Tải bản đầy đủ (.doc) (167 trang)

Luận văn: Khai thác một số làng nghề truyền thống ở tỉnh hà nam phục vụ phát triển du lịch

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.65 MB, 167 trang )

Lun văn: “ Khai thác một số làng nghề truyền thống ở
tỉnh Hà Nam phục vụ phát triển du lịch ”
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa du lịch là sở thích, là nhu cầu và hoạt động nghỉ ngơi tích cực
của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu tất yếu của con người
và không chỉ là ngành kinh tế quan trọng mà còn là cầu nối giao lưu giữa các
quốc gia, dân tộc, các miền trong một đất nước và trên thế giới.
Những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, du lịch Việt Nam đã có những
bước phát triển đáng kể, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. Trong chỉ thi số 46-CT/TW, ngày 14/10/1994 của Ban Bí
thư TW Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Phát triển du lịch là một
định hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước”, phấn đấu “ từng bước đưa nước ta thành trung tâm du lịch –
dịch vụ có tầm cỡ khu vực”
Ngành sản xuất chính của nước ta là nông nghiệp, bên cạnh đó nghề
truyền thống có vai trò rất quan trọng cả về mặt kinh tế và mặt văn hóa.
Đến thời điểm hiện tại vai trò của nó vẫn không thay đổi mà còn góp phần
cho phát triển du lịch làng nghề - một hoạt động mang lại lợi ích kinh tế
cao trong những năm gần đây.
Nước ta có hàng ngàn làng nghề truyền thống. Mỗi dân tộc thường
có một hoặc nhiều nghề truyền thống với trình độ và quy mô khác nhau.
Các làng nghề này thường phản ánh các đặc điểm về tự nhiên, xã hội, kể
cả tư duy thẩm mỹ và tính sáng tạo của mỗi dân tộc trong quá trình thích
ứng với môi trường. Các nghệ nhân và những người thợ tài hoa với đôi
bàn tay khéo léo, trí tưởng tượng phong phú và óc sáng tạo đã làm ra
nhiều sản phẩm có giá trị nghệ thuật làm nên bản sắc văn hóa dân tộc.
2
Hà Nam là một tỉnh có diện tích nhỏ (đứng thứ 62/63 tỉnh và thành


phố trong cả nước) nhưng lại có khá nhiều làng nghề phát triển. Cùng với sự
phát triển du lịch của vùng đồng bằng sông Hồng, du lịch Hà Nam cũng có
những bước phát triển. Trong đó phải kể đến du lịch làng nghề truyền thống.
Nghề truyền thống vốn được xem như một dạng tài nguyên du lịch nhân văn
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi sản phẩm của nó luôn bao hàm cả giá trị
vật thể và phi vật thể. Với số lượng làng nghề lớn thuộc nhiều nhóm nghề có
truyền thống lâu đời, sản phẩm đặc sắc, bên cạnh đó Hà Nam là một tỉnh có
nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, các di tích lịch sử văn hóa đã được công
nhận cả ở cấp quốc gia và cấp tỉnh nhưng hiện nay việc phát triển du lịch
làng nghề truyền thống ở Hà Nam còn hạn chế rất nhiều mặt, chưa được khai
thác hết tiềm năng. Do vậy việc nghiên cứu khai thác một số làng nghề phục
vụ cho việc phát triển du lịch là cần thiết. Ngoài ra với tiềm năng như vậy
được khai thác đầu tư sẽ mạng lại những hiệu quả kinh cao cho Hà Nam, trở
thành một thế mạnh để phát triển kinh tế Hà Nam trong tương lai. Mặt khác
là người sinh ra và lớn lên ở Hà Nam, là một người giáo viên nên việc hiểu
biết sâu sắc về quê hương để phục vụ tốt cho công việc giảng dạy địa lí địa
phương tỉnh Hà Nam, góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước cho
thế hệ trẻ càng có ý nghĩa thiết thực hơn.
Vì những lí do trên tác giả quyết định lựa chọn đề tài “ Khai thác một
số làng nghề truyền thống ở tỉnh Hà Nam phục vụ phát triển du lịch” đưa
vào nghiên cứu với mong muốn đề xuất được các giải pháp nhằm khai thác
một cách hợp lý tiềm năng của các làng nghề cho phát triển du lịch và bảo tồn
những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc ở Hà Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nghề và các làng nghề thủ công truyền thống luôn là đối tượng
nghiên cứu của nhiều lĩnh vực văn hóa, lịch sử, du lịch…Trong du lịch
3
làng nghề truyền thống được coi như là yếu tố tài nguyên du lịch. Vì vậy
có nhiều các nghiên cứu về làng nghề, nhưng nghiên cứu để đánh giá nó
như một tài nguyên cho ngành du lịch thì còn rất ít.

Đầu thế kỉ XX một số học giả người Pháp nghiên cứu như cuốn:
“Bàn về người Bắc Kỳ” của Đumuchie đã có những nhận định khái quát
về nghề gốm Việt Nam.
Năm 1976, tác giả Phạm Văn Kính đã có bài “một số nghề thủ công
thế kỉ XVI, nghề dệt, nghề gốm, nghề khai khoáng luyện kim”, viết về tình
hình phát triển của các làng nghề thủ công qua các thời kì.
Năm 1992, Phan Đại Doãn đã viết tác phẩm “Làng Việt Nam – một
số vấn đề kinh tế xã hội” đề cập đến nhiều khía cạnh của làng xã Việt
Nam như kinh tế nông thôn, tôn giáo, văn hóa…Trong đó có một phần
trình bày về thủ công nghiệp làng quê. Đặc điểm nổi bật của thủ công
nghiệp truyền thống là sự kết hợp giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp
với nhiều cấp độ sắc thái khác nhau. Sự phát triển của các làng nghề là
biểu hiện của trình độ phân công lao động xã hội, thủ công nghiệp nhà
nước tách ra khỏi nông nghiệp nhưng không triệt để.
Năm 1996, tác giả Tô Ngọc Hân trong bài “Làng nghề thủ công
truyền thống và những vấn đề cấp bách đặt ra” khẳng định sự đa dạng
của nghề truyền thống Việt Nam và nêu lên thực trạng của nghề truyền
thống hiện nay.
Năm 1998, cuốn “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của
tác giả Bùi Văn Vượng là cuốn sách viết đầy đủ nhất về làng nghề thủ
công Việt Nam. Tác giả đã đưa ra những khái niệm về nghề cổ truyền,
làng nghề truyền thống…
Năm 2014, tại trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí minh đã
có cuộc Hội thảo về Làng nghề và phát triển du lịch. Hội thảo đã đưa ra
4
cái nhìn tổng quan về giá trị làng nghề, kĩ năng nghề và sản phẩm từ làng
nghề dưới góc nhìn văn hóa, kinh tế. Bên cạnh đó đề cập nhiều đến việc
phát triển du lịch tại các làng nghề, thực trạng cũng như giải pháp để thúc
đẩy du lịch làng nghề phát triển một cách bền vững.
Chính phủ, các Bộ cũng đã đưa ra nhiều nghị quyết, Nghị định,

Thông tư để bảo tồn và phát triển các làng nghề:
- Quyết định 22/2005/QĐ - BNV của bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc
thành lập Hiệp hội làng nghề Việt Nam. Đây là tổ chức của các làng nghề
và tổ chức kinh doanh, các nghệ nhân và người tâm huyết cùng góp sức
thực hiện các biện pháp bảo tồn và phát triển ngành nghề truyền thống.
Nghị định 66/2006/NĐ - CP của chính phủ về việc phát triển ngành
nghề nông thôn. Nghị định đưa ra một số chính sách cụ thể nhằm khuyến
khích phát triển ngành nghề nông thôn như: chương trình bảo tồn phát
triển làng nghề, đầu tư,xúc tiến thương mại
Có nhiều đề tài nghiên cứu cụ thể về các làng nghề trên một số địa
phương của cả nước, nhất là các tỉnh tập trung nhiều làng nghề như thủ đô
Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng…Trong đó nghiên cứu việc
phát triển làng nghề và cả du lịch làng nghề.
- Làng nghề Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, Lê Văn Hương, 2002. Luận văn thạc sĩ khoa học Địa lí
- Khai thác một số làng nghề thủ công truyền thống ở Hà Nội phục vụ
phát triển du lịch, 2012. Vũ Thị Yến. Luận văm thạc sĩ khoa học Địa lí
- Phát triển du lịch làng nghề gốm Chu Đậu - Hải Dương, Nguyễn Thị
Dạ Hương, 2010. Luận văn thạc sĩ khoa học Địa lí. Tác giả trình bày về thực
trạng phát triển du lịch tại làng nghề gốm Chu Đậu của tỉnh Hải Dương.
Ở Hà Nam, cũng có những bài báo và đề tài nghiên cứu về làng
nghề như:
5
- Thực trạng phát triển làng nghề tỉnh Hà Nam, Trần Đình Quỳnh,
2011. Luận văn thạc sĩ khoa học Địa lí. Tác giả trình bày về thực trạng
phát triển các làng nghề Hà Nam, đồng thời đưa ra những giả pháp phát
triển bền vững và bảo vệ môi trường dài lâu.
- Những giải pháp phát triển làng nghề Hà Nam, Sở công thương
tỉnh Hà Nam , 2013
- Kế hoạch triển khai quy hoạch phát triển du lịch Hà Nam và các

chiến lược, nghị quyết, chương trình phát triển du lịch Việt Nam trên địa
bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2015 - 2020 của UBND tỉnh Hà Nam, trong
đó có đề cập đến vấn đề phát triển du lịch làng nghề truyền thống.
Tuy nhiên có rất ít những nghiên cứu gắn kết hai vấn đề du lịch và
làng nghề với nhau ở tỉnh Hà Nam. Chính vì vậy tác giả đã tiến hành
nghiên cứu đề tài “Khai thác một số làng nghề truyền thống ở tỉnh Hà
Nam phục vụ phát triển du lịch” để kết nối hai vấn đề trên với nhau nhằm
đưa ra giải pháp khai thác các làng nghề truyền thống một cách có hiệu
quả góp phần vào phát triển kinh tế của tỉnh Hà Nam.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Vận dụng những kiến thức lí luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vai trò
của làng nghề thủ công truyền thống đối với việc phát triển kinh tế - xã
hội nói chung và du lịch nói riêng. Phân tích các điều kiện và thực trạng
khai thác một số làng nghề của tỉnh Hà Nam phục vụ du lịch. Trên cơ sở
đó đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tài nguyên du lịch ở các làng
nghề truyền thống của Hà Nam một cách hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự
phát triển hơn nữa ngành du lịch của tỉnh
3.2. Nhiệm vụ
Với mục đích trên đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Đúc kết cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch, làng nghề truyền
thống và phát triển du lịch làng nghề truyền thống
6
- Đánh giá điều kiện phát triển du lịch và việc phát triển các làng
nghề truyền thống ở tỉnh Hà Nam phục vụ du lịch
- Phân tích hiện trạng khai thác một số làng nghề thủ công truyền
thống cho phát triển du lịch ở Hà Nam.
- Đề xuất các giải pháp góp phần bảo tồn và phát triển du lịch làng
nghề tỉnh Hà Nam.
3.3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tiềm năng và thực trạng
khai thác một số làng nghề truyền thống ở Hà Nam cho phát triển du lịch
như: làng nghề trống Đọi Tam, làng nghề mây giang đan Ngọc Động,
làng lụa Nha Xá, làng nghề Nhật Tân, làng thêu An Hòa … Đồng thời đề
xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và khai thác có hiệu quả các làng
nghề này phục vụ cho du lịch.
- Về phương diện lãnh thổ: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ
tỉnh Hà Nam, có sự liên hệ với các tỉnh lân cận.
- Về phương diện thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu từ năm
2006 đến năm 2013.
4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Quan điểm
4.1.1. Quan điểm hệ thống cấu trúc
Đây là quan điểm được vận dụng trong hầu hết các đề tài nghiên
cứu khoa học. Khi nghiên cứu một đối tượng cụ thể cần phải đặt nó trong
mối tương quan nội hệ thống (giữa các thành phần trong cùng một hệ
thống với nhau) và mối tương quan ngoại hệ thống (đặt đối tượng nghiên
cứu trong các hệ thống phân vị cấp cao hơn và cấp thấp hơn). Nghiên cứu
vấn đề khai thác các làng nghề truyền thống cho phát triển du lịch cần
phải đặt trong mối quan hệ với sự phát triển chung của du lịch Hà Nam.
7
Mặt khác Hà Nam nằm trong vùng du lịch Đồng bằng sông Hồng nên
cũng vận động và phát triển theo quy luật chung của toàn hệ thống.
4.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều nhân tố: tự
nhiên, văn hóa, xã hội, lịch sử, con người…Và các nhân tố này luôn có
mối quan hệ khăng khít với nhau. Vì thế việc nghiên cứu, đánh giá các
nguồn lực du lịch thường được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không
gian hoặc lãnh thổ nhất định để có những giá trị đồng bộ về mặt kinh tế,
xã hội và môi trường

Hà Nam là lãnh thổ thống nhất, hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tự
nhiên, kinh tế, xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động chi phối lẫn nhau.
Do đó khi nghiên cứu vấn đề phát triển du lịch làng nghề cần lựa chọn
những nhân tố ảnh hưởng đến lãnh thổ trên địa bàn nghiên cứu, từ đó thấy
được thực trạng phát triển và đưa ra những giải pháp bảo tồn và thúc đẩy
sự phát triển cho du lịch làng nghề.
4.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Tất cả sự vật, hiện tượng địa lí đều có nguồn gốc phát sinh, phát
triển và luôn vận động, biến đổi theo không gian và thời gian. Vận dung
quan điểm này vào nghiên cứu để thấy được sự hình thành, phát triển của
các làng nghề ở Hà Nam qua các giai đoạn lịch sử từ quá khứ đến hiện tại
và dự đoán tương lai, từ đó đánh giá triển vọng cho phát triển du lịch của
các làng nghề truyền thống ở Hà Nam
4.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
So với các ngành kinh tế khác, du lịch được coi là “ngành công
nghiệp không khói”, được đánh giá là “con gà đẻ trứng vàng”, đem lại
hiệu quả kinh tế cao và giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Tuy nhiên, vì là ngành khai thác nguồn tài nguyên tự nhiên và
8
nhân văn để phục vụ mục đích du lịch nên có tác động rất lớn đến môi
trường. Do vậy sự phát triển du lịch phải tính đến việc bảo tồn, giữ gìn và
tôn tạo cảnh quan, giá trị văn hóa, hướng đến sự phát triển bền vững. Ví
thế trong quy hoạch du lịch nói chung và trong phát triển du lịch làng
nghề nói riêng luôn phải quán triệt quan điểm hướng đến sự bền : bền
vững về môi trường, bền vững về kinh tế - xã hội. Quan điểm phát triển
du lịch bền vững được vận dụng khi nghiên cứu lãnh thổ du lịch Hà Nam
nói chung và các làng nghề truyền thống nói riêng được thể hiện ở một số
khía cạnh sau:
- Có triển vọng phát triển lâu dài
- Bảo vệ được sự đa dạng tài nguyên tự nhiên văn, hóa xã hội

- Thu hút được cộng đồng dân cư địa phương vào hoạt động du lịch
- Phát triển du lịch thống nhất trong quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế Hà Nam.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thu thập, xử lí tài liệu
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến ở tất cả các công trình
nghiên cứu khoa học. Việc vận dụng phương pháp này giúp người nghiên
cứu tiết kiệm thời gian và có cái nhìn tổng thể về vấn đề nghiên cứu, đồng
thời đảm bảo tính kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước đó. Phương
pháp này ảnh hưởng nhiều đến kết quả nghiên cứu, tính chính xác và mức
độ khoa học của đề tài nghiên cứu.
Để hoàn thành luận văn này tác giả tiến hành thu thập các tài liệu sau:
các tài liệu nghiên cứu chung về làng nghề truyền thống, các tài liệu phục
vụ cho việc xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài; tiềm năng và
thực trạng phát triển các làng nghề; tài liệu về các chương trình, chính
sách liên quan đến nội dung nghiên cứu; các văn bản pháp lý của Tổng
9
cụa du lịch, UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch tỉnh Hà Nam. Các
văn bản có liên quan trực tiếp tới phát triển du lịch Hà Nam như Báo cáo
tổng kết của Sở VHTTDL qua các năm. Trong đó quan trọng nhất là các
tài liệu thống kê, dựa vào việc phân tích và tổng hợp các tài liệu này sẽ
giúp cho việc nhận định, đánh giá và dự báo xu hướng phát triển của đối
tượng nghiên cứu: số lượng khách, doanh thu, mức tăng trưởng du lịch, cơ
sở lưu trú….
4.2.2. Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này có vai trò quan trọng trong nghiên cứu các vấn đề
kinh tế xã hội có liên quan tới hoạt động phát triển du lịch. Giúp kiểm
định tính chân thực của đề tài nghiên cứu. Đồng thời việc trao đổi tiếp xúc
với các chuyên gia giúp cho tác giả có các nhìn toàn diện sâu sắc hơn. Cụ
thể trong luận văn này như sau:

Tác giả trực tiếp trao đổi với lãnh đạo chính quyền địa phương, cơ
quan quản lý và phát triển du lịch (Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hà
Nam, Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh Hà Nam)
4.2.3. Phương pháp bản đồ
Đây là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu địa lí nói
chung và địa lý du lịch nói riêng. Việc thành lập bản đồ nhằm gắn các số
liệu, tài liệu đã được thu thập và xử lí với không gian lãnh thổ cụ thể
Quá trình thành lập bản đồ, biểu đồ có sự hỗ trợ đắc lực của một số
phần mềm Mapinfo 9.0, Acrgis…
Trên cơ sở bản đồ nền với các lớp dữ liệu hành chính, giao thông,
thủy văn… thiết kế các lớp dữ liệu mới dựa vào các số liệu, tài liệu đã
tổng hợp được, biên tập kiểm tra và bổ sung các dữ liệu kết quả cuối cùng
sẽ thành lập được các bản đồ: Bản đồ hành chính, Bản đồ hiện trạng du
lịch Hà Nam, Bản đồ định hướng du lịch Hà Nam
10
4.2.4. Phương pháp phỏng vấn
Tiếp xúc với người dân ở làng nghề, với các nghệ nhân, với các hộ
gia đình về quá trình sản xuất, kỹ thuật sản xuất sản phẩm thủ công,
doanh thu cũng như các vấn đề về nguyên liệu, đầu ra cho sản phẩm…
4.2.5. Phương pháp dự báo
Phát triển du lịch là một trong những mục tiêu quan trọng của kinh
tế Hà Nam, trong đó có du lịch làng nghề truyền thống. Do đó đòi hỏi
phải có tầm nhìn chiến lược và những dự báo cả về phát triển và sự biến
động của thị trường du lịch, môi trường làng nghề nhằm đảm bảo những
định hướng phát triển phù hợp với tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh.
5. Những đóng góp chủ yếu của đề tài
- Đúc kết một số vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch và
khai thác các làng nghề truyền thống cho phát triển du lịch.
- Đánh giá điều kiện phát triển du lịch nói chung và một số làng
nghề truyền thống ở tỉnh Hà Nam nói riêng.

- Phân tích thực trạng khai thác một số làng nghề truyền thống cho
phát triển du lịch ở Hà Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác và bảo tồn làng nghề
truyền thống ở Hà Nam cho phát triển du lịch.
6. Cấu trúc lun văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo. Phần nội
dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch và làng nghề truyền thống
- Chương 2 : Các điều kiện và thực trạng khai thác một số làng nghề truyền
thống ở tỉnh Hà Nam phục vụ phát triển du lịch
- Chương 3 : Định hướng và giải pháp khai thác các làng nghề truyền
thống ở tỉnh Hà Nam cho phát triển du lịch
11
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VÀ
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
1.1. Cơ sở lí lun
1.1.1. Du lịch và một số khái niệm có liên quan
1.1.1.1. Khái niệm về du lịch
Hoạt động du lịch đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và có vai trò quan
trọng đối với nhiều nền kinh tế trên thế giới. Thuật ngữ “du lịch” cũng được
sử dụng ngày càng phổ biến hơn. Vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về
du lịch do các nhà nghiên cứu có cách tiếp cận và quan điểm riêng.
Khái niệm du lịch xuất hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1811 “Du lịch
là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành
trình với mục đích giải trí”. Khái niệm này chỉ đơn giản coi hoạt động du
lịch là giải trí.
Tại hôi nghị lần thứ 27 (năm 1993) của Tổ chức Du lịch Thế giới
(UNWTO) đã đưa ra môt khái niệm du lịch mới thay thế cho khái niệm du
lịch năm 1963 “Du lịch là hoạt động về chuyến đi tới một nơi khác với

môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan,
nghỉ ngơi, giải trí hoặc các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù
lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm”. Khái niệm này đã
chỉ ra mục đích của du lịch thực chất là để tham quan, nghỉ dưỡng và giải
trí…và không có mục đích kiếm tiền tại nơi đến.
Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ đã trích dẫn quan niệm của I.I
Pirojnik: “Du lịch là một hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên
quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường
xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng
12
cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ
những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”[42]. Quan niệm này đã
phản ánh tương đối đầy dủ bản chất của hoạt động du lịch.
Ở nước ta quan niệm phổ biến và được công nhận rộng rãi là quan niệm
trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm
2005: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[14].
Nhìn chung có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch nhưng về cơ
bản nó chứa đựng những nội dung sau:
- Là sự di chuyển và lưu trú bên ngoài nơi cư trú của con người
nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng
- Tiêu thụ những giá trị về mặt tự nhiên, kinh tế, văn hóa, dịch vụ ở
điểm đến của khách
- Là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế
có liên quan đến khách du lịch.
Thông qua phân tích các khái niệm du lịch trên đây, khái niệm du
lịch theo luật du lịch Việt Nam là khái niệm được sử dụng xuyên suốt
trong luận văn của tôi.

1.1.1.2. Khách du lịch
Luật du lịch Việt Nam quy định: “Khách du lịch là người đi du lịch
hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để
nhận thu nhập ở nơi đến”[14]
Tại điều 34 chương V quy định: “Khách du lịch gồm khách du lịch
nội địa và khách du lịch quốc tế
13
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài
thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước
ngoài thường trú ở Việt Nam ra nước noài du lịch
Quan niệm về khách du lịch chủ yếu đề cập đến yếu tố chính là
động cơ khởi hành. Về động cơ khởi hành có thể là tham quan, nghỉ
dưỡng…trừ động cơ lao động kiếm tiền.
1.1.1.3. Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách dựa
trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một
khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm trọn vẹn và sự hài lòng.
Theo luật du lịch Việt Nam (2005): “Sản phẩm du lịch là tập hợp
các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến
đi du lịch” [14].
Như vậy sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa dịch vụ và phương tiện
vật chất trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của
khách du lịch.
Điểm chung mà sản phẩm du lịch mang lại cho du khách chính là sự
hài lòng. Nhưng đó không phải sự hài lòng như khi mua sắm các loại hàng
hóa vật chất, mà là sự hài lòng do được trải qua một khoảng thời gian thú
vị, tồn tại trong kí ức của du khách khi kết thúc chuyến du lịch.
- Các dịch vụ được sử dụng trong sản phẩm du lịch là:

+ Dịch vụ vận chuyển: đưa khách từ nơi lưu trú đến các điểm tham quan.
+ Dịch vụ lưu trú: đảm bảo chỗ ăn ở cho du khách trong quá trình
tham quan
14
+ Dịch vụ vui chơi giải trí: đảm bảo du khách có thể sử dụng hữu
ích nhất và thú vị nhất trong thời gian rỗi của chuyến đi
+ Dịch vụ mua sắm: đây là dich vụ phổ biến ở các điểm du lịch,
cũng là một hình thức giải trí và đối với nhiều du khách nó là nhu cầu
không thể thiếu.
Ngoài những dịch vụ trên còn rất nhiều các loại dịch vụ khác tùy
từng địa điểm tham quan sẽ có phát sinh ví dụ như: dịch vụ bán lẻ sản
phẩm, dịch vụ bổ sung…
- Sản phẩm du lịch có 4 đặc điểm chính là:
+ Tính chất vô hình
+ Việc sản xuất tiêu thụ diễn ra cùng không gian, thời gian
+ Thành phần tham gia có sự hiện diện của khách du lịch
+ Khả năng tự tiêu hao
1.1.1.4. Tài nguyên du lịch
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005) quy định tại điều 4, chương I thì
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch
sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị
nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là
yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch,
đô thị du lịch”[14].
Như vậy tài nguyên du lịch chính là nhân tố tiền đề phục vụ cho
phát triển du lịch và thực tế cũng chứng minh những nơi có tài nguyên du
lịch càng phong phú đặc sắc thì sức hấp dẫn du lịch càng cao, càng thu
hút được nhiều khách du lịch đến tham quan vui chơi, giải trí.
Tài nguyên du lịch được chia ra làm hai loại là tài nguyên du lịch tự
nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.

- Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: các thành phần, các thể tổng
hợp tự nhiên được khai thác trực tiếp hay gián tiếp tạo ra sản phẩm phục
15
vụ mục đích phát triển du lịch như: địa hình (các dạng địa hình đặc biệt),
khí hậu, thủy văn (trên đất liền và biển), sinh vật…
- Tài nguyên du lịch nhân văn: theo luật du lịch Việt Nam (2005) “
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn
hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc,
các công trình sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi
vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”
Tài nguyên du lịch nhân văn có nhiều đặc điểm khác biệt so với tài
nguyên du lịch tự nhiên vì tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo
ra, nó phản ánh tư tưởng, trình độ phát triển của con người ở mỗi địa
phương, mỗi quốc gia. Bởi vậy chúng rất có sức hấp dẫn đối với những
người có trình độ hiểu biết cao, những nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên
ngành văn hóa, lịch sử, du lịch và cả những người quan tâm đến văn hóa -
lịch sử của con người…
Làng nghề truyền thống là một dạng quan trọng của tài nguyên du
lịch nhân văn, nó có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, nhìn vào
đó phần nào thấy được trình độ cũng như sự phát triển của con người qua
thời gian. Ngày nay du lịch làng nghề có xu thế ngày càng phát triển một
phần vì con người muốn tìm hiểu, khám phá những nét văn hóa đậm đà
bản sắc dân tộc cũng như lịch sử phát triển của cha ông thể hiện qua hệ
thống làng mà cụ thể là làng nghề truyền thống, phần khác vì cuộc sống
con người xã hội hiện đại mệt mỏi, căng thẳng nên họ muốn tìm về chốn
thôn quê để hít thở không khí trong lành cũng như hòa mình vào nhịp
sống nơi thôn dã.
1.1.2. Làng nghề truyền thống
1.1.2.1. Khái niệm làng nghề, làng nghề truyền thống
a. Làng nghề

Làng nghề là mô hình sản xuất truyền thống, gắn liền với sự phát
triển của kinh tế - xã hội Việt Nam. Làng nghề đóng vai trò tích cực đến
16
phát triển kinh tế và xã hội của nhiều địa phương, trong đó có Hà Nam. Vì
vậy nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về làng nghề và đưa ra nhiều khái
niệm về làng nghề. Các khái niệm làng nghề này nhìn chung có nhiều
điểm tương đồng với nhau:
Theo GS. Trần Quốc Vượng : “Làng nghề (như làng gốm Bát
Tràng, Thổ Hà, Phú Lãng, Hương Canh…; làng Đồng Bưởi, Thiệu Lý,
Phước Kiều…, làng giấy vùng Bưởi, Dương Ô…, làng rèn sắt Canh Diễn,
Phù Dực, Đa Hội…) tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi
(lợn, gà…) cũng có một số nghề phụ khác (đan lát, làm tương, làm đậu
phụ…), song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ
thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ
chức), có ông trùm, ông phó cả…cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên
tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất
nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra
những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này có tính mỹ nghệ, đã trở
thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng
xung quanh và với thị trường đo thị thủ đô (Kẻ Chợ, Huế, Sài Gòn…) và
tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài”[49].
Theo TS. Dương Bá Phượng “làng nghề là làng ở nông thôn có một
hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh
độc lập”[20].
Bách khoa toàn thư Việt Nam đã khái quát: “làng nghề là những
làng sống bằng hoặc chủ yếu nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam”.
Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006 hướng
dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày
07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn quan niệm:
“làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,

17
phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn,
có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại
sản phẩm khác nhau”.
Qua các khái niệm trên có thể thấy làng nghề gồm hai từ “làng” và
“nghề” ghép lại. Trong đó, làng dùng để chỉ cộng đồng dân cư sống ở
nông thôn với hoạt đông kinh tế truyền thống là sản xuất nông nghiệp, còn
“nghề” là nghề TTCN diễn ra trong làng gắn liền với hoạt động kinh tế phi
nông nghiệp của làng. Còn làng được gọi là làng nghề khi các hoạt động của
TTCN đạt đến quy mô nhất định và mang tính ổn định. Vì thế khái niệm làng
nghề phải thể hiện được cả định tính và định lượng. Định tính của làng nghề
thể hiện sự khác biệt của làng nghề so với làng nghề thuần nông. Định lượng
thể hiện ở quy mô và tính ổn định của làng nghề đó.
Trên cơ sở kế thừa và sự nghiên cứu của bản thân tác giả cho rằng
làng nghề có những đặc điểm sau:
- Làng nghề là làng ở nông thôn.
- Có một hay một số nghề thủ công gần như tách hẳn khỏi nông nghiệp.
- Đạt đến một tỉ lệ nhất định về số hộ, số lao động làm nghề cũng
như mức thu nhập từ nghề so với tổng số hộ, số lao động và thu nhập
trong làng.
b. Làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là một thực thể vật chất và tinh thần tồn tại
cố định của một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống. Vì thế, mỗi nghề
truyền thống được bảo tồn, hoạt động và phát triển ở một làng nghề, cụm
làng nghề, hay ở nhiều làng nghề, vùng nghề trong cả nước.
“Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ
công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề
mang tính truyền thống lâu đời có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán
18
sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ,

có cùng Tổ nghề và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những chế ước xã
hội và gia tộc. Sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế kĩ thuật, đào tạo
thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá
trình lịch sử hình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành ngay trên
đơn vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ”[50].
Làng nghề truyền thống cần có đặc trưng tiêu biểu như:
- Có lịch sử phát triển lâu đời
- Có vị tổ nghề
- Có nghệ nhân, đội ngũ thợ lành nghề
- Có công nghệ sản xuất truyền thống lâu đời, ổn định
- Có khả năng duy trì và phát triển bằng việc truyền nghề, lan tỏa nghề
- Sản phẩm độc đáo, ổn định có ý nghĩa kinh tế, văn hóa, xã hội, có
thị trường tiêu thụ (trong nước và xuất khẩu)
* Ngày 23 tháng 01 năm 2014 UBND tỉnh Hà Nam đã ban hành
Quyết định số 03 /2014/QĐ -UBND về quy chế xét công nhận làng
nghề và làng nghề truyền thống của tỉnh Hà Nam như sau:
1. Tiêu chí công nhận nghề truyền thống
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau:
a. Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận;
b. Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc;
c. Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi
của làng nghề.
2. Tiêu chí công nhận làng nghề
Làng nghề tiểu thủ công nghiệp được công nhận phải đạt 04 tiêu chí sau:
a) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trong làng tham gia các hoạt động tiểu
thủ công nghiệp;
19
b) Hoạt động sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp ổn định tối
thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;

c) Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường làng nghề theo các quy
định của pháp luật hiện hành;
d) Chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, quy định của địa phương.
3. Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống
- Làng nghề truyền thống tiểu thủ công nghiệp phải đạt tiêu chí làng nghề
tiểu thủ công nghiệp và có ít nhất một nghề tiểu công nghiệp truyền thống
được công nhận theo quy định tại Quy chế này.
- Đối với những làng nghề tiểu thủ công nghiệp chưa đạt tiêu chí tại điểm
a, b, khoản 1 điều này nhưng có ít nhất một nghề tiểu thủ công nghiệp truyền
thống được công nhận theo quy định tại Quy chế này thì cũng được công
nhận là làng nghề truyền thống tiểu thủ công nghiệp.
1.1.2.2. Đặc điểm của làng nghề truyền thống
- Tồn tại ở nông thôn và gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp
Đây là một đặc điểm nổi bật của làng nghề thủ công truyền thống. Từ
xưa người Việt đã biết đan lát thúng, mủng, nong, nia,…để phục vụ cho
cuộc sống hàng ngày và sản xuất nông nghiệp. Các sản phẩm ban đầu làm ra
còn đơn điệu, nhưng dần dần do nhu cầu đòi hỏi người nông dân phải sản
xuất với số lượng lớn, đẹp và có chất lượng cao. Qua quá trình sản xuất đó,
tay nghề của người nông dân ngày càng nâng cao và hoàn thiện hơn. Các sản
phẩm làm ra dần mang tính hàng hóa, tách ra khỏi nông nghiệp nhưng không
tách khỏi nông thôn và hình thành nên các làng nghề.
- Thường sử dụng nguyên liệu tại chỗ
Đa số các làng nghề thường sử dụng nguyên liệu tại địa phương hoặc
các địa phương lân cận để giảm bớt chi phí. Nhưng hiện nay do nguyên
20
liệu ngày một khan hiếm, quy mô sản xuất ngày càng mở rộng nên một số
làng nghề phải nhập nguyên liệu từ nhiều nơi khác. Ngoài ra các làng
nghề nhập thêm các nguyên liệu khác để làm sản phẩm phong phú và có
tính thẩm mỹ hơn.

- Công nghệ sản xuất thô sơ với kĩ thuật thủ công là chủ yếu.
Công cụ lao động sử dụng trong các làng nghề thường đơn giản, thủ
công là chủ yếu. Các sản phẩm làm ra thường là dựa vào đôi bàn tay khéo
léo và óc sáng tạo của các nghệ nhân và những người thợ thủ công.
Khoa học ngày nay phát triển, có nhiều máy móc được sử dụng
trong các làng nghề để thay thế một số khâu sản xuất. Tuy nhiên không
thể thay thế hoàn toàn, vẫn có những khâu phải dựa vào đôi bàn tay khéo
léo của con người.
- Hình thức sản xuất chủ yếu vẫn ở quy mô hộ gia đình, một số làng
đã hình thành các tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân.
Hình thức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ gia
đình. Mỗi hộ gia đình là một xưởng sản xuất và không có quan hệ chủ
thợ. Với hình thức này, tất cả các thành viên trong gia đình có thể tham
gia sản xuất. Tùy vào quy mô sản xuất mà các hộ gia đình có thể thuê
thêm nhân công. Hình thức này có từ lâu đời và vẫn duy trì đến ngày nay,
vì thế nhiều hộ gia đình vẫn giữ được bí quyết nghề của riêng mình.
Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức hợp tác sản xuất giữa các
hộ gia đình đã xuất hiện và phát triển mạnh trong các làng nghề. Các tổ
chức này tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển làng nghề. Các
doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần được phát triển từ một số hộ sản
xuất hoặc một số gia đình khá giả đã bắt đầu hình thành ở nhiều làng nghề
giúp liên kết các hộ sản xuất và giải quyết đầu vào, đầu ra cho sản phẩm.
Nhờ có các hình thức tổ chức sản xuất mới, thị trường sản phẩm của các
làng nghề ngày càng được mở rộng.
21
- Sản phẩm có tính thẩm mỹ cao và mang tính đơn chiếc.
Các sản phẩm làm ra thường có tính thẩm mỹ cao, là sự kết hợp nhuần
nhuyễn sự khéo léo của đôi bàn tay và óc sáng tạo. Mỗi làng nghề có sản phẩm
đặc trưng riêng, mang đậm bản sắc văn hóa địa phương. Sản phẩm ở các làng
nghề làm ra thường ít, số lượng không nhiều do sản xuất thủ công nên không sản

xuất một cách ồ ạt được. Vì vậy sản phẩm mang tính đơn chiếc.
- Thị trường tiêu thụ còn nhỏ hẹp, chưa ổn định.
Sự hình thành các làng nghề xuất phát từ việc đáp ứng các nhu cầu
của địa phương. Sản phẩm làm ra thường được buôn bán trao đổi ở các
chợ địa phương, chỉ có một phần nhỏ để cung cấp cho các tỉnh khác trên
cả nước và phục vụ cho xuất khẩu. Chính vì thế thị trường của các sản
phẩm làng nghề vẫn còn nhỏ hẹp.
- Lao động trong các làng nghề thường được truyền nghề từ các
nghệ nhân hoặc thợ lành nghề trong làng.
Các làng nghề thường có những thợ có tay nghề vững, làm ra những
sản phẩm đẹp mang tính sáng tạo, được coi là các nghệ nhân. Đây là bộ
phận nòng cốt, quan trọng để duy trì và phát triển làng nghề. Đồng thời
góp phần vào việc đào tạo lớp trẻ tiếp nối nghề truyền thống của cha ông.
Trên đây là những đặc điểm cơ bản của làng nghề Việt Nam. Có thể
có những đặc điểm không phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay của
một số làng nghề. Nhưng đối với một số làng nghề đây là những đặc điểm
cơ bản, là bản chất để duy trì các làng nghề. Chính vì mang trên mình
những đặc điểm đó nên làng nghề truyền thống có sức sống mạnh mẽ và
trường tồn cùng lịch sử dân tộc.
1.1.2.3. Vai trò của làng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội
- Tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn.
Làng nghề tạo ra một khối lượng việc làm rất lớn cho người dân địa
phương. Vì đặc điểm chủ yếu của làng nghề là sản xuất thủ công và sử
22
dụng nhiều sức lao động. Số lượng lao động của các cơ sở rất đa dạng, tùy
theo quy mô của cơ sở sản xuất và ngành nghề của làng nghề. Các cơ sở
sản xuất quy mô nhỏ sử dụng lao động thường xuyên từ 2 đến 4 người.
Các cơ sở sản xuất với quy mô lớn thường sử dụng hàng chục, có khi lên
đến hàng trăm người.

Ngoài ra làng nghề còn tạo việc làm cho cả những người lớn tuổi,
những người có trình độ văn hóa thấp, cả những học sinh Những lao
động này nếu không tham gia sản xuất phi nông nghiệp sẽ rất khó tìm việc
trong các khu công nghiệp hay những việc khác. Bên cạnh đó, các cơ sở
sản xuất với quy mô lớn còn tạo việc làm cho cả những lao động ở địa
phương khác đến.
Làng nghề còn tạo ra cơ hội phát triển cho nhiều ngành nghề có liên
quan khác như: cung ứng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm làng nghề, vận
chuyển… Như vậy làng nghề không chỉ mang lại thu nhập cho lao động trực
tiếp tham gia sản xuất phi nông nghiệp mà còn tạo ra thu nhập cho lao động
làm việc ở các ngành nghề liên quan với ngành nghề.
Các làng nghề còn góp phần cải thiện đời sống của dân cư ở làng
nghề, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông thôn và xây dựng nông thôn
mới. Thực tế cho thấy mức sống của dân cư ở làng nghề thường cao hơn
dân cư ở làng thuần nông rất nhiều: nhà cửa khang trang hơn, đường xá,
điện nước, cầu cống kiên cố hơn…
- Khai thác các nguồn lực nhàn rỗi và nguyên vật liệu tại địa phương
Nguồn lực nhàn rỗi ở đây là cả về mặt vốn và nguồn nhân lực. Các
CSSX thường có quy mô nhỏ, không cần nhiều vốn nên phù hợp với các
gia đình nghèo. Vốn kinh doanh của CSSX ở các làng nghề rất đa dạng
tùy thuộc vào mặt hàng sản xuất và quy mô của CSSX. Với mức vốn
không lớn như vậy là điều kiện thuận lợi để huy động vốn nhàn rỗi của
23
người dân vào việc hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra các làng
nghề có thể huy động hiệu quả lực lượng lao động nhàn rỗi tham gia vào
sản xuất. một số sản phẩm như đan lát, thêu… lao động có thể linh hoạt
sản xuất khi nông nhàn hay vào bất kì thời điểm nhàn rỗi nào.
Sản phẩm của làng nghề thường đa dạng được sử dụng phổ biến
trong cuộc sống hàng ngày như: mây tre, gốm, dệt….Để sản xuất những
sản phẩm này, các làng nghề cần nhiều nguyên liệu đầu vào khác nhau

như: mây, tre, tơ sợi…. Đa số các nguyên liệu phục vụ sản xuất của làng
nghề có thể khai thác, nuôi trồng ở địa phương, các vùng lân cận…. Vì
thế chi phí sản xuất thấp và giá trị gia tăng của sản phẩm làng nghề cao.
- Phát triển làng nghề truyền thống tạo ra khối lượng hàng hóa đa
dạng phong phú phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
Trước đây, sản phẩm của làng nghề chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu
dùng cho đời sống hàng ngày của người dân địa phương và các vùng lân
cận. Trong những năm gần đây, làng nghề đã thay đổi nhanh chóng theo
nền kinh tế thị trường. Cùng với sự thay đổi trong xu thế mở cửa, hội
nhập kinh tế, các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với
khách nước ngoài. Do đó, sự phát triển của làng nghề góp phần đáng kể
trong việc tạo ra khối lượng hàng hóa lớn không những đáp ứng nhu cầu
trong nước mà còn cung cấp hàng hóa để xuất khẩu. Theo thống kê, hiện
có hơn 100 nước trên thế giới tiêu dùng các mặt hàng thủ công mỹ nghệ,
thêu ren, gốm sư… của nước ta.
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở nông thôn.
Cơ cấu kinh tế nông thôn ở nước ta đang có sự chuyển dịch theo
hướng tăng tỉ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỉ trọng nông nghiệp. Việc phát triển nghề, làng nghề chính là con
24
đường chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đó.
Sự lan tỏa của các làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu
hút được nhiều lao động, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề
khác như thương mại, dịch vụ, vận tải, thông tin liên lạc…ngược lại
những ngành nghề này lại hỗ trợ trực tiếp cho phát triển làng nghề.
- Tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế
Các làng nghề của Hà Nam hàng năm đã sản xuất ra một khối lượng
hàng hóa lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế của tỉnh.
Theo báo cáo của sở công thương tỉnh Hà Nam, giá trị sản xuất của

các làng nghề năm 2010 đạt 1604,081 [27] tỷ đồng, chiếm 19,7% gía trị
sản xuất công nghiệp của tỉnh, đóng góp 9,5% vào GDP của tỉnh.
Hoạt động sản xuất tại các làng nghề so với kết quả hoạt động nông
nghiệp thuần túy vẫn đạt giá trị sản xuất, năng xuất lao động và hiệu quả
kinh tế cao hơn hẳn. Đây là cơ sở vững chắc cho sự tăng trưởng kinh tế
nông thôn, hạn chế những rủi ro của sản xuất nông nghiệp.
- Góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc
Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển văn hóa Việt
Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển các làng nghề. Lịch sử nông thôn
Việt Nam đẫ ghi nhận sự hình thành và phát triển các làng nghề có mối quan
hệ mật thiết và có ảnh hưởng trực tiếp đến văn hóa tinh thần, tác động đến
tâm lý tình cảm phong tục, tập quán, là một trong những thành tố quan trọng
tạo nên những nét đặc sắc của văn hóa làng. Mỗi làng nghề đều thờ cúng
một thành hoàng làng hoặc một ông tổ nghề riêng với những lễ hội, những
phong tục, tập quán, luật lệ riêng. Tại những làng nghề này đều có tục lệ thờ
tổ nghề và ngày giỗ tổ nghề cũng là ngày hội của làng. Đây là một dạng tài
nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn đã và đang được khai thác để phát triển du
lịch làng nghề nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.
25

×