Tải bản đầy đủ (.doc) (5 trang)

Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 9 chọn lọc số 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (138.8 KB, 5 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẮC GIANG
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Đề thi có 01 trang
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI VĂN HOÁ CẤP TỈNH
NĂM HỌC 2012-2013
MÔN THI: Ngữ văn; LỚP: 9 Phổ thông
Ngày thi: 30/3/2013
Thời gian làm bài 150 phút, không kể thời gian giao đề
Câu 1. (4,0 điểm)
a. Xác định câu chứa hàm ý và nêu nội dung của hàm ý đó trong đoạn trích sau:
… Liên giả vờ không nghe câu chồng vừa hỏi. Trước mặt chị hiện ra một cái bờ
đất lở dốc đứng của bờ bên này, và đêm đêm cùng với con lũ nguồn đã bắt đầu dồn về,
những tảng đất đổ òa vào giấc ngủ.
- Hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ?
Liên vẫn không đáp và biết chồng đang nghĩ gì. Chị đưa những ngón tay gầy guộc
âu yếm vuốt ve bên vai chồng:
- Anh cứ yên tâm. Vất vả, tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho
anh được.
(Bến quê – Nguyễn Minh Châu)
b. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu ca dao sau:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Câu 2. (6,0 điểm)
Một con tim khôn ngoan và biết cảm thông không đáp trả nỗi đau bằng nỗi đau.
Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Câu 3. (10,0 điểm)
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả
muôn vật, muôn loài…
(Ý nghĩa văn chương – Hoài Thanh, Ngữ văn 7,
T2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, Tr.60)


Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua tác phẩm Chuyện người con
gái Nam Xương (Trích Truyền kỳ mạn lục) của Nguyễn Dữ và đoạn trích Kiều ở lầu
Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du.
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh Số báo danh:
Giám thị 1 (Họ tên và ký)
Giám thị 2 (Họ tên và ký)
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẮC GIANG
HƯỚNG DẪN CHẤM
BÀI THI CHỌN HỌC SINH GIỎI VĂN HOÁ CẤP TỈNH
NGÀY THI: 30/3/2013
MÔN THI: Ngữ văn; LỚP: 9 PHỔ THÔNG
Bản hướng dẫn chấm có 03 trang
Câu Ý Nội dung Điểm
Câu 1 Tiếng Việt 4,0
a. Tìm câu chứa hàm ý và nêu nội dung hàm ý trong đoạn trích Bến quê của
Nguyển Minh Châu (2,0 điểm)
- Câu chứa hàm ý: Hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ?
- Nội dung hàm ý:
+ Cảm nhận về khoảng thời gian nằm bệnh rất lâu dài của nhân vật Nhĩ.
+ Cảm giác băn khoăn, lo lắng mang chút ăn năn; tình cảm yêu thương của Nhĩ
dành cho vợ và gia đình.
1,0
0,5
0,5
b. Tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu ca dao Cày đồng đang
buổi ban trưa… (2,0 điểm)
- Biện pháp tu từ được sử dụng là so sánh và nói quá: Mồ hôi thánh thót như mưa

ruộng cày.
- Tác dụng:
+ Thể hiện nỗi nhọc nhằn, cơ cực, cuộc sống lam lũ của người nông dân với công
việc đồng áng vất vả trong thời tiết khắc nghiệt.
+ Tạo tính hình tượng, giúp người đọc cảm nhận được cụ thể, sâu sắc nội dung,
cảm xúc của câu ca dao.
0,5
1,0
0,5
Câu 2 Suy nghĩ về ý kiến Một con tim khôn ngoan và biết cảm thông không đáp trả nỗi
đau bằng nỗi đau.
6,0
Yêu cầu về mặt kỹ năng
- Biết làm một bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lý, có bố cục
mạch lạc, lô-gic, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực, vận dụng linh hoạt các thao
tác nghị luận: giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận…
- Diễn đạt trôi chảy, sáng rõ, linh hoạt; không mắc các lỗi viết câu, dùng từ, chính
tả.
Yêu cầu về mặt kiến thức
a. Giải thích ý kiến (1,0 điểm)
- Về nội dung trực tiếp: Một trái tim khôn ngoan và biết cảm thông là hình ảnh ẩn
dụ cho con người sống sáng suốt, nhận thức sâu sắc về cuộc đời, biết sẻ chia, đồng
cảm. Những con người đó sẽ không bao giờ gây ra nỗi đau cho người khác để xoa
dịu nỗi đau của mình, hoặc trả đũa kẻ gây ra nỗi đau cho mình bằng những đau
thương.
- Thực chất, ý kiến đề cập đến một quan niệm sống, một lối sống cao đẹp: sống bao
dung, vị tha, biết đồng cảm và sẻ chia.
b. Bàn luận về quan niệm sống đặt ra trong ý kiến (4,0 điểm)
- Biểu hiện của lẽ sống bao dung, vị tha và biết cảm thông:
+ Nhận thức rõ về bản thân, về người khác, về mọi sự việc diễn ra trong đời sống,

về bản chất của xã hội để có cách ứng xử hợp lý, nhân văn.
+ Luôn rộng lòng tha thứ cho lỗi lầm, gạt đi những đau thương, thù hận, tỵ hiềm;
vượt lên suy nghĩ ích kỷ, nhỏ nhen của cá nhân…
1,0
0,5
0,5
ĐỀ CHÍNH THỨC
+ Biết lắng nghe, chia sẻ, đồng cảm với những nỗi đau, những mất mát của người
khác; biết sống cho đi những yêu thương, thậm chí quên đi nỗi đau của mình vì
người khác.
- Ý nghĩa của lẽ sống vị tha và biết cảm thông:
+ Tạo ra mối quan hệ tốt đẹp, cái nhìn nhân ái giữa con người với con người; xoa
dịu đau thương, mất mát; đánh tan những hận thù, tạo nên cuộc sống hòa bình, thân
thiện, tươi đẹp.
+ Bản thân người sống bao dung, biết đồng cảm sẽ luôn cảm thấy hạnh phúc, sẽ
nhận được tình yêu thương; đời sống tâm hồn phong phú, luôn mở rộng lòng mình
để đón nhận vẻ đẹp của cuộc đời và tình người.
+ Sống vị tha, cảm thông là biểu hiện của phẩm chất cao quý trong con người, của
đạo lý tốt đẹp trong cộng đồng. Nó góp phần hình thành lẽ sống nhân văn, tạo ra
những giá trị tinh thần đích thực, có ý nghĩa sâu bền.
- Phê phán những con người sống ích kỷ, hẹp hòi, sống bằng hận thù có những suy
nghĩ nhỏ nhen, tiêu cực; lên án những hành động gây hấn, những tội ác gây đau
thương cho người khác, những con người sống vô cảm trước nỗi đau của đồng loại.
c. Bài học trong nhận thức và hành động (1,0 điểm)
- Nhận thức rõ một trái tim khôn ngoan và biết cảm thông không đáp trả nỗi đau
bằng nỗi đau, thấy được giá trị của khoan dung, nhân ái, của sự đồng cảm, sẻ chia,
yêu thương trong cuộc sống.
- Luôn trau dồi tri thức và vốn hiểu biết, rèn luyện phẩm chất đạo đức, hình thành
cho mình lẽ sống tình thương, biết cảm thông, chia sẻ, biết bao dung, vị tha, biết
sống cho đi những giá trị của mình; giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình. Bản

thân cần có suy nghĩ tích cực, lạc quan, không sống nhỏ nhen, hẹp hòi, ích kỷ, nhìn
cuộc sống và con người bằng một cái nhìn đa chiều.
0,5
0,5
0,5
0,5
1,0
1,0
Câu 3 Bàn luận về ý kiến của Hoài Thanh Nguồn gốc cốt lõi của văn chương là lòng
thương người…
10,0
Yêu cầu về mặt kỹ năng
Viết được bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học với những yêu cầu cụ thể
như sau:
- Kết hợp hài hòa giữa giải thích, trình bày lý luận và vận dụng thực tế phân tích tác
phẩm chứng minh theo vấn đề nêu trong ý kiến.
- Bố cục mạch lạc, lập luận chặt chẽ, lô-gic, có sự cảm thụ, phân tích, lý giải qua
tác phẩm, đoạn trích cụ thể đã cho ở đề bài.
- Diễn đạt rõ ràng, linh hoạt, uyển chuyển; không mắc các lỗi về câu, dùng từ, chính
tả.
Yêu cầu về mặt kiến thức
a. Giới thiệu vấn đề nghị luận (1,0 điểm)
- Vấn đề trung tâm của văn chương là vấn đề con người và nguồn gốc cốt yếu của
văn chương chính là lòng thương người.
- Lòng thương người hay nói rộng ra là giá trị nhân đạo là phẩm chất cốt lõi, là tiêu
chuẩn cho một tác phẩm văn học chân chính.
b. Giải thích ý kiến (2,0 điểm)
- Hoài Thanh đã đưa ra vấn đề quan trọng, bản chất của văn chương, được coi là
nguồn gốc cốt yếu của văn chương: lòng thương người mà rộng ra thương cả muôn
vật, muôn loài. Văn chương chính là tiếng nói của tâm hồn, cảm xúc, chỉ bật ra khi

trong tim cuộc sống tràn đầy. Nói chuyện văn chương chính là chuyện của những
1,0
0,5
tâm hồn đồng điệu.
- Lòng thương người, thậm chí thương cả muôn vật, muôn loài là tình cảm rộng
lớn, cao cả, mang tầm nhân loại. Tình cảm ấy không chỉ là cội nguồn của văn
chương mà còn là thước đo giá trị của tác phẩm văn chương chân chính. Giá trị đó
chính là giá trị nhân đạo, là những ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà nhà văn gửi gắm
trong tác phẩm.
- Giá trị nhân đạo là một phẩm chất cao quý của tác phẩm văn học chân chính. Nói
đến giá trị nhân đạo, đến ý nghĩa nhân văn là nói đến vấn đề con người, vấn đề
nhân sinh đặt ra trong tác phẩm. Ở đó, con người luôn được đặt ở vị trí hàng đầu,
trong mối quan hoài thường trực của các nhà văn.
- Biểu hiện của giá trị nhân đạo rất đa dạng song thường tập trung vào những mặt
cụ thể sau: lòng thương yêu, sự cảm thông, xót xa trước những hoàn cảnh, những số
phận bất hạnh; lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con
người; ngợi ca, đề cao những vẻ đẹp, phẩm giá cao quý; trân trọng, nâng niu khát
vọng sống, khát vọng tình yêu và hạnh phúc của con người.
c. Giá trị nhân đạo qua tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và đoạn
trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (6,0 điểm)
- Tấm lòng yêu thương, đồng cảm, xót xa cho những số phận người phụ nữ tài sắc
mà bất hạnh, gặp nhiều bi kịch trong cuộc đời: số phận của Kiểu bị ném vào nhà
chứa, rồi giam lỏng trong lầu Ngưng Bích với nỗi cô đơn, buồn tủi, thương thân,
xót phận; là tình cảnh oan khiên nghiệt ngã của Vũ Nương, đến mức nàng phải
dùng cái chết để chứng tỏ tấm lòng trong trắng, tiết hạnh của mình.
- Qua bi kịch thân phận của Kiều và Vũ Nương, cả hai nhà văn lên án, tố cáo xã hội
phong kiến bất công, tàn bạo đã tước đi quyền sống, chà đạp lên con người. Đó là
chiến tranh phi nghĩa, là chế độ nam quyền (Chuyện người con gái Nam Xương), là
bọn quan lại tham lam, là lũ buôn thịt bán người không từ một thủ đoạn chỉ vì đồng
tiền (Truyện Kiều).

- Khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất cao quý của người phụ nữ, dù cuộc đời
của họ truân chuyên, nhục nhằn. Đó là lòng chung thủy, sự hiếu hạnh, giàu tình yêu
thương, luôn sống vì người khác, nghĩ cho người khác của Kiều và Vũ Nương.
- Trân trọng, đề cao những khát vọng nhân văn của người phụ nữ: khát vọng về tình
yêu, hạnh phúc, về một mái ấm gia đình bình dị, sum vầy.
d. Đánh giá về ý kiến của Hoài Thanh (1,0 điểm)
- Ý kiến của Hoài Thanh về nguồn gốc, phẩm chất của văn chương là ý kiến đúng
đắn, khoa học bởi nó đã nói lên đặc trưng, thuộc tính quan trọng nhất của văn học:
Văn học là tiếng nói của tâm hồn, cảm xúc; văn học mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
– “Văn học là nhân học” (M. Gorki).
- Tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (Trích Truyền kỳ mạn lục) của
Nguyễn Dữ và đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn
Du đã thể hiện rõ nét quan niệm văn học của Hoài Thanh. Bởi cả hai đều là những
tác phẩm mang giá trị nhân đạo cao cả, hướng tới con người, vì con người.
0,5
0,5
0,5
1,5
1,5
1,5
1,5
1,0
Tổng điểm toàn bài: 20,0
Hết
Lưu ý khi chấm bài:
- Trên đây chỉ là những ý cơ bản, giáo viên cần căn cứ cụ thể vào bài thi để chấm một cách
linh hoạt, hợp lý, phù hợp với đặc trưng bộ môn.
- Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, miễn là làm rõ vấn đề được yêu cầu
trong đề bài, đảm bảo kỹ năng hành văn, nội dung được sắp xếp lô-gic, hợp lý.
- Khuyến khích những bài làm có nhiều tìm tòi, phát hiện, sáng tạo trong nội dung và hình

thức thể hiện; trừ điểm đối với những bài mắc lỗi kiến thức cơ bản, lỗi hành văn và trình bày.

×