Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

Tiềm năng phát triển Logistics ở Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (364.2 KB, 65 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
3
Chương I: Tổng quan về logistics
5
I- Sự ra đời và phát triển của Logistics
5
1-Khái niệm về Logistcis
5
2- Sự hình thành và phát triển của Logistics
8
II- Vai trò và chức năng nhiệm vụ của Logistcis
11
1- Vai trò của Logistcis
11
2-Chức năng nhiệm vụ của Logistcis
13
III- Nội dung cơ bản của Logistics
14
1- Dịch vụ khách hàng và xử lý đơn hang
15
2- Tìm nguồn hàng và thu mua nguyên vật liệu
16
3- Dịch vụ kho và quản lý kho
18
4- Vận tải và phân phối
19
Chương II: Thực trạng kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam hiện nay
21
1


Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I- Thực trạng kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay
21
1- Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về logistics
21
1.1- Logistics là sự phát triển tất yếu của dịch vụ vận tải giao nhận.
21
1.2- Lợi ích logistics mang lại cho các doanh nghiệp sản xuất-kinh
doanh. 22
2-Thực trạng kinh doanh logistics trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
25
2.1- Các hình thức hoạt động kinh doanh logistics ở Việt Nam
25
2.2- Qui mô các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ logistics ở Việt
Nam hiện nay.
27 25
2.3- Thực trạng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam
theo các nhóm sau:
29
2.3.1- Các công ty kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận của Việt Nam
29
2.3.2- Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối
30
2.3.3 Các công ty cung cấp dịch vụ hàng hóa
31
2.3.4- Các công ty cung cấp dịch vụ logistics chuyên ngành
32
3- Thực trạng hoạt động các dịch vụ logistics của một số doanh nghiệp tiêu biểu
của Việt Nam.
32 31

2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.1- Tổng công ty hàng hải Việt Nam ( Vinalines )
33
3.2- VietnamShipper
35
3.3- Vietnam Airlines
36
II- Thực trạng cơ sở pháp lý về hoạt động logistics ở Việt Nam hiện nay.
38
III- Đánh giá chung về sự phát triển của dịch vụ logistics trong các doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
42
Chương III:Tiềm năng phát triển kinh doanh dịch vụ Logistcis ở Việt Nam
45
I- Tiềm năng phát triển logisctics ở Việt Nam hiện nay
45
1- Tiềm năng về vị trí địa lý
45
2- Tiềm năng về cơ sở hạ tầng.
45
2.1- Hệ thống cảng biển
46
2.2- Hệ thống cảng hàng không.47
2.3- Hệ thống đường bộ (sắt-ôtô)
48
2.4- Hệ thống đường sông
48
3- Tiềm năng về con người
49

II- Thuận lợi và khó khăn trong việc kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam
50
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1-Thuận lợi trong việc kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam
50
2- Khó khăn trong việc kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam.
52
II- Định hướng phát triển logistics ở Việt Nam
54
1- Ban hành chính sách khuyến khích đầu tư phát triển hoạt động kinh doanh
dịch vụ logistics
54
2- Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phương tiện kĩ thuật đồng bộ
, tiên tiến.
55
3- Nâng cao vai trò của quản lý nhà nước
56
4- Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực
56
KẾT LUẬN
58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
60
LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang thế kỉ XXI nền kinh tế đang trong đà phát triển mạnh mẽ,
các lĩnh vực kinh tế đều hoạt động hết công suất của nó. Thương mại là một
ngành vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển đó. Nó tạo ra một nguồn
lợi nhuận khổng lồ đồng thời tạo ra bước ngoặt mới cho nền kinh tế thế giới.
4

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Các nguồn tài nguyên trên trái đất là hữu hạn, nhưng ước muốn của
con người là vô hạn. Chính vì vậy, Logistcis ra đời để giúp con người sử
dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) một cách tối ưu, để có thể đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của cá nhân và xã hội một cách tốt nhất. Trong
lịch sử hình thành của mình, Logistcis là từ chuyên môn được sử dụng trong
quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần. Sau này thuật ngữ
Logistics dần được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, được lan truyền từ châu
lục này sang châu lục khác, hình thành nên Logistics toàn cầu. Logistics phát
triển rất nhanh chóng và cho đến nay đã được ghi nhận như một công cụ hữu
hiệu mang lại thành công cho các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất
lẫn trong khu vực dịch vụ
Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các
hoạt động có hệ thống và hiệu quả của hệ thống này có tầm quan trọng lớn,
quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi
quốc gia. Sự phát triển dịch vụ logistics có lý nghĩa đảm bảo cho việc vận
hành sản xuất, kinh doanh. Logistcis phát triển tốt sẽ mang lại khả năng cắt
giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.
Logistics là một ngành mới mẻ ở nước ta tuy nhiên cơ hội cho việc
phát triển logistics ở Việt Nam trong tương lai là rất nhiều. Chính vì vậy em
đã chọn đề tài “Tiềm năng phát triển Logistics ở Việt Nam hiện nay” để
hiểu rõ hơn các điều kiện mà Việt Nam có thể khai thác để từ đó phát triển
logistics một cách hiệu quả và bền vững.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương I
TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS
I- SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LOGISTICS
1- Khái niệm về logistics
Bước vào thế kỉ XX, sản xuất vật chất của xã hội đã đạt được năng

suất lao động cao nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến và đặc biệt là
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
những thành tựu mới trong công nghệ thông tin. Tuy nhiên, muốn tối ưu hóa
quá trình sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của
hàng hoá trên thị trường, chỉ còn cách cải tiến và hoàn thiện hệ thống quản
lý phân phối vật chất ( Phisical Distribution Management ) để giảm tới mức
thấp nhất thiệt hại do tồn kho, ứ đọng nguyên vật liệu, bán thành phẩm và
thành phẩm trong qua trình sản xuất và lưu thông. Hệ thống phân phối vật
chất này còn được gọi là “ logistics”.
Trên thực tế, thuật ngữ logistics đã xuất hiện từ rất lâu. “Logistics”
theo nghĩa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ “Logistique” trong
tiếng Pháp. “Logistique” lại có gốc từ từ “Loger” nghĩa là nơi đóng quân, từ
này có quan hệ mật thiết với từ “Lodge”- nhà nghỉ ( một từ cổ trong tếng
Anh, gốc Latinh). Ban đầu, thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên trong quân
đội và mang nghĩa là “hậu cần” hoặc “tiếp vận”. Tướng Chauncey B.Baker,
tác giả cuốn “Transpotation of Troops and Merterial” có viết: “Một nhánh
trong nghệ thuật chiến đấu có liên quan đến việc di chuyển và cung cấp
lương thực, trang thiết bị cho quân đội được gọi là “logistics”.
Cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội, nhiều thập kỉ qua, logistics được
nghiên cứu sâu và áp dụng sang những lĩnh vực khác như sản xuất, kinh
doanh. Thuật ngữ logistics ngày nay được hiểu với nghĩa quản lý hệ thống
phân phối vật chất của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong xã hội. Nhưng
cho đến nay trên thế giới chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa đầy đủ về
logistics cũng như hệ thống logistics. Tùy thuộc vào góc độ tiếp cận mà các
tác giả đưa ra các khái niệm về logistics. Sau đây là một số khái niệm về
logistics:
• Theo hội đồng quản trị logistics Mỹ-1988: Logistics là quá trình lên kế
hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu
7

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin
liên quan từ điểm sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm mục đích thoả mãn những
nhu cầu của khách hàng.
• Theo tác giả Donald J.Bowersox-CLM Proceeding-1987: Logistics là một
nguyên lý bán lẻ nhằm hướng dẫn quá trình lên kế hoạch, định vị và kiểm
soát các nguồn nhân lực và tài lực có liên quan tới hoạt động phân phối vật
chất, hỗ trợ sản xuất và hoạt động mua hàng.
• Logistics được uỷ ban quản lý logistics của Mỹ định nghĩa như sau: logistics
là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để quản lý, kiểm soát việc
di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối
với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin
tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất đến khi hàng hoá đến tay người tiêu
dung cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
• Theo khái niệm của liên hợp quốc được sử dụng cho khoá đào tạo quốc tế về
vận tải đa phương thức và quản lý logistics tổ chức tại ĐH Ngoại Thương
Hà Nội tháng 10/2002 thì: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu
chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới
tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng…
• Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm “logistics”
mà đưa ra khái niệm “dịch vụ logistics” như sau: Dịch vụ logistics là hoạt
động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều
công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải
quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mã
hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có lien quan đến hàng hoá theo thỏa
thuận với khách hàng để nhận thù lao ( Điều 233- Luật Thương mại Việt
Nam năm 2005).
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Qua các khái niệm trên, cho dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt,

cách trình bày nhưng trong nội dung tất cả các tác giả đều cho rằng logistics
chính là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu
mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay
người tiêu dùng nhằm giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với
một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục
vụ ản xuất cũng như phân phối hàng háo một cách kịp thời.
Tóm lại, theo quan điểm của cá nhân thì logistics được hiểu như sau:
Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hoá, nguyên vật
liệu từ khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho đến
khi đưa đến tay người tiêu dùng.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Qua khái niệm về logistics như trên chúng ta có sơ đồ sau đây:
2- Sự hình thành và phát triển của logistics.
Thuật ngữ logistics dịch ra Tiếng Việt có nghĩa là “hậu cần”, “ngành
hậu cần” hay “tiếp vận” hoặc cũng có người dịch là “Tổ chức dịch vụ cung
ứng”… Như đã nói, thuật ngữ logistics ban đầu được sử dụng như một từ
chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần.
Logistics chiếm một vị trí quan trọng góp phần làm nên chiến thắng của
quân đội nhiều nước khác nhau trên thế giới. Điển hình là quân đội hoàng
gia Pháp ở thế kỉ XVII-XVIII, khi đối đầu với sức mạnh của hải quân Anh,
Điểm
cung
cấp
nguyên
vật liệu
Kho dự
trữ
nguyên
vật liệu

Sản
xuất
Kho dự
trữ sản
phẩm
Thị
trường
tiêu thụ
Kho Nhà
máy
Kho
A
Kho Kho
B
Nhà
máy
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thuỷ quân hoàng gia Pháp yếu kém hơn rất nhiều so với kẻ thù, song với sự
nỗ lực lớn về công nghiệp và logistics diễn ra trong một thế kỉ, quân đội
Pháp đã khắc phục những điểm yếu của mình cho phép họ ngăn cản hoạt
động của quân Anh ở Châu Mỹ. Hay như cuộc đổ bộ thành công của quân
đồng minh vào vùng Normandie tháng 6 năm 1944 chính là nhờ sự nỗ lực
của khâu chuẩn bị hậu cần và qui mô của các phương tiện hậu cần được triển
khai.
Logistics đã góp phần làm tăng cường sức mạnh cho các nhà quân sự
giành được chiến thắng trong chiến tranh, do đó rất nhiều kĩ năng về
logistics đã được nghiên cứu và áp dụng đặc biệt là trong chiến tranh thế
giới thứ II. Xuất phát từ bản chất ưu việt của logistics, sau khi chiến tranh
thế giới thứ II kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng

những kĩ năng logistics trong hoạt động kinh tế thời hậu chiến tranh nhằm
đáp ứng nhiệm vụ thực tế là tái thiết đất nước sau chiến tranh. Như vậy
logistics trong doanh nghiệp đuợc áp dụng sau chiến tranh thế giới thứ II.
Ngày nay thuật ngữ logistics đã được phát triển, mở rộng và được
hiểu với nghĩa là quản lý (management). Từ những năm 50 của thế kỉ XX
đến nay, công nghiệp và thương mại thế giới đã trải qua những biến cố sâu
sắc từ nền kinh tế dựa trên cơ sở sản xuất hàng loạt, đòi hỏi một lượng hàng
lớn đồng nhất sang nền kinh tế mà tính độc đáo và đa dạng của hàng hóa
được nhấn mạnh. Trong buôn bán, người bán không nhất thiết là người sản
xuất, người mua chưa chắc đã là người tiêu dùng cuối cùng. Quá trình hàng
hóa từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng có thể phải qua
nhiều người trung gian lần lượt đóng vai trò là người bán hay người mua và
là một bộ phận của quá trình lưu thông hàng hoá. Tính chất phong phú của
hàng hoá cùng với sự vận động phức tạp của chúng đòi hỏi phải có một sự
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quản lý chặt chẽ, điều này đặt ra cho những nhà sản xuất kinh doanh một
yêu cầu mới. Đồng thời để tránh đọng vốn, các nhà sản xuất kinh doanh luôn
tìm cách duy trì một lượng hàng tồn kho nhỏ nhất. Từ những lý do trên yêu
cầu hoạt động vận tải giao nhận nói riêng và lưu thông phân phối nói chung
phải đảm bảo cho nguyên liệu hàng hóa được cung ứng kịp thời, đúng lúc…
logistics trong doanh nghiệp đã ra đời.
Theo ESCAP ( Economic and Social Commission for Asia and the
Pacific- ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á-Thái Bình Dương) Logistics được
phát triển qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân phối vật chất.
Vào những năm 60, 70 của thế kỉ XX, người ta bắt đầu quan tâm đến
những vấn đề quản lý một cách có hệ thống những hoạt động có liên quan
với nhau để đảm bảo phân phối sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng một
cách có hiệu quả. Những hoạt động đó bao gồm: vận tải, phân phối, bảo

quản hàng hóa, quản lý tồn kho, bao bì đóng gói, phân loại dán nhãn…
những hoạt động nêu trên được gọi là phân phối, cung ứng sản phẩm vật
chất hay còn có tên gọi là logistics đầu ra.
Giai đoạn 2: Hệ thống logistics.
Thời kì này khoảng những năm 80-90 của thế kỉ XX, các công ty kết
hợp chặt chẽ việc quản lý giữa hai mặt: đầu vào và đầu ra để giảm tối đa chi
phí cũng như tiết kiệm chi phí. Như vậy sự kết hợp chặt chẽ giữa cung ứng
nguyên vật liệu cho sản xuất với phân phối sản phẩm đến tay người tiêu
dùng đã đảm bảo sự ổn định và tính liên tục của dòng vận chuyển, sự kết
hợp này được mô tả là hệ thống logistics.
Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi nối tiếp các
hoạt động từ người cung cấp-người sản xuất đến khách hàng tiêu dùng sản
phẩm, cùng với việc lập các chứng từ có liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm
tra làm tăng giá trị sản phẩm. Khái niệm này coi trọng việc phát triển quan
hệ với đói tác, kết hợp chặt chẽ giữa người cung cấp, nhà sản xuất và người
tiêu dùng cùng các bên có liên quan như: các công ty vận tải, kho bãi, giao
nhận và người cung cấp công nghệ thông tin.
ESCAP cũng định nghĩa quản l dây chuyền cung ứng và logistics là
khái niệm đồng bộ hóa những hoạt động của nhiều tổ chức trong dây chuyền
logistics và phản ánh những thông tin cần thiết đúng thời gian, bằng cách sử
dụng mạng lưới công nghệ thông tin và truyền thông kĩ thuật số.
Như vậy logistics được phát triển từ việc áp dụng các kĩ năng “tiếp
vân”, “hậu cần” trong quân đội để giải quyết những vấn đề phát sinh của
thực tiễn sản xuất-kinh doanh và đến nay được hoàn thiện trở thành hệ thống
quản lý mang lại hiệu quả kinh tế cao.
II-VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA LOGISTICS
1-Vai trò của logistics

1.1-Vai trò của logistics đối với nền kinh tế
Logistcis là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết với
nhau và tác động qua lại lẫn nhau. Nếu xem xét ở góc độ tổng thể ta thấy
logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản
xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa. Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có
một vị trí và chiếm một khoản chi phí nhất định. Một nghiên cứu gần đây
của trường đại học Quốc gia Michigan (Hoa Kì) cho thấy, chỉ riêng hoạt
động logistics đã chiếm từ 10% đến 15% GDP của hầu hết các nước lớn ở
châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế châu Á- Thái Bình Dương. Vì vậy
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần nâng cao hiệu qảu
kinh tế-xã hội.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển hàng hóa trong các giao dịch
kinh tế. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây
chuyền logistics hoạt động liên tục và trôi chảy.
Hiệu quả hoạt động logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập
của nền kinh tế. Theo nhà kinh tế học người Anh Ullman thì khối lượng
hàng hóa lưu chuyển giữa hai nước tỷ lệ thuận với chỉ số tiềm năng kinh tế
của hai nước và tỷ lệ nghịch với khoảng cách của hai nước đó. Khoảng cách
ở đây được hiểu là khoảng cách kinh tế. Khoảng cách kinh tế càng được rút
ngắn thì lượng hàng tiêu thụ trên thị trường càng lớn. điều này lí gải vì sao
khoảng cách địa lý từ Thái Lan đến Mỹ xa hơn đến Việt Nam nhưng khối
lượng và kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan và Mỹ lớn hơn so với Việt
Nam. Do vậy việc giảm chi phí logistics có nghĩa rất quan trọng trong chiến
lược thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.
Hoạt động logistics hiệu quả làm tăng khả năng cạnh tranh của một
quốc gia trên trường quốc tế. Theo nghiên cứu của Limao và Venable (2001)
cho thấy sự khác biệt trong kết cấu cơ sở hạ tầng (đặc biệt là lĩnh vực giao
thông vận tải) chiếm 40% trong sự chênh lệch chi phí giữa các nước tiếp

giáp với biển và 60% đối với các nước không tiếp giáp với biển. Hơn nữa
trình độ phát triển và chi phí logistics của một quốc gia còn được xem là một
trong những căn cứ quan trọng để đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia. Do
đó, quốc gia nào có cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống cảng biển đảm bảo… sẽ thu
hút được sự đầu tư của các công ty hay tập đoàn lơn trên thế giới. Sự phát
triển vượt bậc của Singapore, Hồng Kông và gần đây là Trung Quốc là minh
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chứng sống động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng trưởng xuất
khẩu, tăng GDP thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics.
1.2- Vai trò của logistics đối với các doanh nghiệp.
Logistics có vai trò rất to lớn đối với các doanh nghiệp. Logistics giúp
giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ
có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu quá trình chu
chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…. logistics giúp giảm chi phí và
tăng khả năng cạnh tranh trong doanh nghiệp. nhiều doing nghiệp đã thành
công nhờ có chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không
ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại do sai lầm trong hoạt động
logistics, vi dụ như: chọn sai vị trí, chon nguồn tài nguyên cung cấp sai, dự
trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả.
Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chủ động trong việc chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, công
nghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã, tìm kiếm thị trường tiêu thụ thông qua nhiều
kênh phân phối khác nhau…; chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất,
quản lý hàng tồn kho và giao hàng đúng thưòi gian với tổng chi phí thấp
nhất.
Logistcis còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là
marketing hỗn hợp. Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản
phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp. Sản phẩm/dịch
vụ chỉ có thể thỏa mãn khách hàng và có giá trị khi nó đến được với khách

hàng đúng thời gian và địa điểm qui định.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm gia tăng sự hài lòng và
giá trị cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistics. Đứng ở góc độ này,
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
logistics được xem là công cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài
về sự khác biệt hóa và tập trung.
2- Chức năng nhiệm vụ của logistics
Trong xã hội, mục đích sản xuất là để phục vụ tiêu dùng. Cùng với sự
phát triển của công nghệ thông tin, quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn
ra mạnh mẽ và sâu sắc hơn. Khoảng cách về không gian giữa sản xuất và
tiêu dùng ngày càng xa dần và mở rộng, dịch vụ logistics chiếm một vị trí
quan trọng trong sản xuất và phân phối vật chất của xã hội.
Chức năng nhiệm vụ của logistics được thể hiện trên các mặt sau đây:
* Dịch vụ logistics có nhiệm vụ nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi
phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Với việc hình thành và phat triển dịch vụ logistics, doanh nghiệp sẽ
giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh
doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn. Giảm chi phí trong sản xuất, quá
trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng
cao sẽ góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
* Dịch vụ logistics có nhiệm vụ tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt
động lưu thông và phân phối.
Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng
với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là chi phí vận tải,
chiếm một tỉ trọng không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên
thị trường , đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố
quan trọng của lưu thông. Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu
dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa.
Mà vận tải là một trong những yếu tố quan trọng trong hệ thống logistics cho

nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho chi
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến
tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông.
* Logistics có nhiệm vụ mở rộng thị trưòng trong buôn bán quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc đã
làm cho khoảng cách về mặt không gian giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
ngày càng trải rộng. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở
rộng thị trường cho sản phẩm của mình thì cần phẩi có sự hỗ trợ của dịch vụ
logistics. Dịch vụ logistics giữ vai trò như chiếc cầu nối trong việc chuyển
dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu
caauf về thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ logistics do đó có tác dụng lớn
trong khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho doanh nghiệp.
III- NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LOGISTICS
1- Dịch vụ khách hàng và xử lý đơn đặt hàng.
Do tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng nên ngày nay cụm từ này
thường xuyên được nhắc đến. Ở đại đa số các công ty logistics, dịch vụ
khách hàng thường được định nghĩa theo một trong ba cách sau:
* Dịch vụ khách hàng là những hoạt động cụ thể của công ty nhằm
giải quyết tốt đơn đặt hàng của khách hàng, các hoạt động đó có thể là: lập
bộ chứng từ, làm thủ tục hải quan, xử lý đơn hàng, xử lý khiếu nại…
* Dich vụ khách hàng là việc thực hiện những công việc cụ thể, được
đánh giá bằng những thông số cụ thể, những tiêu chuẩn có săn, ví dụ: Khả
năng hoàn thành 98% đơn đặt hàng trong vòng 24 tiếng đồng hồ; Đến thăm
khách hàng chính 6 tahngs một lần; Giải quyết khiếu nại trong vòng 15
ngày;…
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Dựa vào triết lý của tổ chức người ta định nghĩa dịch vụ khách hàng

là một phần trong triết lý chung của công ty, phải thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng một cách tôt nhất.
Định nghĩa thứ ba mang tính toàn diện, khái quát, năng động và linh
hoạt hơn hai định nghĩa trước đó. Nó nêu rõ được tầm quan trọng của dịch
vụ khách hàng, nó yêu cầu các bộ phận của công ty, các nhân viên phải luôn
chăm sóc khách hàng hơn là chăm sóc chính bản thân mình.
Trên thực tế có rất nhiều yếu tố liên quan đến dịch vụ khách hàng.
Một số nhà nghiên cứu chia các yếu tố đó thành ba nhóm:
- Trước giao dịch
- Trong giao dịch
- Sau giao dịch
Thứ nhất là các yếu tố trước giao dịch. Đây là các yếu tố tập trung vào
xây dựng chính sách dịch vụ khách hàng và chuẩn bị các điều kiện thực
hiện. Các yếu tố trước giao dịch bao gồm:
* Xây dựng chính sách phục vụ khách hàng
* Giới thiệu và cung cấp các văn bản về chính sách dịch vụ khách
hàng của công ty cho khách hàng.
* Tổ chức các bộ máy thực hiện các dịch vụ
* Các biện pháp phòng ngừa rủi ro
* Quản trị dịch vụ
Thứ hai là các yếu tố trong giao dịch. Các yếu tố này thường gắn liền
với dịch vụ hàng hóa. Nó bao gồm:
* Tình hình dự trữ hàng hóa
* Thông tin về hàng hóa
* Tính chính xác của hệ thống
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Tính ổn định của quá trình thực hiện đơn hàng hay còn gọi là chu
trình đặt hàng.
* Khả năng thực hiện giao hàng đặc biệt

* Khả năng điều chuyển hàng hóa
* Sản phẩm thay thế
Thứ ba là các yếu tố sau giao dịch. Đây là các yếu tố hỗ trợ cho sản
phẩm hoặc dịch vụ sau khi chúng đã đến tay khách hàng. Trước đây do
khách ít quan tâm đến dịch vụ hậu mãi nên các yếu tố sau giao dịch có phần
bị xem nhẹ. Giờ đây tình hình đã đổi khác, các công ty đều nhận thức được
rằng: việc duy trì và làm hài lòng các khách hàng hiện có có lợi hơn việc tìm
kiếm khách hàng mới. Các yếu tố sau giao dịch bao gồm:
* Lắp đặt, bảo hành và sửa chữa
* Theo dõi sản phẩm
* Giải quyết các than phiền và khiếu nại
* Cho khách hàng mượn sản phẩm để dùng tạm.
2-Tìm nguồn hàng và thu mua nguyên vật liệu
Nhiệm vụ cơ bản của dịch vụ logistics là đảm bảo cung ứng cho sản
xuất và tiêu dùng những hàng hóa cần thiết đủ về số lượng, tốt về chất
lượng, kịp thời gian yêu cầu, thuận lợi cho khách hàng và phải đáp ứng một
cách thường xuyên, liên tục và ổn định.
Nguồn hàng là toàn bộ khối lượng và cơ cấu hàng hóa thích hợp với
nhu cầu của khách hàng đã và có khả năng mua được trong kỳ kế hoạch. Tổ
chức công tác tạo nguồn và mua hàng là toàn bộ những hoạt động nghiệp vụ
nhằm tạo ra nguồn hàng để doanh nghiệp mua được trong kỳ kế hoạch, từ đó
bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng chất lượng, quy cách…
cho các nhu cầu của khách hàng.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nội dung của nghiệp vụ tạo nguồn và mua hàng gồm những điểm
chính sau đây:
- Nghiên cứu nhu cầu mặt hàng của khách hàng.
Mục đích của tạo nguồn và mua hàng là thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng. Dịch vụ logistic không những đảm bảo nguyên liệu đầu vào cho nhà

sản xuất mà còn cung ứng chính xác hàng hóa thành phẩm cho người tiêu
dùng, do đó việc thỏa mãn đúng nhu cầu của khách hàng sẽ đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Nghiên cứu thị trường nguồn hàng
Tùy từng loại mặt hàng: mặt hàng tư liệu sản xuất hay mặt hàng tư
liệu tiêu dùng, mà doanh nghiệp phải tìm nguồn hàng từ các doanh nghiệp
sản xuất mặt hàng tương ứng từ trong nước hoặc từ nước ngoài (nhâp khẩu).
- Lựa chọn bạn hàng.
Đây là khâu quyết định đối với sự chắc chắn và ổn định của nguồn
hàng. Thiết lập mối quan hệ truyền thống, trực tiếp, lâu dài với các bạn hàng
tin cậy là một trong những yếu tố tạo sự ổn định trong nguồn cung ứng đối
với doanh nghiệp. Có nhiều phương pháp nghiên cứu phát triển thị trường
nguồn hàng, đặc biệt là nguồn hàng mới.Thông qua nghiên cứu, khảo sát
thực tế, thông qua hội trợ-triển lãm, thông qua internet, thông qua quảng
cáo, thông qua các trung tâm giới thiệu,… việc lựa chon bạn hàng tùy thuộc
rất lớn vào mối quan hệ truyền thống, tập quán và sự phát triển kinh tế ở
trong nước và ngoài nước.
- Thiết lập mối quan hệ kinh tế bằng hợp đòng mua bán hàng hóa.
- Kiểm tra hàng hóa và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
3- Dịch vụ kho và quản lý kho
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kho bãi là một bộ phận của hệ thống logistics, là nơi cất giữ nguyên
vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm… trong suốt quá trình chu chuyển từ
điểm đầu đến điểm cuối của chu trình cung ứng, đồng thời cung cấp các
thông tin về tình trạng, điều kiện lưu giữ và các vị trí của các hàng hóa được
lưu kho.
Kho bãi là một bộ phận không thể thiếu trong chuỗi logistics. Cùng
với thời gian, vai trò của kho bãi ngày càng được khẳng định và nâng cao, hệ
thống kho bãi ngày càng phát triển. Kho bãi giúp các tổ chức tiết kiệm được

chi phí vận tải thông qua việc gom nhiều lô hàng nhỏ thành lô hàng lớn để
vận chuyển một lần. Bên cạnh đó, nó giúp tiết kiệm chi phí trong sản xuất:
kho giúp bảo quản tốt nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, giảm
bớt hao hụt, mất mát, hư hỏng; Kho giúp cung cấp nguyên vật liệu đúng lúc,
tạo điều kiện cho sản xuất tiến hành liên tục nhịp nhàng… nhờ đó giam được
chi phí sản xuất. Một vai trò khác của kho bãi đó chính là việc giúp tổ chức
được hưởng lợi từ các khoản giảm giá do mua số lượng lớn và mua theo kì
hạn. Kho bãi giúp duy trì nguồn cung ứng ổn định, hỗ trợ cho chính sách
dịch vụ khách hàng của tổ chức và giúp tổ chức có thể đương dầu với những
thay đổi của thị trường ( do tính thời vụ, nhu caauf thay đổi, cạnh tranh…).
Nhà kho ngày càng được sử dụng như một nơi “chung chuyển” hơn là
một nơi “giam hàng” như trước đây. Các tổ chức ngày càng tích cực thu
thập, cập nhật thông tin, tổ chức tốt hoạt động logistics để có thể giảm, tiến
tới không phải lưu kho, mua hàng với một số lượng thích hợp và sử dụng
nhà kho như một địa điểm để gom, tách, ghép đồng bộ, hoàn thiện hàng hóa
để phục vụ tốt cho nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tiết kiệm chi phí vận
tải và các dịch vụ khác.
4-Vận tải và phân phối.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong các nội dung của logistics thì vận tải và phân phối là nội dung
quan trọng nhất. Chi phí cho hoạt động này thường chiếm tới 1/3 tổng chi
phí của logistics. Muốn giảm chi phí của logistics thì phải giảm chi phí của
khâu vận tải và phân phối từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ khác nhau trên thị
trường. Việc vận tải-phân phối phải đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho
sản xuất kịp tiến độ, phải cung cấp thành phẩm đến đúng địa điểm và đúng
nơi qui định mà khách hàng cần. Từ đó giảm tới mức thấp nhất chi phí, thiệt
haik do lưu kho, tồn đọng sản phẩm để giảm chi phí logistics nói chung.
Vận tải và phân phối là những hoạt động rất cần và không thể thiếu
được trong logistics, yêu cầu này xuất phát từ xu hướng chuyên môn hóa

trong hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội. Khi một doanh nghiệp thu
hẹp phạm vi hoạt động của mình vào một hay một nhóm sản phẩm có liên
quan thì doanh nghiệp đó ngày càng phụ thuộc vào môi trường bên ngoài.
Mỗi thành viên của hệ thống công nghiệp, từ doanh nghiệp nhỏ nhất tới
những tập đoàn hùng mạnh nhất, đều phải dựa vào các doanh nghiệp khác
cung cấp nguyên vật liệu cho mình. Vận tải là người cung cấp các phương
tiện, dịch vụ nhằm di chuyển nguyên liệu đó từ nơi cung cấp đến nơi doanh
nghiệp cần. Tại đó, nguyên liệu được đưa vào sản xuất, chế biến thành sản
phẩm và vận tải giao nhận đảm nhiệm việc cung cấp hệ thống phân phối vật
chất cho sản phẩm.
Nhận thức ngày càng hoàn thiện hơn về logistics đã kéo theo nhận
thức ngày càng tăng về vai trò và ý nghĩa của các cách thức bố trí phương
thức vận chuyển cũng như là hệ thống kênh phân phối trong hệ thống
logistics. Trước đây, các kênh phân phối thường đề cao vai trò của vị trí nhà
xưởng, nơi sản xuất hay kho hàng…Một doanh nghiệp nên chọn vị trí gần
nguồn nguyên liệu hoặc nơi gần đường giao thông thuận lợi, xuyên suốt.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngược lại khả năng sẵn sàng vận chuyển nguyên liệu tới doanh nghiệp cho
phép doanh nghiệp có lựa chọn thay thế và xây dựng nhà xưởng, kho tang
gần thị trường tiêu thụ. Việc quá nhấn mạnh vào tầm quan trọng của địa
điểm này đã làm sao nhãng vấn đề thời gian trong hệ thống logistics. Vì vậy
cần phải có cách nhìn mới và toàn diện hơn về kênh phân phối và phương
thức vận chuyển trong hệ thống logistics nhằm tối ưu hóa dòng lưu chuyển
của hàng hóa.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ
LOGISTICS Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I-THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY

23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1-Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về logistics
Qua nghiên cứu và khảo sát thực tế, chúng ta có thể rút ra sự nhận
thức của doanh nghiệp kinh doanh dịch logistics được thể hiện ở những
điểm cụ thể sau đây:
1.1- Logistics là sự phát triển tất yếu của dịch vụ vận tải giao nhận.
Logistics chính là sản phẩm của sự phát triển vận tải giao nhận ở trình
độ cao. Cho đến nay, việc kinh doanh dịch vụ logistics ở các doanh nghiệp
Việt Nam mới chỉ xoay quanh hoạt động vận tải giao nhận. Do đó theo các
doanh nghiệp Việt Nam thì hoạt động logistics có thể chia thành 4 giai đoạn
như sau:
* Giai đoạn 1: Người kinh doanh dịch vụ logistics có nhiệm vụ giao
nhận, vận chuyển hàng hóa, làm các thủ tục và tư vấn cho chủ hàng để giải
quyết những vấn đề phát sinh trong giao nhận vận chuyển hàng hóa.
* Giai đoạn 2: Người kinh doanh dịch vụ logistics đảm nhiệm giao
nhận hàng hóa, làm tất cả các thủ tục có liên quan như là người đại lý của
chủ hàng, nhưng người kinh doanh dịch vụ logistics phải đứng ra tiến hành
việc gom hàng.
* Giai đoạn 3: Người kinh doanh dịch vụ logistics đảm nhận việc
vận chuyển hàng hóa từ điểm đầu đến điểm cuối. Họ đảm nhiệm tất cả các
dịch vụ của một số người vận tải và cung cấp dịch vụ. Nguời kinh doanh
dịch vụ logistics cũng đảm nhận việc thông quan cho hàng hóa và thương
thảo với cảng với tư cách là một người kí hợp đồng độc lập với cảng để thực
hiện một số công việc cần thiết. Lúc này người kinh doanh dịch vụ logistics
không còn hành động như một đại lý thay mặt chủ hàng nữa mà là người
đứng ra cung cấp các dịch vụ cho chủ hàng. Họ đã trở thành một người chủ
trong dây chuyền vận tải với tư cách là một bên chính, phát hành các chứng
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

từ vận chuyển đa phương thức và chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trong
suốt quá trình vận chuyển từ khi nhận hàng để chở cho tới khi giao hàng
xong cho người nhận hàng, kể cả việc chậm giao hàng ở nơi đến.
* Giai đoạn 4: Hiện nay người kinh doanh dịch vụ logistics không
còn làm những công việc đơn thuần của giao nhận vận chuyển mà còn đảm
nhận nhiều công việc khác nữa theo yêu cầu của khách hàng đồng thời kết
hợp các công việc liên quan trở thành một chuỗi dịch vụ cung cấp.Logistics
trong quan niệm của các doanh nghiệp Việt Nam bao gồm mọi dịch vụ liên
quan tới vận tải giao nhận (đường biển, đường hàng không, đường bộ và nội
thủy) lưu kho lưu bãi, sắp xếp hàng hóa sẵn sàng cho việc vận chuyển đóng
gói bao bì, ghi mã hiệu, thương hiệu và phân phối đi các nơi theo yêu cầu
của khách hàng.
1.2- Lợi ích logistics mang lại cho các doanh nghiệp sản xuất-kinh
doanh.
Các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh trên thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng ngày càng nhận thấy rằng tất cả các chi phí của việc lập kế
hoạch sắp xếp và chuẩn bị mọi mặt cho hàng hóa để sẵn sàng cung cấp và
chi phí lưu thông có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau trên
nhiều khía cạnh. Nếu tận dụng được công nghệ tin học để tổ chức tốt và chặt
chẽ các khâu, các quá trình lưu chuyển thì giá thành của hàng hóa sẽ giảm
đáng kể, do vậy năng lực cạnh tranh của hàng hóa được nâng cao. Logistics
không phải là một dịch vụ đơn lẻ mà luôn luôn là một chuỗi các hoạt động
về vận tải giao nhận hàng hóa như: đóng gói, lưu kho, lưu bãi, phân phối
hàng hóa (nguyên liệu hay thành phẩm) đi các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị
cho hàng hóa luôn luôn sẵn sàng ở trạng thái có yêu cầu của khách hàng là
vận chuyển ngay. Chính vì vậy mà khi nói đến logistics bao giờ người ta
25

×