường tư thục thực hiện đúng quyền hạn và nhiệm vụ đã được quy
định trên, kèm theo những quy định cụ thể tại điều 2 quy chế tổ chức và hoạt động
23
của trường Tiểu học, trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường
phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục ban hành kèm theo thông tư
13/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo [5]

[6]:
+ Trường phổ thông Tư thục tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế
hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ
GV, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục
phổ thông.
+ Có trách nhiệm báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định và yêu cầu của
các cơ quan quản lý trực tiếp.
1.3.2. Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của GVQN nội trú
1.3.2.1. Chức năng – nhiệm vụ của GVQN nội trú
- Về tên gọi “Giáo viên quản nhiệm nội trú”: Có lẽ tên gọi này được ra đời
sau khi hệ thống các trường phổ thông nội trú được thành lập.
+ Với các trường phổ thông, các tên gọi GVCN và GV bộ môn là vô cùng
thân thuộc. Để dễ dàng phân biệt với hệ thống GVCN ở lớp học, có thể các nhà
quản lý trường phổ thông nội trú đã gọi tên“GVQN nội trú” cho hệ thống giáo viên
quản lý khu KTX. Nếu GV chủ nhiệm là người chịu trách nhiệm chính về mọi hoạt
động của học sinh ở lớp học thì giáo viên quản nhiệm nội trú là người chịu trách
nhiệm chính về mọi hoạt động của học sinh nội trú.
+ Với định nghĩa trên, tên gọi “GVQN nội trú” vẫn còn nhiều bất cập.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn khó tìm một tên gọi nào phù hợp và phổ biến hơn. Bằng
chứng là sau hơn 20 năm hệ thống trường phổ thông nội trú hình thành và phát
triển, tên gọi “GVQN nội trú” vẫn là tên gọi được sử dụng nhiều và trở nên quen
thuộc nhất.
1.3.2.2. Chức năng của GVQN (giáo viên quản nhiệm) nội trú
- Từ tên gọi trên, chúng ta đã thấy được chức năng, đặc thù của GVQN Nội
trú: Bộ phận này có nhiệm vụ chăm nom, điều khiển và chịu trách nhiệm hoàn toàn
về mọi hoạt động của học sinh ở khu nội trú nhà trường.
24

×