Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn thành phố bắc giang giai đoạn từ 2005 đến 2013

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (608.77 KB, 89 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM





THÂN VĂN TRUNG


ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG,
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
GIAI ĐOẠN TỪ 2005 ĐẾN 2013

Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03


LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI



Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Lợi







Thái Nguyên, năm 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung
thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc./.

Tác giả luận văn



Thân Văn Trung


















LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Luận văn ngoài sự lỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy cô giáo, những ý kiến đóng góp
quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để hoàn thành bản luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Lợi, giảng viên
Khoa Quản lý tài nguyên - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn UBND Thành phố Bắc Giang, Phòng Tài
nguyên và Môi trường Thành phố, đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực
hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, đồng nghiệp đã tạo điều
kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn


Thân Văn Trung








DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


STT Các chữ viết tắt Ký hiệu
1 Bồi thường BT
2 Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá CNH-HĐH
3 Giấy chứng nhận GCN
4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCNQSDĐ
5 Giải phóng mặt bằng GPMB
6 Hồ sơ địa chính HSĐC
7 Tái định cư TĐC
8 Uỷ ban nhân dân UBND
9 Nông nghiệp NN
10 Tài sản TS




MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài: 1
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
2.1. Mục đích của đề tài 2
2.2. Yêu cầu của đề tài 3
2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC BỔI THƯỜNG, HỖ TRỢ
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 4
1.1. Cơ sở lý luận về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4

1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư 4
1.1.2. Các quan điểm chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 5
1.1.3. Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 7
1.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ của một số nước trên thế giới 8
1.2.1. Trung Quốc 8
1.2.2. Hàn Quốc 10
1.2.3. Ấn Độ 11
1.2.4. Nhận xét, đánh giá 12
1.3. Một số quy định của Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ và
TĐC ở Việt Nam 13
1.3.1. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992 13
1.3.2. Các quy định về bồi thường, hỗ trợ tại Luật đất đai năm 2003 13
1.3.3. Các quy định tại Bộ Luật dân sự 2005 15
1.3.4. Các quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP 16
1.3.5. Quy định tại Nghị định số 84/2007/NĐ-CP 17
1.3.6. Các quy định tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP 18
1.4. Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất tại Việt Nam 20
1.4.1 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi nhà nước
thu hồi đất tại Việt Nam 20
1.4.2 Những ưu nhược điểm trong quá trình thực hiện bồi thường,
hỗ trợ và TĐC thời gian qua 22
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tượng và địa bàn nghiên cứu 25
2.2. Nội dung nghiên cứu 25
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu 25
3.3.2 Phương pháp điều tra thực tế 26
3.3.3 Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh và

xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên - xã hội và hiện trạng quản lý sử dụng
đất thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 32
3.1.3. Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường
của thành phố Bắc Giang 34
3.2. Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn
thành phố Bắc Giang 37
3.2.1. Tình hình quản lý đất đai 37
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất 40
3.3. Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn
thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2005-2013 42
3.3.1. Tổng hợp số dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ GPMB 42
3.3.2. Những tồn tại vướng mắc và nguyên nhân 43
3.4. Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại 2 dự án. 46
3.4.1. Đánh giá kết quả công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự
án Đường tỉnh lộ 293 do Nhà nước là chủ đầu tư: 46
3.4.2. Kết quả đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án Chợ
Song Mai, thành phố Bắc Giang (do Doanh nghiệp làm chủ đầu tư) 53
3.5. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác thực hiện bồi thường giải
phóng mặt bằng giữa 2 dự án Đường tỉnh lộ 293 (do Nhà nước là chủ đầu tư) và dự
án Chợ Song Mai (do Doanh nghiệp là chủ đầu tư) 60
3.5.1.Tổ chức thực hiện: 60
3.5.2. Những thuận lợi, khó khăn, kết quả đạt được và giải pháp trong công tác thực
hiện bồi thường giải phóng mặt bằng giữa 2 dự án 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
1. Kết luận 75
2. Kiến nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

DANH MỤC CÁC BẢNG

Biểu 3.1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 41
Biểu 3.2: Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 41
Biểu 3.3: Kết quả diện tích đất đai nằm trong quy hoạch Nhà nước thu hồi, bồi
thường, hỗ trợ giai đoạn 2005 – 2013 trên địa bàn thành phố 42
Biểu 3.4: Kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ giữa Nhà nước và
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Giang giai đoạn 2005 -2013 43
Biểu 3.5: Tổng hợp diện tích, loại đất, chủ sử dụng đất thuộc dự án 47
Biểu 3.6. Biểu tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB (Đợt 1)
để thực hiện Dự án Cải tạo, nâng cấp đường Tỉnh lộ 293, TP. Bắc Giang 49
Biểu 3.7. Biểu tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB (Đợt 2) để
thực hiện Dự án Cải tạo, nâng cấp đường Tỉnh lộ 293, TP. Bắc Giang 50
Biểu 3.8. Tổng hợp kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ dự án Cải tạo, nâng cấp
đường Tỉnh lộ 293 51
Biểu 3.9. Tổng hợp các loại đất thu hồi, bồi thường, hỗ trợ 54
Biểu 3.10. Biểu tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án Chợ Song Mai,
thành phố Bắc Giang 56
Biểu 3.11. Kết quả tổng hợp kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ thực hiện dự án
của doanh nghiệp 58
Biểu 3.12. So sánh đơn giá bồi thường đất nông nghiệp 62
Biểu 3.13: Quan điểm của người dân có đất bị thu hồi của 02 dự án 68
Biểu 3.14 Đánh giá mức độ hợp lý của giá đất bồi thường qua ý kiến
của người bị thu hồi đất tại 02 dự án 69
Biểu 3.15: Biểu điều tra mức thu nhập và điều kiện sống của người bị
thu hồi đất tại 02 dự án 70

DANH MỤC CÁC HÌNH



Hình 3.1. Sơ đồ đơn vị hành chính thành phố Bắc Giang 28
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu sử dụng các loại đất năm 2013 40

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đất đai là tài sản quốc gia có giá trị lớn (Điều 17, 18 Hiến pháp năm 1992)
[18], có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống của từng hộ gia đình, cá nhân, là
tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tối thiểu đảm bảo cho quá trình tái sản xuất
giúp xã hội không ngừng phát triển. Trong quá trình đổi mới nền kinh tế - xã hội ở
nước ta, cơ chế kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế Quốc tế đã từng bước được hình
thành, các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ và một xu hướng tất yếu về nguồn
lực đầu vào cho sản xuất và sản phẩm đầu ra đều phải trở thành hàng hoá, trong đó
đất đai cũng không phải là ngoại lệ.
Nước ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nhiều dự án như các khu công nghiệp, nhà máy, các khu đô thị mới, khu dân
cư đang được triển khai xây dựng một cách mạnh mẽ. Để thực hiện được các
nhiệm vụ trên và mang tính khả thi thì mặt bằng đất đai là một trong những nhân tố
quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả trong công tác đầu tư của các nhà đầu tư
trong và ngoài nước và ảnh hưởng đến cả tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của đất nước.
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng, trong các năm gần đây
kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ ổn định, các lĩnh vực văn hoá, giáo giục,
khoa học, xã hội ngày càng được cải thiện. Sự phát triển chung của nền kinh tế xã
hội cũng như của đất nước, trước hết đặt ra phải xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
kĩ thuật, hệ thống giao thông đường bộ, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống lưới điện quốc

gia là điều kiện rất cơ bản để phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại,
dịch vụ, du lịch Đến nay cả nước ta đã có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu kinh tế, nhiều công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc
gia. Để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, phát triển các nghành kinh tế, công
nghiệp, giao thông, xây dựng, thương mại dịch vụ, giáo dục, y tế, xã hội, đào
tạo.v.v. Nhà nước phải thu hồi đất của người sử dụng đất và phải bồi thường cho
người bị thu hồi. Việc thực hiện bồi thường giữ vị trí hết sức quan trọng là yếu tố có

2

tính quyết định trong toàn bộ quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng. Trong
những năm qua công tác GPMB gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình
triển khai thực hiện. Để khắc phục những tồn tại đó trong những năm gần đây Nhà
nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về đất đai và ban hành các văn bản pháp lý
hướng dẫn thực hiện về công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư thực hiện
một cách có hiệu quả.
Thành phố Bắc Giang là tâm kinh tế, văn hóa và chính trị của tỉnh Bắc
Giang, được sự quan tâm, tạo điều kiện của tỉnh cùng với sự nỗ lực phát triển kinh
tế - xã hội của thành phố nhằm mục tiêu đưa thành phố trở thành Đô thị loại 2 vào năm
2015. Trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, phát thiển mở rộng đô thị, phát triển
công nghiệp, dịch vụ, việc hu hồi đất diễn ra thường xuyên, liên tục là điều tất yếu,
tuy nhiên, do cơ chế chính sách thường xuyên thay đổi đã gây không ít khó khăn
cho việc bồi thường, hỗ trợ cho người có đất Nhà nước thu hồi, giải phóng mặt bằng
trên địa bàn thành phố.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt công tác hỗ trợ cho người có đất Nhà nước thu
hồi, tạo diều kiện cho người dân ổn định đời sống, đồng thời bàn giao mặt bằng cho
nhà nước, hạn chế tối đa đơn thư, khiếu nại của công dân khi Nhà nước thực hiện
chính sách thu hồi đất, ngoài việc thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định của pháp
luật, thành phố Bắc Giang còn kiến nghị nhiều giải pháp đối với UBND tỉnh nhằm
tạo cơ chế hỗ trợ thuận lợi hơn cho người dân trên địa bàn thành phố, để đánh giá

thực trạng, nhứng khó khăn vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB trên địa
bàn thành phố Bắc Giang là hết sức cần thiết, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn
Thị Lợi tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng
mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn thành phố Bắc Giang giai đoạn từ 2005
đến 2013”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu, lựa chọn đánh giá thực trạng công tác bồi thường, giải phóng
mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang trong
giai đoạn 2005 – 2013;

3

- Đánh giá các tác động của việc thu hồi đất đến đời sồng và việc làm của
người dân bị thu hồi đất.
- Đề xuất giải pháp cho việc thực hiện ổn định, nâng cao đời sống cho người
có đất sau khi Nhà nước thu hồi đất.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng cũng như các
văn bản pháp lý có liên quan.
- Các số liệu, tài liệu, khảo sát, điều tra phải đảm bảo tính trung thực, chính
xác, phản ánh đúng hiện trạng và tình hình thực tế của các dự án đã lựa chọn để
nghiên cứu.
- Các đề xuất, định hướng đảm bảo lợi ích của người dân khi Nhà nước thu
hồi đất.
2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đánh giá những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện việc thu hồi đất giữa dự án
do Nhà nước làm chủ đầu tư (đường tỉnh lộ 293) và dự án do Doanh nghiệp làm chủ
đầu tư (Chợ Song Mai), kinh nghiệm được rút ra, giúp cơ quan quản lý Nhà nước có
những điều chỉnh phù hợp với thực tiễn trong việc thực hiện công tác bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, giải quyết
được việc làm và nâng cao đời sống của người dân.
Hoàn thiện cơ chế chính sách bồi thường, hỗ trợ thực hiện công tác bồi
thường trên địa bàn thành phố Bắc Giang giai đoạn 2005-2013 về chế độ, chính
sách, trình tự thủ tục và triển khai thực hiện, sự ảnh hưởng của người sử dụng đất
khi Nhà nước thu hồi đất (điều kiện sống, việc làm ), ảnh hưởng của dự án đến môi
trường.






4

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC BỔI THƯỜNG, HỖ TRỢ
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

1.1. Cơ sở lý luận về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
a. Bồi thường
Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra. Đền bù là trả lại tương xứng với
giá trị hoặc công lao (Trung tâm ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, 1998) [24].
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị yền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Trong đó giá trị
quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích
đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định [17].
b. Hỗ trợ
Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào [24]. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí
việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [17].
c. Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh
sống và làm ăn. TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà
nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển.
Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản;
di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu
nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó.
Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về KT-XH đối
với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung.
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau;
- Bồi thường bằng nhà ở;
- Bồi thường bằng giao đất ở mới;

5

- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở (Điều 4, Nghị định
197/2004/NĐ-CP)[9].
Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong
chính sách GPMB.
1.1.2. Các quan điểm chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Nhìn chung, các quan điểm của các văn bản chính sách về bồi thường, hỗ trợ
đều có sự thống nhất trong việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu
hồi, cụ thể:
a. Bồi thường về đất đai
Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có
cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng
giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi (Điều 42, Luật đất đai

năm 2003)[17].
Khi giao đất mới ở khu tái định cư, nếu giá trị đất khu tái định cư nhỏ hơn thì
được nhận tiền chênh lệch, nếu giá trị đất khu tái định cư lớn hơn thì bù tiền chênh
lệch trừ trường hợp hộ nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà giá trị nhỏ hơn một suất tái
định cư tối thiểu thì được hỗ trợ phần chênh lệch đó. Trường hợp đất nông nghiệp
vượt hạn mức không được cơ quan thẩm quyền phê duyệt, chứng nhận, đất nông
nghiệp thuộc quỹ đất công ích, đất nhận giao khoán được bồi thường chi phí đầu tư
còn lại (Điều 14; Nghị định 69/2009/NĐ- CP)[11].
b. Bồi thường hoa màu
Bồi thường cây hàng năm được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch
theo vụ có năng suất cao nhất trong 3 năm và giá trung bình tại thời điểm thu hồi.
Đối với cây lâu năm nếu đang thời kỳ kinh doanh được bồi thường bằng giá trị hiện
có của vườn cây, nếu cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển thì bồi
thường chi phí di chuyển, thiệt hại do di chuyển và chi phí trồng lại (Điều 24, Nghị
định 197/2004/NĐ- CP)[9].
Đối với vật nuôi, đến thời điểm thu hoạch thì không bồi thường, chưa đến kỳ
thu hoạch được bồi thường do phải thu hoạch sớm, nếu di chuyển được thì bồi
thường chi phí di chuyển và thiệt hại khi di chuyển (Điều 24, Nghị định

6

197/2004/NĐ- CP)[9].
c. Bồi thường công trình trên đất
Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được
bồi thường bằng giá trị xây dựng mới, do UBND cấp tỉnh quy định. Đối với nhà,
công trình xây dựng khác thì mức bồi thường tính bằng tổng giá trị hiện có của công
trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của
công trình, nhưng tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của công trình
có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương (Điều 24, Nghị định 69/2009/NĐ- CP)[11].
d. Hỗ trợ ổn định đời sống

Hỗ trợ ổn định đời sống bằng lương thực đối với các hộ gia đình bị thu hồi từ
30% đến 70% đất nông nghiệp đang sử dụng được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng
nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ
ở; trường hợp phải chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn
hoặc có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24
tháng. Đối với các hộ bị thu hồi trên 70% đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ
trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và
trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến
địa bàn có điều kiện khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng. Mức hỗ trợ cho
một nhân khẩu được tính bằng tiền tương đương với 30 kg gạo trong thời gian một
tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương (Điều 20, Nghị
định 69/2009/NĐ- CP)[11].
e. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
Đối với hộ chuyển đổi nghề nghiệp, ngoài việc bồi thường đất bị thu hồi
bằng tiền còn được hỗ trợ từ 1 ,5 -5 lần giá đất nông nghiệp đối với diện tích đất
nông nghiệp bị thu hồi (không vượt quá định mức giao đất nông nghiệp tại địa
phương) hoặc 1 suất đất ở, hoặc 1 căn hộ chung cư, hoặc 1 suất đất kinh doanh phi
nông nghiệp. Nếu có nhu cầu đào tạo được miễn phí đào tạo một khoá học đối với
các đối tượng trong độ tuổi lao động (Điều 23, Nghị định 69/2009/NĐ- CP))[11].
g. Hỗ trợ khác
Ngoài các khoản hỗ trợ theo quy định, căn cứ vào tình hình thực tế của địa

7

phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để đảm bảo có
chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất (Điều 22 Nghị định
69/2009/NĐ- CP))[11].
1.1.3. Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Bồi thường hỗ trợ và TĐC là yếu tố quyết định việc triển khai thực hiện các
dự án, nó ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế xã hội của địa phương và là

công việc phức tạp, khó khăn, nhạy cảm và mang tính xã hội cao cụ thể:
- Tính phức tạp:
+ Chính sách Pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập, các văn bản hướng dẫn
thực hiện Luật Đất đai của Chính phủ, các Bộ, ngành chậm ban hành, thiếu đồng
bộ, nhiều nội dung thay đổi, bổ sung. Các quy định về bồi thường GPMB ngày càng
mở (Từ khi thực hiện Luật Đất đai 2003 đến nay Chính phủ đã ban hành 5 Nghị
định liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Nghị định số 181/2004/NĐ-
CP, Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định số
84/2007/NĐ-CP và gần đây nhất là Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và rất nhiều văn
bản hướng dẫn của các Bộ gây khó khăn cho cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và
người dân có đất Nhà nước thu hồi trong quá trình thực hiện, người dân trông chờ
chính sách sau có lợi hơn chính sách trước, quá trình thực hiện một số chính sách
tạo ra sự thiếu công bằng trong công tác bồi thường GPMB giữa người chấp hành
tốt và người không chấp hành đã gây ra thắc mắc, khiếu kiện, rất khó khăn trong
quá trình giải quyết (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang, 2013) )[22].
+ Công tác quản lý đất đai ở các địa phương còn lỏng lẻo, việc thực hiện
pháp luật đất đai trước đây không đồng bộ, khó có căn cứ xác định tính hợp lệ, hợp
pháp, nguồn gốc quyền sử dụng đất
+ Giá đất ở hầu hết các địa phương chưa phản ánh đúng giá đất thực tế trên
thị trường “trong điều kiện bình thường”.
- Tính xã hội:
Việc thu hồi đất và chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nó liên quan
và tác động trực tiếp đến đời sống của người dân và ảnh hưởng đến hàng triệu lao
động của địa phương nơi có đất thu hồi. Hơn nữa, khi làm việc này luôn phải giải

8

quyết đồng thời mối “quan hệ 3 bên” là Nhà nước - nhà đầu tư và người dân có đất
bị thu hồi. Do vậy, khi thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải tính đến
việc giải quyết việc làm; ổn định đời sống, ổn định sản xuất, bố trí chỗ ở cho người

có đất bị thu hồi (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang, 2013)[22].
1.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ của một số nước trên thế giới
Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới và
thu hồi đất là cách thức thường được thực hiện để xây KCN và xây dựng cơ sở hạ
tầng đô thị. Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề KTXH cần được giải quyết
kịp thời và thỏa đáng. Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân,
mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ có cách làm riêng của mình. Tình hình thu hồi đất
GPMB và giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi ở một số nước mang tính
tương đồng với Việt Nam như sau:

1.2.1. Trung Quốc
Trung Quốc có nhiều mối tương đồng với Việt Nam về chế độ sở hữu và các
hình thức sử dụng đất đai. Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu: chế độ sở
hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể. Hiến pháp lần sửa đổi mới nhất năm 2005 quy
định: "Quốc gia do sự cần thiết về lợi ích công cộng, có thể căn cứ vào pháp luật mà
trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường". Các nhà làm luật giải thích rằng
trưng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền sở hữu tập
thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng đối với đất thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ
thay đổi mục đích sử dụng đất.
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụng vào
mục đớch cụng cộng, lợi ích quốc gia… thì Nhà nước có chính sách bồi thường và tổ
chức TĐC cho người bị thu hồi đất. Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi
được pháp Luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:
Về cơ sở bồi thường: Bồi thường không căn cứ già thị trường, mức bồi
thường phụ thuộc vào mục đích sử dụng ban đầu của khu đất bị trưng mua, mức này
thấp hơn nhiều so với phần giao đất. Bồi thường cho giá trị nhà ở không thấp hơn
giá thị trường. Cơ quan thẩm định giá bất động sản sẽ do chủ sở hữu lựa chọn (Bộ

9


Tài nguyên và Môi trường, 2013)[6]
Về hình thức bồi thường: có 3 hình thức bồi thường là Chỉ bồi thường bằng tiền;
Tái định cư và có việc làm hoặc Tái định cư với bảo hiểm xã hội.
Về mức bồi thường: Quy định mức bồi thường đối với đất nông nghiệp bằng 6
đến 10 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của 3 năm trước khi bị thu hồi. Trợ
cấp tái định cư bằng 4 đến 6 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình. Ngoài ra Luật
cũng giới hạn tổng mức bồi thường, hỗ trợ tái định cư đối với đất nông nghiệp không
vượt quá 30 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của 3 năm trước nếu như các
quy định trong luật không đủ duy trì mức sống hiện tại của người nông dân.
Đối với đất ở, các tiêu chuẩn về bồi thường tuỳ thuộc vào từng địa phương, trên
cơ sở tham khảo mức bồi thường cho đất nông nghiệp. Việc bồi thường công trình xây
dựng (nhà ở) sẽ không thấp hơn giá thị trường. Giá trị nhà ở bị trưng mua sẽ được thẩm
định và quyết định bởi các đơn vị định giá có đủ chuyên môn, sau đó được quyết định
bởi chính quyền địa phương. Bồi thường cho các thiệt hại về ngừng sản xuất và kinh
doanh sẽ được quyết định dựa trên mức lợi nhuận, thời gian ngừng sản xuất hoặc kinh
doanh (Bộ Tài nguyên và Mụi trường, 2013)[6]
Ở Trung Quốc, Nhà nước quan tâm tới nông dân, tạo điều kiện cho họ được
hưởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hóa khi thu hồi đất. Mặc dự không có
quy định rõ ràng trong luật về việc phục hồi thu nhập. Tuy nhiên, chính quyền các địa
phương đó cú các giải pháp hỗ trợ đối với người bị thu hồi đất để phục hồi thu nhập
như:
- Tái định cư bằng tiền, tức là các khoản hỗ trợ bằng tiền được trả trực tiếp tới
các cá nhân cộng thêm khoản bồi thường cho chi phí về đất đai trong một số trường
hợp, sau đó cá nhân tự chịu trách nhiệm. Khoảng hơn 90% số hộ nông dôn bị ảnh
hưởng đó chọn cách này.
- Tái định cư thông qua thoả thuận chia sẻ cổ phần: Người được bồi thường sẽ
chuyển khoản tiền được bồi thường thành cổ phần của công ty được thành lập với vốn
đầu tư từ các khoản tiền bồi thường.
- Thành lập cơ chế an sinh xã hội: Theo cách này, tất cả các khoản trợ cấp và
một phần khoản bồi thường do mất đất được đưa vào một quỹ an sinh xã hội bao gồm


10

lương hưu, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế (Bộ Tài nguyên và Mụi trường,
2013)[6]
Trung Quốc chủ trương thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp địa
phương, qua đó đẩy nhanh quá trình hình thành các đô thị nhỏ ở các vùng nông
thôn. Chính sách này đã góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và
nông thôn, tạo ra điều kiện quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh
trong quá trình đô thị hoá. Ngoài ra Trung Quốc chủ trương tạo ra một mô hình phát
triển đô thị mới. Nội dung của mô hình này là xây dựng các đô thị giữa các thành
phố có quy mô lớn và vừa như thành phố Hạ Môn, Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc
Kinh.
1.2.2. Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc, đạo luật về thu hồi đất các công trình công cộng năm 2009 có
quy định về việc thu hồi đất, trước hết phải chuẩn bị kế hoạch thu hồi đất và tái định
cư, sau đó xác định danh mục các công trình công cộng để tiến hành khảo sát cơ
bản về các đối tượng và tài sản bị ảnh hưởng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013)
)[6].
Việc bồi thường cũng có quy định như sau: đối với thửa đất được sử dụng
thông qua đàm phán hoặc xét xử của toà án, khoản bồi thường sẽ được tính dựa trên
mức giá công bằng, có tính tới giá thuê, mục đích sử dụng, thời gian sử dụng và giá
của những thửa đất tương tự gần đó. Việc định giá để bồi thường sẽ do chuyên gia
định giá tư nhân thực hiện, mức bồi thường sẽ được tính là mức trung bình của các
giá trị định giá. Nếu giá trị định giá cao nhất và thấp nhất chênh lệch 10% hoặc
nhiều hơn sẽ có chuyên gia định giá khác thực hiện tiếp việc định giá, sau đó việc
bồi thường sẽ được tính toán lại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013) )[6].
Hình thức bồi thường của Hàn Quốc được trả bằng tiền mặt. Ngoài ra các
chủ sở hữu tài sản bị thu hồi có thể lựa chọn các hình thức khác, không phải tiền
mặt như đất thay thế hoặc nhà ở xã hội.

Bồi thường đất nông nghiệp, đất ở và các loại đất khác tại Hàn Quốc có quy
định tương tự như ở Việt Nam, bồi thường theo giá thị trường. Đối với đất nông
nghiệp nếu đất bị thu hồi trước khi thu hoạch hoa màu thì sẽ được bồi thường hoa

11

màu. Giá trị bồi thường được tính để đủ hỗ trợ người nông dân phục hồi lại việc sản
xuất của mình. Đối với công trình xây dựng hợp pháp sẽ được bồi thường, công
trình xây dựng sau thời điểm công bố dự án sẽ không được bồi thường.
Bồi thường ảnh hưởng cho hoạt động kinh doanh được tính dựa trên thiệt hại
về thu nhập hoặc lợi nhuận, không dựa trên tài sản hiện có. Để được bồi thường, cơ
sở kinh doanh cần có những trang thiết bị cần thiết và có mặt bằng sản xuất hợp
pháp trước ngày công bố dự án. Không bồi thường cho các cơ sở sản xuất kinh
doanh không phép.
Theo Luật của Hàn Quốc quy định, khu đất tái định cư phải bao gồm các cơ
sở hạ tầng thiết yếu. Chi phí cho việc xây dựng các cơ sở hạ tầng sẽ do chủ đầu tư
chi trả.
1.2.3. Ấn Độ
Tại Ấn Độ đạo luật thu hồi đất, có quy định, trước khi thu hồi đất cần chuẩn
bị dự thảo kế hoạch tái định cư cho những hộ gia đình bị ảnh hưởng sau khi tham
vấn với đại diện của các hộ và dựa trên khảo sát, trưng cầu ý kiến của các hộ. Cần
có nghiên cứu đánh giá tác động về mặt xã hội khi dự án ảnh hưởng tới 400 hoặc
nhiều hơn hộ gia đình trong khu vực đồng bằng, hoặc 200 hoặc nhiều hơn hộ gia
đình ở khu vực miền núi hoặc dân tộc thiểu số (Bộ Tài nguyên và Môi trường,
2013)[6]
Cơ sở bồi thường theo Luật quy định là giá trị thị trường của đất và thiệt hại
tính ở thời điểm thông báo sẽ được cân nhắc để quyết định mức bồi thường. Ngoài
giá trị thị trường, toà án sẽ cộng thêm 30% do cân nhắc đến việc thu hồi bắt buộc
(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013) )[6].
Các hộ gia đình bị ảnh hưởng do thu hồi đất có thể lựa chọn nhận một khoản

tiền bồi thường thay vì một hay nhiều lợi ích được quy định trong luật khi có sự
chấp thuận của cơ quan nhà nước.
Đối với đất nông nghiệp, các hộ gia đình được đền bù 1 ha đất được tưới tiêu
hoặc 2 ha đất không được tưới tiêu hoặc đất bỏ hoang có thể canh tác được nếu có
sẵn nguồn đất ở khu tái định cư. Đối với đất ở, tuỳ theo giá thị trường tại thời điểm
thông báo sẽ được cân nhắc để quyết định mức bồi thường. Công trình xây dựng

12

được bồi thường theo giá thị trường.
Các nghệ nhân kinh doanh nhỏ, kinh doanh cá thể sẽ được nhận hỗ trợ tài
chính một lần dành cho việc xây dựng cửa hàng hoặc nơi sản xuất.
Về chính sách tái định cư, luật đất đai của Ấn Độ cũng quy định trường hợp phải di
chuyển từ 400 hộ gia đình trở lên ở khu vực đồng bằng, 200 hộ gia đình trỏ lên ở
khu vực nông thôn thì sẽ xây dựng khu tái định cư có đầy đủ cơ sở hạ tầng và điều
kiện sinh hoạt cho người dân với định mức, tiêu chuẩn do Chính phủ quy định (Bộ
Tài nguyên và Môi trường, 2013) )[6].
1.2.4. Nhận xét, đánh giá
Việc thu hồi đất, trưng thu đất và bồi thường thiệt hại về đất tại mỗi quốc gia
đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó quy định. Tuy nhiên, các
chính sách đó đều có các nội dung chủ yếu sau:
Đối tượng được bồi thường về đất: Tất cả những người đang sử dụng đất mà
bị Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu, sử dụng đất hợp pháp về đất đai, trước ngày
Nhà nước thực hiện thu hồi đất hoặc trưng thu đất mà đã tồn tại không có tranh
chấp hoặc khiếu nại đều được bồi thường.
Phương thức bồi thường đất: Việc bồi thường được thực hiện theo hai
phương thức là bồi thường bằng hiện vật (đất, nhà, lương thực, vật liệu xây dựng
v.v) hoặc bồi thường bằng tiền mặt cho đất đai bị thiệt hại. Tuy nhiên, dù thực hiện
theo phương thức nào thì cũng đều phải xác định giá trị đất bị thu hồi để làm cơ sở
thực hiện việc bồi thường.

Giá trị đất bị thu hồi, trưng thu: Giá trị đất bị thu hồi hoặc trưng thu được
tính trên cơ sở giá trị thực của đất. Nguyên tắc chung là giá bồi thường, giá trưng
thu phải là giá thị trường hoặc giá thay thế.
Chính sách hỗ trợ khi bị thu hồi đất, trưng thu đất: Ngoài việc bồi thường
cho người bị thu trưng thu, trưng mua hoặc thu hồi đất, các quốc gia còn quy định
việc hỗ trợ cho người bị thu hồi đất hoặc bị trưng thu đất. Đó là các khoản hỗ trợ bổ
sung ngoài bồi thường nhằm tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất hoặc bị trưng
thu đất ổn định và cải thiện đời sống, sản xuất, thu nhập, chuyển đổi nghề nghiệp.
Qua nghiên cứu chính sách bồi thường GPMB của một số nước và ngân hàng

13

thế giới, Việt Nam chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện
chính sách bồi thường GPMB ở một số điểm sau:
- Hoàn thiện các quy định về định giá đất nói chung và định giá đất để bồi
thường GPMB nói riêng;
- Thực hiện thống nhất trình tự, thủ tục thu hồi đất, GPMB và thực hiện tốt
quy định về thẩm định, phê duyệt, giám sát thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ;
quan tâm hơn nữa tới việc quy hoạch và xây dựng nơi TĐC, tạo việc làm cho người
có đất bị thu hồi; xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng đất, Nhà
nước và nhà đầu tư;
- Bổ sung thêm một số giải pháp nhằm hỗ trợ người dân có đất bị thu hồi
khôi phục thu nhập, ổn định cuộc sống.
1.3. Một số quy định của Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ và TĐC ở Việt Nam
1.3.1. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992
Hiến pháp 1992 ra đời là bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng chính sách
pháp luật đất đai nói chung và chính sách bồi thường, GPMB nói riêng, đó là:
+ Tại Điều 17 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống
nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật”.
+ Tại Điều 18 quy định “Các tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao đất sử

dụng lâu dài và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật”.
+ Tại Điều 23 quy định “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị
quốc hữu hoá. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi
ích của quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá
nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật
định”. Như vậy nhà nước có thể trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của cá nhân,
trong đó bao gồm có đất đai nhưng chỉ để phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh và
lợi ích quốc gia.[18]
1.3.2. Các quy định về bồi thường, hỗ trợ tại Luật đất đai năm 2003
Luật đất đai năm 2003 đã mở rộng các quyền của người sử dụng đất, trong đó
có quyền được nhận bồi thường khi nhà nước thu hồi đất. Điều 4 Luật Đất đai xác

14

định rõ: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn quản lý theo quy định của Luật này” và định nghĩa “Bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị
thu hồi cho người bị thu hồi đất”. Tuy nhiên điều này chưa nói rõ về thu hồi đất của
các cá nhân, đồng thời cũng chưa phân loại rõ các đối tượng bị thu hồi đất khác
nhau vì đối với mỗi đối tượng bị thu hồi đất khác nhau thì ảnh hưởng đối với đời
sống của hộ đó lại khác nhau.
Các trường hợp thu hồi đất của người dân cũng được quy định rõ trong Điều
38 và Điều 40 của Luật. Theo đó Nhà nước thu hồi đất nhằm phục vụ các mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế. Trong
Luật cũng đã giải thích rõ về mục đích phát triển kinh tế là trong trường hợp đầu tư
xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn
theo quy định của Chính phủ. Như vậy khái niệm phát triển kinh tế còn khá mơ hồ
nên chính quyền các tỉnh đã thu hồi đất nông nghiệp ồ ạt để xây dựng các khu công

nghiệp, cụm công nghiệp mà không quan tâm đến hiệu quả sử dụng đã dẫn đến
nhiều khu, cụm công nghiệp không được lấp đầy, nhiều dự án treo, đất bỏ hoang
hoá nhiều năm.
Luật đất đai năm 2003 cũng đã quy định về việc bồi thường và tái định cư
cho người bị thu hồi đất, theo đó những hộ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bị thu hồi đất
sẽ được bồi thường. Đồng thời người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằng
việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì
được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
Các dự án trước khi thu hồi đất phải lập và thực hiện các dự án tái định cư để bồi
thường cho người bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được quy
hoạch chung cho nhiều dự án và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi
ở cũ )[17].
Giá đất bồi thường được hình thành theo 3 trường hợp sau:
- Do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định phải

15

sát với giá trị trường, được công bố vào ngày mồng 1 tháng 1 hàng năm
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất
- Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên quan
khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê lại quyền sử dụng đất, góp vốn
bằng quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên thực tế giá đền bù đất thường được áp dụng theo khung giá đền bù
của tỉnh, dựa vào khung giá đất của Chính phủ.
1.3.3. Các quy định tại Bộ Luật dân sự 2005
Luật dân sự 2005 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
14/06/2005 và có hiệu lực từ 1/1/2006. Liên quan đến việc thu hồi và đền bù ở Luật
này có các quy định pháp lý tại chương XV về Bảo vệ quyền sở hữu. Theo đó chủ
sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của

mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của
pháp luật. Cụ thể là các điều:
Điều 255: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Tòa án,
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở
hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại” Đây
là quyền lợi của người sở hữu quyền sử dụng đất, tuy nhiên đối với việc thu hồi đất
hầu hết đều là quyết định của UBND Tỉnh và theo đúng luật Đất đai năm 2003 do
đó người dân không biêt khiếu kiện như thế nào.
Điều 260: nêu rõ “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu
người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường
thiệt hại". Tương tự như điều 255, khi thu hồi đất của hộ nông dân, chính quyền
tỉnh đã áp mức giá đền bù theo khung giá của tỉnh, người dân đã được nhận tiền bồi
thường và tiền bồi thường này theo đúng quy định của nhà nước nên người dân
không biết nên kiện ở đâu. Vấn đề chính đối với cả hai điều luật này là đến khi tỉnh
ký quyết định thu hồi đất rồi thì người nông dân mới kiện, khi quyết định đã ký thì
việc thu hồi hoàn toàn theo quy định của pháp luật. Quyền sở hữu đối với đất đai và
quyền đòi bồi thường thiệt hại nên được thể hiện trong bước lấy ý kiến người dân

16

về việc thu hồi, quy hoạch, tuy nhiên sự tham gia của người dân vào khâu này còn
rất hạn chế.
Điều 261 quy định về bảo vệ quyền của người chiếm hữu mà không phải là
chủ sở hữu như sau: "Các quyền được quy định tại các điều từ Ðiều 255 đến Ðiều
260 của Bộ luật này cũng thuộc về người tuy không phải là chủ sở hữu nhưng
chiếm hữu tài sản trên cơ sở quyền sử dụng đất, quyền sử dụng hạn chế bất động
sản liền kề hoặc theo căn cứ khác do pháp luật quy định hoặc theo thỏa thuận"[19]
1.3.4. Các quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP
Ngay sau khi Luật đất đai có hiệu lực thi hành, ngày 3/12/2004 Chính phủ đã

ban hành Nghị định số 197/2004/NĐ- CP quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Các nội dung cụ thể về bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp bị thu hồi
được quy định rõ tại điều 10. Nghị định đã phân rõ các trường hợp thu hồi đất có
bồi thường hoặc không có bồi thường, quy định các trường hợp cụ thể cho bồi
thường thiệt hại do thu hồi đất tuy nhiên chưa quy định được việc thu hồi đất phục
vụ cho những mục đích gì. Trước đây, việc áp dụng giá đất bồi thường đối với diện
tích đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao liền kề với đất ở khu dân
cư tương tự như giá bồi thường đất nông nghiệp khác mà không hưởng thêm sự hỗ
trợ nào đã gặp phải sự phản ứng gay gắt từ phía người dân vì đất nông nghiệp trong
nội đô thị, đất vườn ao trong khu dân cư nông thôn đều thuộc quy hoạch đất đô thị
hoặc đất khu dân cư. Trong thực tế, các loại đất này có thể dễ dàng chuyển thành
đất phi nông nghiệp và có giá chuyển nhượng cao hơn hẳn đất nông nghiệp ở các
vùng khác. Để giải quyết tình trạng này, ngoài việc được bồi thường theo giá đất
nông nghiệp cùng loại, Nghị định 197/2004/NĐ-CP quy định người bị thu hồi đất
còn được hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ từ 20 - 50% giá đất ở liền kề. Ngoài ra còn
quy định cụ thể việc bồi thường cho trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất
nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức SDĐ; bồi thường khi thu hồi đất nông
nghiệp do các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán của các nông, lâm trường quốc
doanh.
Đối với tài sản trên đất bị thu hồi, nguyên tắc bồi thường của Nghị định số

×