Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

Đề tài : Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa của công ty Sứ Thanh Trì

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (234.88 KB, 31 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình xây dựng và đổi mới, ngành xây dựng
đóng vai trò rất quan trọng trong sự đổi mới và phát triển của đất nước. Có rất
nhiều các công trình đô thị, nhà ở mọc lên như nấm trên mọi miền Tổ quốc. Xã
hội ngày càng phát triển, nhu cầu con người ngày càng được nâng cao thì sản
phẩm sứ vệ sinh càng không thể thiếu trong các công trình xây dựng. Trên thị
trường Việt Nam hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh
trong lĩnh vực sứ vệ sinh. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp đó buộc phải
tìm cách cạnh tranh với nhau bằng cách sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để
cắt giảm chí phí, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm nhằm thoả mãn
một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng để bán được sản phẩm với doanh thu
cao nhất và chi phí thấp nhất có thể.
Công ty Sứ Thanh Trì là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng
công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng ( Viglacera ). Trong những năm gần đây,
Công ty đã được đánh giá là một trong những công ty Nhà nước làm ăn có hiệu
quả do có đổi mới trong cách nghĩ, cách làm và có bước đầu tư đúng hướng.
Công ty đã cố gắng phấn đấu không ngừng để có thể sản xuất ra những sản phẩm
sứ vệ sinh có mẫu mã và chất lượng tốt, giá cả phải chăng thoả mãn nhu cầu
khách hàng trong và ngoài nước. Đặc biệt đây là doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh có quy mô lớn nên việc thực tập tại Công ty đã khiến em học hỏi được rất
nhiều kiến thức thực tế để bổ sung cho kiến thức lý thuyết đã được học ở trường
Đại học. Qua 4 tháng thực tập tại phòng kinh doanh của Công ty em đã phần nào
hiểu được về hoạt động tiêu thụ sản phẩm sứ vệ sinh của Công ty. Vì vậy em xin
mạnh dạn chọn đề tài: “ Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường nội địa của Công ty Sứ Thanh Trì ” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên
đề tốt nghiệp của mình. Trong thời gian thực tập và hoàn thành chuyên đề tốt
1
nghiệp, em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo - TS Trần
Việt Lâm và thầy giáo – Th.S Vũ Trọng Nghĩa cùng toàn thể cán bộ công nhân
viên tại phòng kinh doanh nói riêng và trong Công ty Sứ Thanh Trì nói chung.
Em xin chân thành cảm ơn!


Bố cục chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương I: Giới thiệu khái quát về Công ty Sứ Thanh Trì
Chương II: Thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa
của Công ty Sứ Thanh Trì
Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm
trên thị trường nội địa của Công ty Sứ Thanh Trì
2
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY SỨ THANH TRÌ
1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Sứ Thanh Trì
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
- Thông tin chung về Công ty Sứ Thanh Trì
Công ty Sứ Thanh Trì là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng
công ty Thuỷ Tinh và gốm xây dựng - Bộ xây dựng chuyên sản xuất sứ vệ sinh
cao cấp mang nhãn hiệu Viglacera, Sofa và Monaco phục vụ cho nhu cầu xây
dựng trong và ngoài nước. Ngày 24/03/1993 theo quyết định số 076/BXD –
TCLĐ của Bộ xây dựng Nhà máy Sứ Thanh Trì đã được thành lập. Ngày
30/07/1994 Nhà máy Sứ Thanh Trì được đổi tên thành Công ty Sứ Thanh Trì
theo quyết định số 484/ BXD – TCLĐ.
Tên đầy đủ: Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Sứ Thanh Trì
Tên giao dịch quốc tế của Công ty: Thanh Trì Sanitary Wares Company
Địa chỉ: Phường Thanh Trì, Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Điện thoại: 84-4-8611056, 84-4-86446410
Fax: 84-4-8613147
- Công ty Sứ Thanh Trì được thành lập từ năm 1961 đã có những bước
phát triển đáng kể được chia thành các giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1961 - 1987:
Tháng 03/1961, Xưởng gạch Thanh Trì được thành lập ( sau đổi tên thành
Xí nghiệp gạch Thanh Trì ) với hình thức là Xí nghiệp quốc doanh theo quyết
định số 326 ngày 22/03/1961 của Bộ Kiến trúc ( nay là Bộ Xây dựng ) với nhiệm

vụ chuyên sản xuất các loại gạch đá men, gạch chịu lửa cấp thấp, gạch lát vỉa hè,
ống máy thoát nước…với sản lượng rất nhỏ, chỉ khoảng vài trăm viên mỗi loại.
3
Đến năm 1980 Xí nghiệp được đổi tên thành Nhà máy Sứ xây dựng Thanh Trì và
bắt đầu đi vào sản xuất các loại sản phẩm có sứ tráng men như: gạch chịu axit,
gạch men sứ, ống sành, sứ vệ sinh... Trong những năm 80 khối lượng sản xuất
hàng năm của Nhà máy chỉ khoảng 80 tấn/ năm với đội ngũ công nhân viên là
250 người. Do sản xuất dàn trải nhiều mặt hàng cộng với công nghệ sản xuất lạc
hậu, thiết bị chắp vá, tuỳ tiện nên hầu hết các sản phẩm đều có chất lượng thấp,
mẫu mã đơn điệu. Tuy nhiên, do cơ chế bao cấp và sản lượng sản xuất ra ít nên
Nhà máy vẫn tiêu thụ hết sản phẩm.
Giai đoạn 1988 – 1991:
Giai đoạn này Nhà nước bắt đầu chuyển từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ
chế thị trường. Tuy nhiên Nhà máy vẫn chưa kịp thay đổi, vẫn sản xuất ra những
sản phẩm có chất lượng kém, mẫu mã đơn điệu, chi phí sản xuất lại quá cao
khiến sản phẩm không thể cạnh tranh được trên thị trường. Nhà máy lâm vào
tình trạng làm ăn thua lỗ, hơn một nửa công nhân không có việc làm và đứng bên
bờ vực của sự phá sản.
Giai đoạn từ 1992 đến nay:
Trong thời kỳ khó khăn đó, Nhà máy đã nhận được sự giúp đỡ của Bộ Xây
dựng và liên hiệp các xí nghiệp Thuỷ tinh và Gốm xây dựng ( nay là Tổng công
ty Thuỷ Tinh và Gốm xây dựng). Bộ đã quyết định cải cách Nhà máy theo
hướng tổ chức và cải tiến lại bộ máy nhân sự, đổi mới công nghệ cho phù hợp
với tình hình chung của nền kinh tế Việt Nam và thế giới. Bộ Xây dựng đã kiên
quyết đưa Nhà máy thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện tại. Do nhận thức được nhu
cầu ngày càng tăng của sản phẩm Sứ vệ sinh và xuất phát từ quan điểm “ Công
nghệ quyết định chất lượng sản phẩm ”, Nhà máy đã được chỉ đạo ngừng sản
xuất để tập trung vào nghiên cứu công nghệ mới, đổi mới thiết bị và điều kiện
làm việc, sắp xếp lại mặt hàng và dây chuyền sản xuất. Thực tế đã chứng minh
4

quyết định này có vẻ táo bạo nhưng lại hoàn toàn đúng đắn. Sau 11 tháng ngừng
sản xuất đến tháng 11/1992 Nhà máy bắt đầu sản xuất lại và đã thu được những
kết quả đáng khích lệ. Trong vòng 46 ngày cuối năm 1992, Nhà máy đã sản xuất
được 20.400 sản phẩm với chất lượng cao hơn hẳn các năm trước, gấp 3-4 lần
sản lượng của cả năm 1990, 1991. Từ đó đến nay Nhà máy đã có những bước
thay đổi đáng kể cả về chất và lượng. Từ việc sản xuất ra những sản phẩm Sứ vệ
sinh đơn điệu, kém chất lượng, Nhà máy đã sản xuất được những sản phẩm Sứ
vệ sinh cao cấp, phong phú và đa dạng về mẫu mã, màu sắc và chủng loại. Sản
lượng và doanh thu của Nhà máy đều tăng trưởng không ngừng qua mỗi năm sản
xuất. Chỉ trong vòng 3-4 năm sau Nhà máy đã chiếm một thị phần không nhỏ
trên thị trường Sứ vệ sinh cả nước từ Lạng Sơn, Quảng Ninh đến thành phố Hồ
Chí Minh. Cán bộ công nhân viên của Nhà máy đã có việc làm thường xuyên và
ổn định.
Ngày 14/03/1994 theo quyết định 076 A/BXD – TCLĐ Nhà máy trở thành
Doanh nghiệp Nhà nước.
Ngày 30/09/1994 Nhà máy đổi tên thành Công ty Sứ Thanh Trì trực thuộc
Tổng công ty Thuỷ Tinh và Gốm xây dựng theo quyết định 484/BXD – TCLĐ
và duy trì cho đến nay.
Năm 1997, Công ty đã trở thành viên chính thức của Hiệp Hội Gốm sứ
Anh Quốc ( Ceram Research ). Đến năm 1998 Công ty là hội viên chính thức
của Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam ( VCCI ). Tháng 07/2000
Công ty đã nhận chứng chỉ chất lượng ISO 9002 của BVQI – Anh Quốc và
Quacert - Việt Nam. Tháng 12/2003 Công ty đã nhận chứng chỉ phù hợp tiêu
chuẩn ISO 9001:2000 của BVQI – Anh Quốc và Quacert - Việt Nam.
Năm 2005, theo Quyết định số 225/TCT – HĐQT của HĐQT Tổng công
ty Thuỷ Tinh và Gốm xây dựng thuộc Bộ Xây dựng sát nhập nhà máy Sứ Bình
5
Dương vào Công ty Sứ Thanh Trì nâng tổng công suất đạt hơn 800.000 sản
phẩm mỗi năm.
Trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử hình thành và phát triển, cho

đến nay, Công ty Sứ Thanh Trì đã có vị thế vững chắc trên thị trường Sứ vệ sinh
cả trong và ngoài nước.
1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
- Chức năng:
Công ty Sứ Thanh Trì chuyên sản xuất các mặt hàng Sứ vệ sinh phục vụ
cho nhu cầu xây dựng trong và ngoài nước.
- Nhiệm vụ:
Công ty Sứ Thanh Trì có nhiệm vụ chuyên sản xuất các mặt hàng Sứ vệ sinh
xây dựng trong nước và xuất khẩu. Sản phẩm của Công ty được sản xuất trên dây
chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại của Italia mang nhãn hiệu Viglacera
hay Monoco hoặc Sofa. Nhiệm vụ của Công ty được cụ thể hoá như sau:
+ Nghiên cứu nhu cầu và khả năng của thị trường về sản phẩm để xây
dựng chiến lược phát triển, xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về sản xuất
kinh doanh trình Bộ xây dựng duyệt và tổ chức thực hiện nhằm đạt đựơc mục
đích đã đề ra.
+ Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đã đăng ký,
đúng mục đích lập, thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ Nhà nước giao cho.
+ Tổ chức nghiên cứu nâng cao năng suất lao động, áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào trong sản xuất, cải tiến công nghệ và chất lượng sản phẩm phù
hợp với thị hiếu khách hàng; tổ chức lực lượng lao động có kỹ thuật, thiết bị để
sản xuất kinh doanh, đảm bảo chất lượng sản phẩm.
+ Chấp hành luật pháp và những quy định của Nhà nước, thực hiện các
chế độ chính sách về quản lý và sử dụng nguồn vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực
6
nhằm thực hiện hạch toán kinh tế; bảo toàn và phát triển nguồn vốn; thực hiện
nghĩa vụ đối với Nhà nước; nộp thuế cho ngân sách.
+ Thực hiện đầy đủ mọi cam kết trong hợp đồng kinh tế đã kí với các tổ
chức trong và ngoài nước. Quản lý toàn diện, đào tạo và phát triển đội ngũ công
nhân viên chức theo pháp luật của Nhà nước và sự phân cấp của Bộ để thực hiện
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty; chăm lo đời sống, tạo điều kiện

thuận lợi cho người lao động, thực hiện phân phối theo lao động ; đảm bảo thực
hiện tốt công tác vệ sinh môi trường.
+ Bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh chính
trị và trật tự an toàn xã hội theo quy định của pháp luật
1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty Sứ Thanh Trì
1.2.1. Mô hình cơ cấu tổ chức của Công ty
Công ty Sứ Thanh Trì là một đơn vị trực thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh và
Gốm xây dựng nhưng được phép hạch toán độc lập. Do đó Công ty có quyền
quyết định cơ cấu tổ chức cho phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty.
Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng. Cơ cấu này vừa
đảm bảo thực hiện chế độ một thủ trưởng vừa phát huy được quyền dân chủ sáng,
độc lập tương đối của các phòng ban. Theo cơ cấu này, Giám đốc là người trực
tiếp điều hành các phòng ban, phân xưởng, chịu trách nhiệm cao nhất về mọi hoạt
động của Công ty. Trợ giúp cho giám đốc là 3 Phó giám đốc: Phó giám đốc phụ
trách kỹ thuật, phó giám đốc phụ trách kinh doanh và phó giám đốc xí nghiệp sản
xuất khuôn. Cấp dưới nữa là các phòng ban và Nhà máy Sứ Thanh Trì.

7
: Quan hệ trực tuyến
: Quan hệ chức năng
1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
- Ban Giám đốc của Công ty gồm Giám đốc và các phó Giám đốc:
+ Giám đốc:
Là người đứng đầu Công ty, chịu trách nhiệm cao nhất trong việc quản lý,
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, có quyền ra quyết định
trực tiếp điều hành các phòng ban, phân xưởng. Giám đốc do Tổng Công ty
Thuỷ tinh và Gốm xây dựng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Bộ xây dựng và
Tổng Công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng, luật pháp và toàn bộ cán bộ công
nhân viên trong Công ty.

+ Phó giám đốc:
Là người giúp việc cho Giám đốc, tham gia với Giám đốc trong công việc
chung của Công ty. Phó giám đốc là người phụ trách kế hoạch sản xuất, công tác
kỹ thuật. Khi Giám đốc đi vắng có thể uỷ quyền cho phó Giám đốc thay mặt
Giám đốc giải quyết những vấn đề thuộc quyền Giám đốc. Phó giám đốc do
BAN
GIÁM ĐỐC
Xí nghiệp
sx khuôn
Nhà máy
Sứ
Chi nhánh
Phòng
KD
Phòng
XK
Phòng
TCLĐ
Phòng
KHĐT
Văn
phòng
Phòng
TCKT
8
Giám đốc đề nghị, Tổng giám đốc có quyền bổ nhiệm, bãi nhiệm. Công ty có 3
phó Giám đốc phụ trách các lĩnh vực khác nhau:
* Phó Giám đốc kinh doanh: phụ trách tiêu thụ sản phẩm, tổ chức mạng
lưới bán hàng, các đại lý tiêu thụ sản phẩm cho Công ty, được uỷ quyền ký kết
các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao và các

kế hoạch về tiêu thụ sản phẩm mà Công ty đề ra.
* Phó Giám đốc sản xuất: phụ trách về sản xuất của Công ty, theo dõi và
giám sát quá trình sản xuất, tiếp thu ý kiến từ bộ phận sản xuất để cải tiến quá
trình sản xuất, tiến hành đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất.
* Phó Giám đốc kỹ thuật: phụ trách về máy móc thiết bị của Công ty, đảm
bảo cho máy móc thiết bị luôn hoạt động tốt. Tiến hành chỉ đạo sửa chữa và bảo
dưỡng máy móc thiết bị theo chế độ thường xuyên và tạm thời.
- Phòng Tài chính - Kế toán:
Có chức năng tham mưu cho Giám đốc thực hiện triển khai toàn bộ công
tác tài chính thống kê, hạch toán kinh tế theo chế độ và luật kế toán hiện hành.
- Phòng kinh doanh:
Đứng đầu là trưởng phòng kinh doanh, là người trực tiếp điều hành các
công việc liên quan đến kinh doanh bán hàng và tiến hành công tác xúc tiến tiêu
thụ, phân phối. Phòng kinh doanh có các nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Tổ chức nghiên cứu thị trường
+ Tổ chức mạng lưới bán hàng
+ Tổ chức xây dựng kênh phân phối và tiến hành phân phối hàng hoá theo
kênh phân phối đó
+ Tổ chức nghiệp vụ bán hàng
+ Tổ chức các hoạt động lưu trữ hàng hoá
- Phòng tổ chức lao động:
9
Có chức năng tham mưu cho Đảng uỷ và Giám đốc về công tác tổ chức
sản xuất, quản lý và sử dụng lực lượng lao động, thực hiện chế độ chính sách đối
với người lao động, tiến hành công tác thanh tra, bảo vệ, lập công tác thi đua
khen thưởng…
- Phòng kế hoạch - đầu tư:
Phòng kế hoạch và đầu tư có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc thực hiện kế
hoạch, chuẩn bị để Giám đốc ký hợp đồng kinh tế; giúp Giám đốc lập kế hoạch
để đề ra nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cho từng phòng ban cà các đơn vị kinh tế

trực thuộc, theo dõi thực hiện các hợp đồng sản xuất, quản lý kế hoạch vật tư,
phương tiện vận tải của công ty. Đảm nhận công tác quản lý và sử dụng vốn đầu
tư nhằm mở rộng và phát triển công ty.
- Các chi nhánh:
Có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tổ chức phân phối hàng hoá cho các
đại lý, ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với các khách hàng trong và ngoài
nước. Đồng thời, hàng tháng lập và nộp báo cáo về toàn bộ quá trình hoạt động
của mình cho Công ty, chịu trách nhiệm thực hiện các công việc được giao. Các
chi nhánh chịu sự quản lý trực tiếp của phó Giám đốc kinh doanh. Công ty có 2
chi nhánh: Chi nhánh Đà Nẵng và Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.
- Xí nghiệp sản xuất khuôn:
Có nhiệm vụ sản xuất khuôn mẫu bằng thạch cao để phục vụ cho công
đoạn gia công, tạo hình sản phẩm. Xí nghiệp có 2 phân xưởng: phân xưởng sản
xuất thạch cao và phân xưởng sản xuất khuôn mẫu và phòng thiết kế, phòng tổng
hợp khuôn mẫu.
- Nhà máy Sứ: Gồm Nhà máy Sứ Thanh Trì, Nhà máy Sứ Bình Dương và
phòng kỹ thuật KCS.
10
+ Nh mỏy S Thanh Trỡ l n v kinh t cú quy mụ ln nht v quan
trng nht ca Cụng ty. Nh mỏy gm 4 phõn xng sau:
*Phân xởng gia công tạo hình:
Có nhiệm vụ tạo hình các sản phẩm, gồm: tổ đổ rót và tổ hấp sấy cỡng bức
sản phẩm rồi phân loại sản phẩm hỏng sau công đoạn sấy cỡng bức trớc khi
chuyển sang công đoạn sau.
*Phân xởng kỹ thuật men.
Thực chất phân xởng này làm nhiệm vụ phun men sản phẩm trớc khi đem đi
nung bằng kỹ thuật phun men hiện đại.
*Phân xởng sấy nung.
Nhiệm vụ của phân xởng là đa sản phẩm đợc phun men vào lò nung sử dụng
nguyên liệu gas tiên tiến cho phép ra lò những sản phẩm hoàn hảo và đồng bộ.

*Phân xởng phân loại và đóng gói sản phẩm.
Sản phẩm sau khi đợc sấy nung đợc đem ra phân loại thành các loại khác
nhau. Sản phẩm đủ tiêu chuẩn mới đợc đa ra bán ngoài thị trờng vì để giữ cho sản
phẩm của công ty là mãi mãi với thời gian cho nên công ty kiên quyết không bán
sản phẩm loại 2.
+ Phũng k thut KCS: cú nhim v gii quyt nhng vn v k
thut, cụng ngh v nhng ng dng tin b khoa hc k thut vo trong sn xut
cú th sn xut ra sn phm cú cht lng tt nht. Ngoi ra cũn phi kim tra
cht lng sn phm trc khi xut xng loi b sn phm li, hng. õy l
b phn quyt nh trc tip n cht lng v nng lc cnh tranh ca sn phm
trờn th trng.
1.3. ỏnh giỏ kt qu hot ng ch yu ca Cụng ty
1.3.1. C s vt cht
- a im sn xut v kinh doanh ca Cụng ty t ti Qun Hong Mai,
H Ni. õy l a im vụ cựng thun li vỡ ven ni thnh H Ni ni cú nhu
11
cầu xây dựng cao nên chi phí vận chuyển vào thị trường Hà Nội khá thấp, làm
tăng khả năng cạnh tranh. Đây là doanh nghiệp Nhà nước nên được cấp mặt
bằng đất tương đối rộng khoảng hơn 64.000 m2 rất thuận lợi cho sản xuất và
kinh doanh.
- Công ty Sứ Thanh Trì được đánh giá có máy móc thiết bị, dây chuyền
công nghệ là tương đối hiện đại trong ngành sản xuất sứ ở Việt Nam. Dây
chuyền công nghệ, trang thiết bị của Công ty chủ yếu có nguồn gốc nhập ngoại
thông qua việc mua bán hoặc chuyển giao công nghệ từ nhiều nước phát triển.
Dây chuyên đó đã từng bước được hiện đại hoá qua những năm sau:
Năm 1994, do nhận định được nhu cầu ngày càng tăng của sứ vệ sinh,
công ty đã mạnh dạn đầu tư thực hiện dự án dây chuyền sản xuất sứ vệ sinh với
công nghệ và thiết bị của Italia có công suất thiết kế là 75.000 sản phẩm/năm với
tổng số vốn đầu tư trên 34 tỷ đồng Việt Nam. Dây chuyền này đi vào hoạt động
đã cho ra đời các sản phẩm sứ vệ sinh cao cấp đạt tiêu chuẩn Châu Âu. Với ý

thức tiết kiệm, tận dụng hết năng lực của từng công đoạn, kết hợp với sự sáng
tạo trên cơ sở khoa học của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty đã
nâng công suất lên 100.000 sản phẩm/năm, bằng 133% công suất thiết kế. Trên
cở sở những kết quả đạt được đáng kích lệ đó, từ tháng 5/1996 đến tháng 4/1997,
Công ty đã thực hiện việc đầu tư lần 2 cải tạo và mở rộng dây chuyền sản xuất
nâng công suất từ 100.000 sản phẩm/năm lên 400.000 sản phẩm/năm với các
thiết bị máy móc chủ yếu được nhập từ Italia, Anh, Mỹ. Tổng số vốn đầu tư trên
90 tỷ đồng Việt Nam. Trong những năm gần đây Công ty đã liên tục nhập thêm
dây chuyên sản xuất khuôn mẫu, một số máy móc thiết bị sử dụng cho việc chế
tạo men chống dính...Hiện nay dây chuyền đang hoạt động của Công ty có năng
lực sản xuất lên đến 500.000 – 600.000 sản phẩm/năm, đứng đầu về sản lượng so
với các nhà máy sản xuất sứ vệ sinh trong nước.
12

×