Tải bản đầy đủ (.doc) (44 trang)

nhà nước trong quản lí môi trường nước ở đô thị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (278.27 KB, 44 trang )

CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn

: 6.280.688
MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................3
B. PHẦN NỘI DUNG.......................................................................................5
Chương I: Vai trò của nhà nước trong quản lí môi trường nước
ở đô thị
1.QLNN về môi trường nước ở đô thị............................................................5
1.1.Quản lí môi trường nước ở đô thị ...............................................................5
1.2.Quản lí nhà nước về môi trường nước ở đô thị............................................6
1.3.Chức năng, nội dung của QLNN về môi trường nước ở đô thị...................6
2.Những công cụ quản lí môi trường nước ở đô thị......................................8
2.1.Công cụ kinh tế............................................................................................8
2.2.Công cụ pháp lí..........................................................................................13
2.3.Công cụ kĩ thuật.........................................................................................17
2.4.Công cụ giáo dục và truyền thông.............................................................21
3.Tính tất yếu khách quan của QLNN về môi trường nước ở đô thị........23
ChươngII:Thực trạng môi trường nước ở đô thị & nguyên nhân
1.Thực trạng...................................................................................................26
1.1.Cấp nước....................................................................................................26
1.2.Úng ngập đô thị .........................................................................................28
1.3.Nước thải....................................................................................................30
2.Nguyên nhân ...............................................................................................31
2.1.Nguyên nhân ô nhiễm từ nguồn nước thải................................................31
2.2.Nguyên nhân tình trạng úng ngập..............................................................34
ChươngIII: Giải pháp của nhà nước trong QLMT nước ở đô thị
1.Sử dụng các công cụ quản lí vào quản lí môi trường nước ở đô thị.......36
1.1.Sử dụng công cụ pháp lí.............................................................................36
1.2.Sử dụng công cụ kĩ thuật trong quản lí môi trường nước..........................36
1


CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn

: 6.280.688
1.3.Sử dụng công cụ kinh tế ............................................................................37
1.4.Sử dụng công cụ giáo dục và truyền thông................................................38
2.Kiến nghị với cơ quan nhà nước................................................................39
2.1.Về vấn đề xử lí nước thải ở đô thị..............................................................39
2.2.Về vấn đề giải quyết úng ngập...................................................................40
2.3.Về vấn đề cung cấp nước sạch...................................................................40
2.4. Về vấn đề xử lý vi phạm nguồn nước ở đô thị..........................................40
C. PHẦN KẾT LUẬN.....................................................................................42
D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................43
2
LỜI MỞ ĐẦU
Nước là tài sản chung của nhân loại, là một trong bốn nhân tố tạo nên
môi trường, nó có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự sống của con
người và sinh thực vật. Không có nước thì sự sống của muôn loại trên hành
tinh không thể tồn tại được. Con người khai thác từ nguồn tự nhiên và sử
dụng cho nhiều mục đích khác nhau như phục vụ ăn uống, sinh hoạt của chính
con người, nước dùng cho sản xuất công nghiệp, cho sản xuất nông nghiệp và
cho rất nhiều hình thức dịch vụ khác…Nước sử dụng cho những mục đích
trên lại thải vào chính nguồn nước nơi mà con người đã khai thác cho mục
đích sử dụng của mình. Tất cả những hoạt động đó do thiếu quản lí hay hiểu
biết đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ở nhiều nơi đã trở nên trầm
trọng.
Nước có vai trò quan trọng đối với sự sống nhưng nước không phải là
vô tận. Khoảng 97% khối lượng nước trên bề mặt trái đất là nước mặn chỉ có
một phần nhỏ lượng nước ngọt phục vụ cho nhu cầu của con người. Nguồn
nước ngọt vốn đã hạn chế đối với nhu cầu ngày càng gia tăng của con người
vậy mà tại nhiều khu vực kể cả nước mặt lẫn nước ngầm đang bị ô nhiễm

nghiêm trọng: như nước thải không được xử lí từ các nhà máy, xí nghiệp, từ
các loại dịch vụ và các khu đô thị…vào các nguồn nước nhận. Đã có rất nhiều
ví dụ về sự ô nhiễm nước tại một số khu vực và thành phố lớn đặc biệt là các
khu đô thị và khu công nghiệp lớn như Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Hà Đông…
Sự phát triển các đô thị cùng với việc gia tăng tỷ lệ dân số đô thị gây áp
lực rất lớn đến môi trường đô thị, bên cạnh sự phát triển mạnh ngành công
nghiệp một mặt góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế nhưng lại gây ảnh
hưởng môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường nước. Ở Việt Nam
bảo vệ tài nguyên nước và tránh sự ô nhiễm ở các khu đô thị gây ảnh hưởng
đến sức khoẻ cộng đồng là vấn đề được nhà nước và xã hội quan tâm rất
nhiều. Tình trạng úng ngập đô thị sau mỗi trận mưa lớn và cung cấp nước
sạch, nước thải chưa qua xử lí đã thật sự là vấn đề nan giải cần giải quyết. Đã
có rất nhiều chính sách, biện pháp được áp dụng nhằm bảo vệ nguồn nước,
ngăn chặn hành vi gây ô nhiễm nguồn nước của nhà nước ta, song vì để giải
quyết vấn đề phức tạp này đòi hỏi phải có sự quản lí thật chặt chẽ của nhà
nước phối hợp với ý thức bảo vệ môi trường nước của toàn dân, nó đòi hỏi
một thời gian khá dài và nguồn lực rất lớn…nên hiện nay vấn đề về môi
trường nước vẫn còn tồn tại và nhiều bất cập.
Để góp phần nghiên cứu các giải pháp của nhà nước trong việc giải
quyết các vần đề về môi trường nước đô thị hiện nay tôi đã lựa chọn đề tài :
“Thực trạng và giải pháp của nhà nước trong việc giải quyết vấn đề môi
trường nước ở đô thị hiện nay’’.
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là:
Thứ nhất, tìm hiểu về vai trò của nhà nước trong quản lí môi trường
nước ở đô thị .
Thứ hai, các công cụ quản lí môi trường nước áp dụng vào quản lí môi
trường nước ở các khu đô thị.
Thứ ba, thực trạng môi trường nước các khu đô thị hiện nay và nguyên
nhân của tình trạng đó.

Thứ tư, các giải pháp của nhà nước để giải quyết vấn đề môi trường
nước ở đô thị.
Thứ năm, kiến nghị với cơ quan nhà nước về công tác quản lí môi
trường nước ở đô thị hiện nay.
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Trong quá trình tìm hiểu về đề tài tôi đã nhận được sự hướng dẫn của
T.S Phạm Vũ Thắng và góp phần cho Đề án của tôi hoàn thiện hơn, tôi xin
gửi lời cảm ơn đến T.S Phạm Vũ Thắng!
6
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
PHẦN NỘI DUNG
Chương I
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÍ MÔI
TRƯỜNG NƯỚC Ở ĐÔ THỊ
1.Quản lí nhà nước về môi trường
1.1. Quản lí môi trường nước
Quản lý môi trường nước là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính
sách Kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường
nước ở các khu đô thị nhằm đảm bảo đời sống kinh tế - xã hội cho đời sống
dân cư đô thị và phát triển kinh tế gắn liền với phát triển bền vững
1
.
Xét về đối tượng của quản lí môi trường nước: Thực chất của quản lí
môi trường nước là quản lí các hoạt động phát triển, thường xuyên diễn ra lien
quan đến môi trường nước và có tác động tích cực và tiêu cực đến trạng thái
ổn định của nó. Nhưng hoạt động phát triển không tự thân chúng tiến hành

mà đều do con người với những mục đích, lợi ích khác nhau thực hiện. Bởi
thế quản lí môi trường nước chính là quản lí hành vi cá nhân, tập thể con
người trong hoạt động sản xuất, tiêu thụ, sinh hoạt,v.v…, là điều tiết các lợi
ích sao cho hài hoà trên nguyên tắc ưu tiên lợi ích quốc gia, của toàn xã hội .
Mục tiêu quản lí môi trường là ba mục tiêu cơ bản sau :
Một là, phải khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường
nước phát sinh trong hoạt đống sống của con người.
Hai là, phát triển kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một
xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất và được tuyên bố Johannesburg,
Nam Phi về phát triển bền vững (9/2002) tái khẳng định.
1
Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh. Tr338
7
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Ba là, xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lí môi trường nước ở các
khu đô thị. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương
và cộng đồng dân cư.
2
1.2. Quản lí nhà nước về môi trường nước ở đô thị
Quản lý nhà nước về môi trường nước ở đô thị là quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường xác định rõ chủ thể là nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ
và quyền hạn của mình đưa ra các bịên pháp, luật pháp, chính sách Kinh tế, kĩ
thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường nước và phát triển
bền vững kinh tế - xã hội đô thị.
Như vậy, chúng ta thấy rằng Quản lí nhà nước về môi trường nước xét
về bản chất khác với những hình thức quản lí khác như: Quản lí môi trường
nước do các tổ chức phi chính phủ đảm nhiệm; Quản lí môi trường nước dựa
trên cơ sở cộng đồng; quản lí môi trường nước có tính chất tự nguyện… Hình

thức quản lí nhà nước về môi trường nước chủ yếu là điều hành và kiểm soát.
3
1.3.Chức năng, nội dung của quản lí nhà nước về môi trường nước
ở các khu dô thị
Theo từng giai đoạn, quản lý nhà nước về môi trường nước có các chức
năng chính sau đây:
Thứ nhất, chức năng hoạch định chính sách và chiến lược bảo vệ môi
trường nước, cung cấp nước, thoát nước : là chức năng quan trọng nhất, nhằm
định ra mục tiêu, chính sách, chiến lược, chương trình, kế hoạch bảo vệ môi
trường nước.
Thứ hai, chức năng tổ chức: nhằm hình thành các nhóm chuyên môn
hoá, các phần tử cấu thành môi trường nước để góp phần vào hệ thống định
hướng cho các mục tiêu mong muốn trước mắt và lâu dài.
2
Giáo trình quản lí môi trường bằng công cụ kinh tế - NXB Lao động- Trần Thanh Lâm. Tr 21
3
Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh. Tr 342
8
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Thứ ba, chức năng điều khiển: nhằm phối hợp hoạt động chung của
nhóm, của phân hệ trong việc giải quyết vấn đề liên quan đến môi trường
nước.
Thứ tư, chức năng kiểm tra: nhằm phát hiện kịp thời những sai sót trong
quá tình hoạt động và các cơ hội đột biến liên quan đến môi trường nước ở
các khu đô thị. Đây là chức năng quan trọng nhất của cá nhân người lãnh đạo,
chủ thể quản lí môi trường nước.
Thứ năm, chức năng điều chỉnh: nhằm sửa chữa những sai sót nảy sinh
trong quá trình hoạt động phát triển, tận dụng các cơ hội để thúc đẩy, bảo đảm

cho hệ thống cung cấp nước, thoát nước, xử lí nước thải… hoạt động phát
triển một cách bình thường
4
.
Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nước bao gồm những
nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất: Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ,
các hệ thống tiêu chuẩn về môi trường nước
Thứ hai: Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi
trường, kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái, sự cố môi trường nước,
xây dựng,quản lý các công trình bảo vệ môi trường nước.
Thứ ba: Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thông quan trắc, định kì đánh giá
hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường nước
Thứ tư: Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nước của các
dự án và các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Thứ năm: Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường nước
Thứ sáu: Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo
vệ môi trường, giải quyết các tranh chấp, xử lý các vi phạm pháp luật liên
quan đến bảo vệ môi trường nước ở các khu đô thị.
4
Giáo trình quản lí môi trường bằng công cụ kinh tế - NXB Lao động- Trần Thanh Lâm. Tr 26
9
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Thứ bảy: Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường nước, giáo
dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về môi trường nước.
Thứ tám: Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cấp nước và thoát nước.
2. Những công cụ quản lí môi trường nước ở đô thị

Công cụ quản lí môi trường nước là các phương thức hay biện pháp
hành động thực hiện công tác quản lí môi trường nước của Nhà nước, các tổ
chức khoa học và sản xuất. Công cụ quản lí môi trường nước rất đa dạng, mỗi
công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ
lẫn nhau
5
.
Có thể phân loại công cụ quản lí môi trường nước theo chức năng hoặc
theo bản chất của công cụ. Phân loại theo bản chất của công cụ ta có các loại
công cụ sau:
2.1.Công cụ kinh tế
Trước tiên, chúng ta nên hiểu về khái niệm công cụ kinh tế trong quản lí
môi trường: Công cụ kinh tế là các công cụ chính sách được sử dụng nhằm
tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động kinh tế của các cá nhân và tổ
chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân
kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường nước
6
. Các công cụ kinh tế trong
quản lí môi trường là: Phí/ lệ phí môi trường, thuế môi trường, giấy phép môt
trường, hệ thống đặt cọc hoàn trả, kí quỹ môi trường..
Công cụ kinh tế trong quản lí môi trường nước được cụ thể hoá bằng hệ
thống lệ phí ô nhiễm nước. Các lệ phí ô nhiễm này là công cụ quan trọng, bổ
sung cho các công cụ pháp lí, kiểm soát ô nhiễm trực tiếp, nhằm khuyến
khích những người gây ô nhiễm môi trường nước giảm bớt lượng xả thải ô
5
Giáo trình quản lí môi trường bằng công cụ kinh tế - NXB Lao động- Trần Thanh Lâm. Tr 52
6
Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh. Tr 422
10
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận


: 6.280.688
nhiễm. Áp dụng phổ biến hiện nay là hai loại phí mà các nước khác đã sử
dụng là phí xả thải nước và phí người sử dụng
2.1.1.Phí xả thải nước :
Phí xả nước thải là khoản thu của nhà nước nhằm bù đắp một phần chi
phí thường xuyên và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chức
quản lí hành chính của nhà nước đối với hoạt động của người nộp thuế.
Ở Trung Quốc, theo quy định của nhà nước, tất cả các xí nghiệp hoặc
bất kì cơ sở nào xả chất ô nhiễm vào môi trường nước đều phải trả phí thải
nước. Phí này là phí mua quyền sử dụng môi trường tiếp nhận các chất ô
nhiễm xả thải. Phí xả thải nước được xác định trên số lượng, nồng độ và tính
chất của các chất ô nhiễm trong nước thải. Đối với trường hợp các chất thải
của nguồn thải vượt qúa tiêu chuẩn môi trường cho phép thì các cơ sở sản
xuất còn phải trả thêm các phí nước thải bổ sung, đồng thời phaỉ có trách
nhiệm trong một thời hạn nhất định phải áp dụng biện pháp kiểm tra và xử lí ô
nhiễm cho đạt tiêu chuẩn môi trường. Tiền thu phí này được tách một phần
nhỏ để chi phí cho công tác quản lí môi trường, số còn lại sẽ nộp vào qũy môi
trường, dùng để hỗ trợ, cho vay nhẹ lãi và khuyến khích các cơ sở đầu tư vào
thiết bị xử lí ô nhiễm môi trường.
Các phí người sử dụng :
Lệ phí sử dụng nguồn nước là khoản thu bắt buộc đối với cá nhân, tổ
chức ở các khu đô thị được hưởng một lợi ích hoặc được sử dụng một dịch vụ
nào đó do nhà nước cung cấp.
Đối với các nguồn xả thải nước gây ô nhiễm môi trường từ các hộ gia
đình và các cơ sở sản xuất nhỏ thì rất khó xác định lượng xả thải chất ô nhiễm
của các hộ, các cống nước thải của mỗi hộ. Chúng ta nên học tập cách tính phí
của Thuỵ Điển: loại phí này được chia làm hai phần: Phần phí cố định, tính
đồng đều cho các hộ và phần phí thay đổi, liên quan đến mức tiêu dùng nước
của mỗi hộ. Loại phí này còn có tác dụng khuyến khích các hộ gia đình, cũng

11
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
như các hộ sản xuất nhỏ tiết kiệm sử dụng nước sạch, nhưng lại làm tăng
nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải. Hay như Trung Quốc, tiền phí nước
thải ra cống đối với mỗi hộ gia đình hay cơ sở sản xuất được tính gộp với tiền
mua nước sạch, tức là trong giá mua nước cấp đã bao gồm cả phí xả thải nước
ra cống. Cách thức thu phí này tránh được sự thất thu phí xả thải nước ô
nhiễm đối với các hộ hay cơ sở sản xuất trốn tránh sự kiểm tra và đổ thải
nứơc thải bất hợp pháp vàp sông ngòi, cống rãnhrường, quỹ môi trường, trợ
cấp môi trường và nhãn sinh thái.
2.1.2.Thuế môi trường nước
Thuế môi trường nước được sử dụng khá phổ biến tại các nước công
nghiệp phát triển (OECD), đó là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường
vào giá sản phẩm theo nguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Thuế
môi trường nước nhằm hai mục đích chủ yếu: Khuyến khích người gây ô
nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường nước ở đô thị, hạn chế các
tổn thất tài nguyên trong quá trình sử dụng, và tăng nguồn thu cho Ngân sách
nhà nước
Trên thực tế, thuế môi trường nước được áp dụng dưới nhiều hình thức
khác nhau tuỳ thuộc mục tiêu và đối tượng ô nhiễm như: Thuế đánh vào ô
nhiễm, Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm, thuế đánh vào sản phẩm gây ô
nhiễm, phí đánh vào người sử dụng. Thuế môi trường nước ở các khu đô thị
cũng được áp dụng tương tự như thuế môi trường nói chung
2.1.2.Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường nước( Cota gây ô
nhiễm )
Đây là một loại giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng mà thông qua
đó nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp v.v… được phép thải
các chất gây ô nhiễm vào môi trường nước. Nhà nước xác định tổng lượng

chất gây ô nhiễm tối đa có thể cho phép thải vào môi trường nước, sau đó
phân bổ cho các nguồn thải bằng cách phát hành những giấy phép thải gọi là
12
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
cota gây ô nhiễm và chính htức công nhận quyền được xả một lượng nước
gây ô nhiễm nhất định vào môi trường nước chung trong một giai đoạn xác
định cho các nguồn thải.
2.1.3.Hệ thống đặt cọc hoàn trả:
Đặt cọc - hoàn trả được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường
nước ở đô thị bằng cách quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có
khả năng gây ô nhiễm môi trường nước phải trả thêm một khoản tiền (đặt
cọc) khi mua hàng, nhằm đảm bảo cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản
phẩm đó ( hoặc phần còn lại của sản phẩm đó ) trả lại cho các đơn vị thu gom
rác thải hoặc tới những địa điểm quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu
huỷ theo cách an toàn đối với môi trường. Nếu thực hiện đúng, người tiêu
dùng sẽ nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu gom hoàn trả lại.
2.1.4.Kí quỹ môi trường
Kí quỹ môi trường nước là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động
kinh tế có tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường nước ở đô thị.
Nguyên lí hoạt động của hệ thống kí quỹ môi trường nước cũng tương tự như
hệ thống đặt cọc hoàn trả. Nội dung chính của kí quỹ môi trường nước là yêu
cầu các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành một
hoạt động đầu tư phải kí gửi một khoản tiền tại ngân hàng hay tổ chức tín
dụng, nhằm đảm bảo sự cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô
nhiễm, suy thoái môi trường nước. Mục đích chính của việc kí quỹ là làm cho
người có khả năng gây ô nhiễm luôn nhận thức được trách nhiệm của họ, từ
đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm.
2.1.5.Quỹ môi trường nước:

Quỹ môi trường nước ở đô thị là một thể chế hoặc một cơ chế tài chính
được thiết kế để nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối
các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện dự án hoặc các hoạt động cải
thiện môi trường nước
13
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Nguồn thu này có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như:
Phí và lệ phí môi trường nước, đóng góp tự nguyện của mỗi cá nhân và doanh
nghiệp ở đô thị, đóng góp của các tổ chức tài trợ quốc tế, tiền lãi và các khoản
thu được từ hoạt động của quỹ, tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định
về bảo vệ môi trường nước.
Ở Việt Nam với quyết định của thủ tướng chính phủ số 82/2002/QĐ-
TTg ngày 26/06/2002 về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo vệ
môi trường Việt Nam là cơ hội tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong
nỗ lực giảm thiểu ô nhiễm, có nguồn tài chính cho các doanh nghiệp có cơ hội
vay để khắc phục những vấn đề về môi trường với lãi suất ưu đãi.
2.1.6.Nhãn sinh thái
Nhãn sinh thái là một danh hiệu nhà nước cấp cho các sản phẩm không
gây ra ô nhiễm môi trường nước trong quá trình sản xuất hoặc quá trình sử
dụng sản phẩm đó. Được dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín chất
lượng sản phẩm và nhà sản xuất. Các sản phẩm có nhãn sinh thái thường có
sức cạnh tranh cao và giá bán ra thị trường cũng thường cao hơn các sản
phẩm cùng loại. Như vậy, nhãn sinh thái là công cụ kinh tế tác động vào nhà
sản xuất thông qua phản ứng và tâm lí khách hàng. Rất nhiều nhà sản xuất đã
và đang đầu tư để sản phẩm của mình được công nhận là sản phẩm “ xanh ’’
được dán nhãn sinh thái và điều kiện để dán nhãn sinh thái ngày càng khắt
khe hơn. Nhãn sinh thái thường được xem xét và dán cho các sản phẩm tái
chế từ phế thải, các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm có tác động xấu đến

môi trường, hoặc các hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm có ảnh hưởng
tích cực với môi trường ở đô thị. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh
doanh…ở đô thị có thể áp dụng phổ biến công cụ này
2.1.7.Các khoản trợ cấp:
Trợ cấp môi trường nước là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng rất
nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển .Trợ cấp
14
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
môi trường có thể dưới dạng sau: Trợ cấp không hoàn lại, các khoản cho vay
ưu đãi, cho phép khấu hao nhanh, ưu đãi thuế ( miễn, giảm…)
Chức năng chính của trợ cấp môi trường nước ở đô thị là giúp đỡ các
ngành công nghiệp ở đô thị khắc phục ô nhiễm môi trường nước trong điều
kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường nước quá nặng nề hoặc khả năng tài
chính của doanh nghiệp không chịu đựng được. Trợ cấp còn khuyến khích các
cơ quan nghiên cứu và triển khai là các công nghệ sản xuất có lợi cho môi
trường nước hoặc các công nghệ xử lí ô nhiễm. Tuy nhiên, trợ cấp môi trường
nước chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo dài sẽ
dẫn đến phi hiệu quả kinh tế, vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc người gây ô
nhiễm phải trả tiền, vì thế cần có một chương trình có hoạch định và kiểm
soát rõ ràng, thường xuyên.
Ở nhiều nước trên thế giới đã dành các khoản trợ cấp, các khoản vay lãi
suất thấp hoặc giảm nhẹ thuế để khuyến khích các cơ sở sản xuất đầu tư kĩ
thuật để ngăn chặn hoặc giảm nhẹ ô nhiễm môi trường nước. Thí dụ như ở
Philippin, theo Luật môi trường, giảm 50% thuế đối với các thiết bị kiểm soát
ô nhiễm nhập khẩu, luật này cũng quy định miễn thuế cho tất cả thiết bị xử lí
ô nhiễm môi trường được sản xuất trong nước. Ở nước ta hiện nay cũng đã có
quy định miễn thuế nhập khẩu, áp dụng những hình thức trợ cấp hoặc cho
vay với lãi suất rất thấp đối với các cơ sở sản xuất đầu tư cải tiến, đổi mới

công nghệ để giảm lượng thải chất ô nhiễm, hoặc đối với nhà máy gây ô
nhiễm trầm trọng phải di chuyển địa điểm từ nội thành ra các khu công
nghiệp ở ngoại thành
2.2.Công cụ pháp lý
7
Công cụ pháp lý trong quản lí môi trường nước ở đô thị hay còn gọi là
công cụ luật pháp, chính sách bao gồm : các văn bản về luật quốc tế, luật quốc
gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch, chiến lược và chính sách liên
7
Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh. Tr 417
15
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
quan đến môi trường nước ở đô thị của một quốc gia, các ngành kinh tế và các
địa phương.
2.2.1.Quy hoạch, kế hoạch hoá bảo vệ môi trường nước đô thị
Bảo vệ môi trường nước đô thị là công tác được tiến hành trên quy mô
lãnh thổ lớn, trong thời gian dài, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều đối
tượng khác nhau trong xã hội .Vì vậy công tác này chỉ có thể được thực hiên
tốt trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch hoá. Nội dung cơ bản của quy hoạch, kế
hoạch hoá bảo vệ môi trường nước ở đô thị là:
Điều tra cơ bản về chất lượng môi trường nước ở đô thị, trữ lượng tài
nguyên, thu thập số liệu để làm cơ sở cho việc lập quy hoạch.
Bảo vệ môi trường nước ở đô thị là làm sao phải duy trì được môi
trường nước cơ bản, nhằm tạo điều kiện tái tạo môi trường nước ở đô thị, phát
huy đặc điểm tự điều chỉnh của hệ thống môi trường nước ở đô thị. Vì vậy
phải đặt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch chung, phù hợp
với điều kiện bảo vệ và duy trì môi trường nước cơ bản, nhằm hướng tới sự
phát triển bền vững.

Quy hoạch, kế hoạch hóa môi trường nước ở đô thị phải đảm bảo tính
đồng bộ, cân đối với mục tiêu và nguồn lực, gắn chặt với chính sách đầu tư
phát triển.
2.2.2.Về pháp luật
Thông thường, hệ thống luật của mỗi quốc gia bao gồm hai bộ phận
chính là luật chung ( Luật Bảo vệ môi trường nước ở đô thị ) và luật về các
thành phần của môi trường nước ở đô thị .
Quy định là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hoá hoặc hướng dẫn
thực hiện các nội dung của luật liên quan đến môi trường nước ở đô thị.
Chế định là các quy định về chế độ, thể chế tổ chức quản lí bảo vệ môi
trường nước ở đô thị. Chẳng hạn quy định chức năng nhiệm vụ và quyền hạn
của các cơ quan Bộ, Sở tài nguyên và môi trường .
16
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Hệ thống văn bản pháp luật về quản lí nhà nước về môi trường nước ở
đô thị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong bảo vệ môi trường nước ở đô
thị và phát triển tài nguyên. Đây là công cụ hay biện pháp mang tính pháp lí
do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động phát triển của cá nhân,
doanh nghiệp, cộng đồng, các ngành ,các cấp, các địa phương sao cho phù
hợp với mục đích bảo vệ môi trường nước ở đô thị, đảm bảo cân bằng sinh
thái, thông qua hàng loạt các văn bản pháp quy đối với việc sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm, tức là thực thi các biện pháp bắt buộc hoặc cưỡng chế đối với
người gây ô nhiễm phải huỷ bỏ hay hạn chế bớt một số hoạt động gây tổn thất
cho môi trường nước ở đô thị.
Một trong những công cụ pháp lí quan trọng trong quản lí môi trường
nước mặt là xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy định về bảo vệ môi
trường nước.
Ở Mỹ và một số nước phát triển từ lâu đã thực hiện quy định : tất cả các

cơ sở sản xuất công nghiệp cần phải có giấy phép xả thải vào hệ thống thoát
nước chung của đô thị hoặc đổ thải vào nguồn nước mặt. Các giấy phép xả
thải được cấp cho từng thời kì 5 năm và sau đó phải xin gia hạn hoặc cấp giấy
phép mới mới được tiếp tục xả thải. Những cơ sở sản xuất xả nước thải thực
hiện ghi chép lưu trữ hồ sơ và tiến hành tự quan trắc giám sát nước thải của
mình. Ở Anh, giấy phép xả thải được cấp hai năm một lần, trong giấy phép xả
thải thường quy định rõ lượng nước thải tối đa cho phép và các giới hạn đối
với chỉ tiêu: BOD, COD, độ pH, nhiệt độ và một số kim loại nặng. Các cơ
quan quản lí nhà nước về môi trường nước ở đô thị định kì đến kiểm tra các
cơ sở đổ thải nước, nếu phát hiện các cơ sở không tuân thủ tiêu chuẩn môi
trường nước ở đô thị và các quy định trong giấy phép thì thực hiện ngay các
biện pháp tương ứng như cảnh cáo, xử phạt, thu hồi giấy phép, bắt cơ sở tạm
ngừng sản xuất, thậm chí là đóng cửa nhà máy. Mức độ xử phạt đến 400 USD
17
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
đến 20,000 USD. Thực tế ở nhiều nước phát triển chứng tỏ sử dụng hiệu quả
công cụ pháp lí này trong quản lí môi trường nước.
Tuỳ theo tình hình cụ thể ở mỗi địa phương mà bổ sung thêm hoặc chi
tiết hoá các quy định và tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường nước. Trong nhiều
trường hợp giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường các dòng sông, các
thuỷ vực cần có sự phối hợp giữa các địa phương với nhau, giữa các tỉnh,
thành trong cùng khu vực, các địa phương ở đầu nguồn nước( thượng lưu)
phải có trách nhiệm đối với bảo vệ môi trường nước ở hạ lưu.
2.2.3.Về chính sách
Chính sách bảo vệ môi trường nước ở đô thị là công cụ chỉ đạo toàn bộ
hoạt động bảo vệ môi trường nước ở đô thị trên một phạm vi lãnh thổ rộng
lớn như một vùng hay một quốc gia trong thời gian dài (10 – 15 năm trở lên).
Chính sách phải nêu lên mục tiêu và định hướng lớn để thực hiện mục tiêu.

Chính sách đó phải hợp lí, có cơ sở vững chắc về khoa học và thực tiễn. Phải
có chiến lược để cụ thể hoá chính sách ở một mức độ nhất định, chọn các mục
tiêu khả thi, xác định các phương hướng biện pháp thực hiện các mục tiêu đề
ra.
Đây vừa là nhiệm vụ quan trọng vừa là công cụ trong quản lí nhà nước
về môi trường nước ở đô thị. Vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã đề ra chính sách
bảo vệ môi trường nước ở đô thị gắn liền với chính sách phát triển kinh tế - xã
hội, trên cơ sở đó, Chính phủ đã xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường nước
quốc gia theo từng giai đoạn phát triển của đất nước. Trên cơ sở chiến lược
bảo vệ môi trường, các cơ quan quản lí nhà nước về tài nguyên và môi trường
nước ở đô thị tiến hành nhiệm vụ cụ thể sau đây:
2.2.4.Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường nước ở đô thị
Nhà nước thực hiện chính sách xã hội hoá bảo vệ môi trường nước ở đô
thị bằng pháp luật và các văn bản pháp lý, để huy động cộng đồng tham gia
vào các hoạt động quản lí môi trường các cấp, vào việc ra quyết định của các
18

×