Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.21 MB, 114 trang )

o

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



ĐÀO MINH PHƯỢNG



GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN TIÊN LỮ,
TỈNH HƯNG YÊN



LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ




HÀ NỘI , NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM





ĐÀO MINH PHƯỢNG



GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG
LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN TIÊN LỮ,
TỈNH HƯNG YÊN





CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN VĂN SONG



HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.

Các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực, không sao chép bất kỳ
một công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn



Đào Minh Phượng

















Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

LỜI CẢM ƠN


Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã
nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình về nhiều mặt của các tổ chức và các cá
nhân trong và ngoài trường
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám đốc Học
viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và PTNT, Bộ môn Kinh tế & Tài
nguyên Môi trường và các Thầy, Cô giáo đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy GS.TS. Nguyễn Văn
Song, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND huyện Tiên Lữ,
phòng Tài nguyên & Môi trường, UBND xã Dị Chế, UBND thị trấn Vương và UBND
xã Thụy Lôi và những hộ dân đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi cung cấp số liệu, tư liệu
khách quan và nói lên những suy nghĩ của mình để giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi
nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn



Đào Minh Phượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii

Mục lục iv
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
2.1. Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường 3
2.1.2. Khái niệm, vai trò và đặc điểm quản lý nhà nước về môi trường 4
2.1.3. Nội dung quản lý nhà nước về môi trường 10
2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường và công tác quản lý nhà
nước về môi trường 14
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý Nhà nước về môi trường 16
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về môi trường của một số nước trên
thế giới 16
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về môi trường tại Việt Nam 25
2.3 Một số bài học và kinh nghiệm rút ra đối với Việt Nam trong quản lý
nhà nước về môi trường 27
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 30
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của huyện Tiên Lữ 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 38

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 38
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 39
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu. 40
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Khái quát công tác quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Tiên
Lữ, tỉnh Hưng Yên 42
4.1.1 Quy trình nội dung quản lý Nhà nước về môi trường tại huyện Tiên
Lữ, tỉnh Hưng Yên 42
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

4.1.2 Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường
tại huyện Tiên Lữ 43
4.1.3 Kết quả công tác quản lý nhà nước về môi trường 46
4.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Tiên
Lữ 54
4.2.1 Công tác ban hành và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường 55
4.2.2 Công tác tuyên truyền người dân tác dụng của việc bảo vệ môi
trường 60
4.2.3 Công tác thẩm định đánh giá tác động đến môi trường 63
4.2.4 Công tác kiểm tra, thanh tra và giải quyết đơn thư khiếu nại về bảo
vệ môi trường 72
4.2.5 Công tác đào tạo, tập huấn cán bộ làm công tác môi trường 74
4.2.6 Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong bảo vệ môi trường 76
4.3 Những ưu, nhược điểm, thuận lợi và khó khăn về thực trạng công tác
quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Tiên Lữ 77
4.3.1 Kết quả và ưu điểm 77
4.3.2 Nhược điểm về công tác quản lý môi trường: 80

4.3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về
môi trường tại huyện Tiên Lữ 83
4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường và công tác quản lý Nhà
nước về môi trường 86
4.5 Định hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý Nhà
nước về môi trường tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên 87
4.5.1 Phương hướng, mục tiêu quản lý nhà nước về môi trường tại huyện
Tiên Lữ, tỉnh Hưng yên 87
4.5.2 Các giải pháp tăng cường nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà
nước về môi trường tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên 88
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
5.1. Kết luận 93
5.2 Kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BVMT
:
Bảo vệ môi trường

:
Cao đẳng
ĐH
:
Đại học

ĐVT
:
Đơn vị tính
QLNN : Quản lý nhà nước
TC
:
Trung cấp
TNHH
:
Trách nhiệm hữu hạn
TNMT
:
Tài nguyên Môi trường
UBND : Ủy Ban nhân dân

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang


3.1 Số liệu muốn điều tra 39
4.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước làm công tác
môi trường tại huyện Tiên Lữ 44
4.2 Thực trạng nhận thức ô nhiễm môi trường nước tại huyện Tiên Lữ 48
4.3 Thực trạng nhận thức ô nhiễm môi trường nước theo trình độ học vấn
của đối tượng điều tra 49
4.4 Thực trạng nhận thức môi trường không khí của người dân 51

4.5 Thực trạng nhận thức môi trường đất theo độ tuổi của đối tượng điều tra 53
4.6 Các văn bản ban hành từ năm 2012 – 2014 56
4.7 Người dân đánh giá về công tác tổ chức tuyên truyền luật môi trường
đến các gia đình 61
4.8 Kết quả kiểm tra môi trường trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất,
kinh doanh 64
4.9 Lãnh đạo địa phương đánh giá việc xây dựng hội đồng thẩm định các
dự án sản xuất kinh doanh 70
4.10 Lãnh đạo địa phương đánh giá về công tác đào tạo cán bộ phụ trách
chuyên môn về môi trường 74
4.11 Người dân địa phương đánh giá việc áp dụng các tiến bộ của khoa học
công nghệ mới 77


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Số biểu Tên hình, biểu đồ Trang


3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Tiên Lữ năm 2013 35
4.1 Thực trạng nhận thức môi trường không khí 45
4.2 Thực trạng nhận thức môi trường không khí 52
4.3 Công tác tổ chức tuyên truyền luật môi trường đến các gia đình 62
4.4 Lãnh đạo đánh giá Xây dựng hội đồng thẩm định các dự án sản xuất
kinh doanh 71
4.5 Lãnh đạo đánh giá về công tác đào tạo cán bộ phụ trách chuyên môn về
môi trường 75







Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên và Môi trường (TNTN-MT) đóng vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Tốc độ phát triển
kinh tế ngày càng tăng đã mang lại rất nhiều lợi ích: mức sống cao hơn, giáo dục và
sức khoẻ tốt hơn, kéo dài tuổi thọ…Tuy nhiên, đi kèm theo đó là tình trạng suy kiệt
nguồn tài nguyên, suy thoái môi trường… Ngày nay, vấn đề môi trường đã được đề
cập nhiều hơn, được nhà nước và các ban ngành quan tâm hơn, nó được coi như một
yếu tố phát triển song hành cùng kinh tế.
Tuy vậy, vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn ô
nhiễm môi trường ở nước ta hiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát
triển. Tài nguyên đang bị suy thoái so việc khai thác và sử dụng thiếu hợp lý,
rừng tự nhiên tiếp tục bị tàn phá, đất đai bị xói mòn và thoái hóa, đa dạng sinh
học bị suy giảm, nguồn nước mặt và nước ngầm đang bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố hóa học, chất thải chưa được thu gom và xử lý triệt để, công tác vệ sinh môi
trường còn nhiều yếu kém . Việc gia tăng dân số, nhất là việc di dân tự do là
những sức ép lớn đối với tài nguyên môi trường. Việc thi hành pháp luật về bảo
vệ nguồn tài nguyên môi trường còn gặp nhiều khó khăn, ý thức tự giác bảo vệ
môi trường chưa trở thành thói quen trong cộng đồng dân cư đang trở thành
những vấn đề lớn đòi hỏi phải được giải quyết.

Tiên Lữ là một trong số những huyện trọng điểm của tỉnh Hưng Yên đang
trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh mẽ, một mặt góp phần đáng
kể vào công cuộc phát triển chung của huyện, tỉnh. Mặt khác, đã làm nảy sinh
nhiều vấn đề về MT (UBND huyện Tiên Lữ, 2014) Đề tài: “Giải pháp tăng
cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường tại huyện Tiên Lữ
– Tỉnh Hưng Yên” đưa ra một cái nhìn tổng quát về thực trạng QLMT ở huyện
Tiên Lữ, phân tích những thành tựu và hạn chế của công tác QLNN về MT. Từ đó đề ra
các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác BVMT góp phần xây dựng huyện Tiên Lữ
ngày càng xanh – sạch – đẹp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về môi trường, đề xuất
biện pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực môi trường tại
huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về môi trường;
(2) Đánh giá, phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về môi trường và các
yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Tiên Lữ, tỉnh
Hưng Yên;
(3) Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước
về môi trường cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, nhằm cải thiện môi
trường, đảm bảo sự phát triển bền vững.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm chính sách, biện pháp
việc triển khai thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại huyện Tiên Lữ, tỉnh
Hưng Yên.

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: Tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về môi
trường tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, các thành tựu, khó khăn, bài học kinh
nghiệm. Xác định các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản
lý Nhà nước về môi trường. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường năng lực
quản lý Nhà nước về môi trường cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý.
- Về mặt không gian: Nghiên cứu tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
- Về mặt thời gian: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu từ tháng 3 năm 2013
đến tháng 3 năm 2014.


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường
a) Khái niệm môi trường
“Môi trường” là khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau, đặc biệt là sau hội nghị Stockhom về môi trường năm 1972.
Định nghĩa của Kalenski (1959,1970): Môi trường chỉ là môi trường có
quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người.
Định nghĩa này về môi trường là môi trường địa lý.
Trong cuốn “Địa lý hiện tại và tương lai, hiểu biết về quả đất hành tinh
của chúng ta” Magnard.P (1980) đã nêu khái niệm về môi trường là: “Môi trường
là tổng hợp ở một thời điểm nhất định – các trạng huống vật lý – hoá học, sinh
học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một tác động trực tiếp hay gián tiếp
tức là theo thời kỳ ngắn hạn hay dài hạn đối với các sinh vật hay hoạt động của

con người”.
Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981: “Môi trường là toàn bộ
hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình,
trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài
nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con
người”. Theo Luật bảo vệ môi trường của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá IX kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 27/12/1993: “Môi trường
bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất, nhân tạo, quan hệ mật thiết
với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại và
phát triển của con người và thiên nhiên”.
b) Đặc điểm môi trường
Là hệ thống hở gồm nhiều cấp bao gồm 3 phân hệ:
- Phân hệ sinh thái tự nhiên
- Phân hệ xã hội nhân văn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

- Phân hệ các điều kiện
c) Chức năng cơ bản của MT
Là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
Cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của
con người. Nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra.
Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật
trên trái đất. Nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
2.1.2. Khái niệm, vai trò và đặc điểm quản lý nhà nước về môi trường
a) Khái niệm
Quản lý nhà nước về Môi trường là một nội dung quản lý hành chính của
Nhà nước. Quản lý môi trường là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở
khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân
bằng giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. “Quản lý nhà nước về

môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều
chỉnh các hoạt động của con người …hướng tới phát triển bền vững và sử dụng
hợp lý nguồn tài nguyên”(Hoàng Minh Tuấn, 2001) “ Quản lý Nhà nước về môi
trường là quá trình Nhà nước bằng cách thức, công cụ và phương tiện khách nhau
tác động lên các hoạt động của con người làm hài hoà mối quan hệ giữa môi
trường và phát triển sao cho thoả mãn nhu cầu về mọi mặt của con người, đồng
thời đảm bảo chất lượng của môi trường sống”.
Khái niệm “ phát triển bền vững” xuất hiện từ những năm 1970 trong
phong trào bảo vệ môi trường trên toàn thế giới. Theo báo cáo “Tương lai chung
của chúng ta” của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì “ phát triển
bền vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không
gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau ( Chính phủ, 2004).
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển (Ria de Janeiro
– Braxin,1992) và Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững
(Johannesburg – Nam Phi, 2002 cũng xác định phát triển bền vững là quá trình
phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà ba mục tiêu phát triển kinh tế
có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà ba mục tiêu phát triển kinh tế, phát triển
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

xã hội, ổn định, công bằng xã hội và tài nguyên thiên nhiên được bảo vệ, khai thác
và sử dụng hợp lý, môi trường sống của con người ngày càng được nâng cao.
b) Vị trí, vai trò của công tác quản lý Nhà nước về môi trường
Được thể hiện trong việc chỉ đạo tổ chức BVMT và phân phối nguồn lợi
chung giữa chủ thể quản lý tài sản và XH (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1998)
.Trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, môi trường luôn là một vấn
đề hết sức quan trọng. Muốn phát triển bền vững thì không thể không quan tâm
đến bảo vệ môi trường. Để bảo vệ môi trường tốt thì nâng cao vai trò quản lý nhà
nước luôn là một yếu tố sống còn của bất kỳ quốc gia nào. Ở Việt Nam, đặc biệt
là sau khi có Luật Bảo vệ môi trường, vị trí và vai trò của quản lý nhà nước về

môi trường ngày càng được nâng cao, hiệu lực quản lý ngày càng tăng và đã góp
phần không nhỏ vào bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội (Bộ Tài
nguyên và Môi trường , 1998).
Nhu cầu tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải mở rộng quy mô sản xuất, phát
triển các ngành nghề. Sản xuất càng tăng thì tài nguyên khai thác, sử dụng càng
lớn và chất thải công nghiệp và sinh hoạt đổ vào môi trường càng tăng. Để giải
quyết mối quan hệ này không thể ngừng sản xuất để giữ gìn môi trường, hay khai
thác tài nguyên bằng mọi hình thức mà cần có sự quản lý một cách thích hợp. Sự
phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật cũng đã giúp cho việc khai thác tài
nguyên thiên nhiên dễ dàng hơn, nhưng cũng lại là nguyên nhân làm cho các
nguồn tài nguyên không tái tạo ngày càng bị cạn kiệt. Việc khai thác tùy tiện tài
nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường sống chính là những tác nhân hạn
chế sự phát triển bền vững, là nguyên nhân dẫn tới các thảm họa về môi trường
như hạn hán, lút bão…Chính vì vậy, Chính quyền các cấp, các ngành, người dân
phải nhận thức được vai trò, vị trí của con người, môi trường, mối quan hệ hữu cơ
giữa chúng. Nhận thức được vai trò quan trọng của con người đối với đời sống con
người và đối với sự phát triển bền vững, Nhà nước sẽ có những chủ trương, chính
sách phù hợp để kết hợp hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội với quản lý và bảo vệ
môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1998).
Giữa quản lý môi trường và bảo vệ môi trường có mối quan hệ biện chứng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

với nhau. Mục tiêu của quản lý môi trường là nhằm hướng tới sự phát triển bền
vững, tạo ra sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường; còn
bảo vệ môi trường sẽ tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới để phát triển
kinh tế xã hội trong tương lai. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đắc
điểm dân cư của môi trường, mỗi địa phương mà hoạt động và mục tiêu quản lý môi
trường có thể có nhiều cách khách nhau nhưng tất cả phải cùng tiến tới mục tiêu và
phát triển bền vững. Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường đã trở thành

nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài
người. Việc bảo vệ môi trường không thể chỉ được thực hiện ở các quốc gia riêng
rẽ, mà tất cả các quốc gia trên thế giới phải đoàn kết lại cùng nhau thực hiện công
tác quản lý môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1998).
Sau hơn 10 năm thực hiện Luật bảo vệ môi trường, công tác quản lý Nhà
nước về bảo vệ môi trường ở nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng. Kể
từ năm 1994 đến nay hàng trăm các văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, quy
phạm hướng dẫn thực hiện Luật bảo vệ môi trường đã xây dựng và ban hành.
Cùng với Luật bảo vệ môi trường, vấn đề môi trường cũng đã được đưa vào các
luật có liên quan như Bộ luật hình sự, Luật Tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát
triển rừng, Luật thủy sản…tạo nên một hệ thống ngày càng thống nhất, đồng bộ,
nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về môi trường
(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1998).
Thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường, Đại hội Đảng IX nêu
rõ: “ Từ nay đến 2010, phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt chẽ với bảo vệ và cải
thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường
thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học. Chủ động phòng tránh và hạn chế tác động
xấu của thiên tai, biến đổi khí hậu bất lợi và tiếp tục khắc phục hậu quả chiến
tranh còn lại với môi trường. Bảo vệ và cải tạo môi trường là trách nhiệm của
toàn xã hội, tăng cường quản lý nhà nước đi đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm
của mọi người dân. Chủ động gắn kết yêu cầu cải thiện môi trường trong mỗi
quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội, coi yêu cầu
về môi trường làm một tiêu chí quan trọng đánh giá các giả pháp phát triển”
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

(Quốc hội, 2001).
Như vậy, đi đôi với các hoạt động kinh tế, phát triển xã hội không thể
không có các hoạt động quản lý của Nhà nước về môi trường. Bảo vệ môi trường
chính là bảo vệ các yếu tố tiềm năng cho phát triển trong tương lai, phân phối

nguồn tài nguyên hợp lý cho các ngành kinh tế cho giai đoạn trước mắt và lâu dài
theo hướng bền vững. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt
nam cần ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường, bảo
tồn đa dạng sinh học, nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô
thị và nông thôn. Sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ tạo điều kiện có đủ nguồn lực
để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường. Trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, đặc biệt là trong quá trình tiến vào nền kinh tế tri thức, kinh tế Việt
Nam nên dần tạo ra nền sản xuất hoàng hóa ít dựa vào tài nguyên thiên nhiên mà
chủ yếu dựa vào nguồn lực của con người, trí thức khoa học – công nghệ đảm bảo
cân bằng sinh thái. Điều này không những đảm bảo được hiệu quả kinh tế, nâng cao
sức cạnh tranh của hàng hóa mà còn thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững.
Tuy nhiên, để kết nối được mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường, tạo ra sự phát triển bền vững thì cần phải có sự quản lý của Nhà nước về môi
trường (Đặng Dương Bình và Đặng Tâm Trung, 1998).
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã đưa ra mục tiêu tổng quát của phát
triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần văn hóa, sự
bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người
với tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là
phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định
với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân,
tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng cho
các thế hệ mai sau (Tạp chí cộng sản, 2013).
Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong việc
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo chế độ dinh dưỡng và chất lượng
chăm sóc sức khỏe nhân dân, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

giảm tình trạng đói nghèo và thu hẹp khoảng cách giầu nghèo giữa các tầng lớp và

nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và
nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong xã hội, duy trì và phát huy được
tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh
về đời sống vật chất và tinh thần (Tạp chí cộng sản, 2013).
Mục tiêu phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng
tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn xử lý và
kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ
các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự
đa dạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường (Tạp
chí cộng sản, 2013).
c) Mục tiêu của quản lý nhà nước về môi trường
Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường trong các hoạt
động sống của cong người.
Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường, ban hành các
chính sách về phát triển kinh tế, xã hội phải gắn liền với bảo vệ môi trường,
nghiêm chỉnh thi hành Luật bảo vệ môi trường.
Phát triển đất nước theo các nguyên tắc phát triển bền vững được thông
qua tại Hội nghị Môi trường do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1992 tại Rio – de
Zaneiro (Braxin).
Xây dựng công cụ hữu hiệu về quản lý môi trường quốc gia, các vùng,
lãnh thổ riêng biệt (Tạp chí cộng sản, 2013).
d) Các nguyên tắc quản lý môi trường
Tiêu chí chung của quản lý nhà nước về môi trường là đảm bảo quyền
được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự phát triển bền vững của đất
nước, góp phần gìn giữ môi trường chung của loài người trên Trái đất. Quản lý
nhà nước về môi trường gồm các nguyên tắc chính yếu sau:
- Hướng tới sự phát triển bền vững.
- Kết hợp các mục tiêu quốc gia – quốc tế – vùng lãnh thổ và cộng đồng
dân cư trong việc quản lý môi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9

- Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được
thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp.
- Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử
lý, phục hồi chất lượng môi trường nếu để xảy ra sự cố, ô nhiễm môi trường.
- Dựa trên nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”: Người nào gây ô
nhiễm, tổn hại đến môi trường, phải trả kinh phí cho công tác phục hồi chất
lượng môi trường (Quốc hội, 2005)
e) Các công cụ quản lý nhà nước về môi trường
Phân loại theo chức năng: Công cụ điều chỉnh vĩ mô (các chính sách, pháp
luật liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường). Công cụ hành động (các công
cụ có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh tế – xã hội như các quy định hành
chính, quy định xử phạt…Công cụ hành động là biện pháp quan trọng nhất của tổ
chức môi trường trong việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường), công cụ hỗ
trợ ( các công cụ được đưa ra để quan sát, giám sát chất lượng môi trường, giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường, công cụ hỗ trợ có tác dụng hỗ trợ và hoàn chỉnh
hai loại công cụ trên).
Phân loại theo bản chất: Công cụ luật pháp chính sách: Bao gồm các văn
bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch,
chính sách môi trường, quốc gia, các ngành, địa phương.
Công cụ kỹ thuật quản lý: các công cụ này thực hiện vài trò kiểm soát và
giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và
phân bổ chất ô nhiễm trong môi trường. Loại công cụ này bao gồm: đánh giá tác
động môi trường, quan trắc môi trường, tái chế và xử lý chất thải. Các công cụ kỹ
thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế nào.
Công cụ kinh tế: gồm các loại thuế, phí,…đánh vào thu nhập bằng tiền
của các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các công cụ kinh tế được áp dụng
nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tổ
chức đó đưa ra các hành vi ứng xử có lợi hoặc ít nhất là không gây hại tới môi

trường (Tạp chí cộng sản, 2013).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

2.1.3. Nội dung quản lý nhà nước về môi trường
a) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi
trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường:
- Chính phủ ban hành một số văn bản nhà nước về quản lý môi trường như:
- Luật Bảo vệ môi trường với 7 chương 55 điều đã được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua vào tháng 12/1993 trong đó
tập trung điều chỉnh các quan hệ liên quan đến phòng ngừa, ngăn chặn và khắc
phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường.
- Chính phủ ban hành Nghị định 26/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực môi trường, quy định cụ thể các hành vi vi phạm Luật bảo
vệ môi trường.
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 về việc thu phí bảo vệ môi
trường đối với nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt.
- Quốc hội đã thông qua Bộ Luật Hình sự sửa đổi trong đó có Chương
XVII quy định 10 tội danh môi trường, hình thành cơ chế truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi
trường nghiêm trọng. Ngoài ra, vấn đề môi trường cũng đã được đưa vào các luật
có liên quan như Luật Tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật
thủy sản…tạo nên một hệ thống luật ngày càng thống nhất, nâng cao tính hiệu
lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về môi trường.
b) Xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường là yêu cầu sống còn của nhân loại; Chiến lược bảo vệ
môi trường là bộ phận cấu thành không tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội, Chiến lược phát triển bền vững; bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu
phát triển bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn giữ

được tiềm năng và cơ hội cho các thế hệ mai sau; đầu tư cho bảo vệ môi trường
là đầu tư cho phát triển bền vững.
Phát triển phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, hài hòa với thiên nhiên,
thân thiện với môi trường; khuyến khích phát triển kinh tế phù hợp với đặc tính
sinh thái của từng vùng, ít chất thải, các-bon thấp, hướng tới nền kinh tế xanh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

Ưu tiên phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm; coi trọng tính hiệu quả, bền
vững trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; chú trọng bảo
tồn đa dạng sinh học; từng bước phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường;
tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu.
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, là nghĩa vụ của mọi
người dân; phải được thực hiện thống nhất trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của
các Bộ, ngành, phân cấp cụ thể giữa Trung ương và địa phương; kết hợp phát huy
vai trò của cộng đồng, các tổ chức quần chúng và hợp tác với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
Tăng cường áp dụng các biện pháp hành chính, từng bước áp dụng các chế tài
hình sự, đồng thời vận dụng linh hoạt các cơ chế kinh tế thị trường nhằm nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm các quy định của pháp luật các yêu cầu,
quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường được thực hiện.
- Tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ tài nguyên và các giá trị của môi
trường phải trả tiền; gây ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và đa dạng
sinh học phải trả chi phí khắc phục, cải tạo, phục hồi và bồi thường thiệt hại
(Chính phủ, 2004).
c) Tổ chức quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn
biến môi trường (Chính phủ, 2004).
d) Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các
cơ sở sản xuất, kinh doanh (Chính phủ, 2004).
e) Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường (Chính

phủ, 2004).
f) Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trường, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo bảo vệ môi trường, xử lý vi
phạm pháp luật bảo vệ môi trường (Chính phủ, 2004).
g) Đào tạo cán bộ khoa học và quản lý môi trường, giáo dục tuyên truyền,
phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường (Chính phủ, 2003).
Quản lý Nhà nước về môi trường là một trong những hoạt động quản lý xã
hội chung của Nhà nước. Trong công tác quản lý môi trường có ba nội dung quan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

trọng bao gồm: Xây dựng cơ sở khoa học kinh tế, pháp luật cho việc thi hành
công tác quản lý môi trường; Thiết lập các công cụ quản lý môi trường; Tổ chức
các công tác bảo vệ và quản lý môi trường.
Để quản lý môi trường một cách hiệu quả, phù hợp với các mục tiêu
chung của đất nước và cộng đồng quốc tế, hoạt động quản lý Nhà nước về môi
trường cần phải:
+ Hướng tới sự phát triển bền vững: Đây chính là mục đích của việc quản
lý môi trường. Để có thể thực hiện được điều này, Nhà nước cần xác lập quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế đất nước dưới hình thức các dự án phát triển cụ
thể, giao cho các ngành, địa phương quản lý và các dự án này sẽ được xem xét
cùng với chiến lược phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh
thái. Hoạt động đầu tư phát triển nguồn năng lượng sạch, công nghiệp sạch, ứng
dụng công nghệ sinh học thay thế các loại hoá chất độc hại cũng cần được tăng
cường (Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng
dân cư trong việc quản lý môi trường. Môi trường không có ranh giới không gian
do vậy sự ô nhiễm hay suy thoái môi trường ở quốc gia vùng lãnh thổ này sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến quốc gia khác. Bảo vệ tài nguyên và môi trường là nhiệm vụ
chung của nhân loại, không thể thực hiện riêng rẽ mà cần có sự liên minh giữa

các quốc gia. Các quốc gia cần tích cự tham gia và tuân thủ cá công ước, hiệp
định quốc tế về môi trường, đồng thời ban hành các văn bản quốc gia về luật
pháp, tiêu chuẩn quy định về quản lý môi trường (Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Tạo lập hệ thống pháp lý thống nhất, thuận lợi cho việc bảo vệ tài
nguyên và môi trường. Một xã hội phát triển bền vững là xã hội có sự kết hợp hài
hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên môi trường. Nhà nước trung
ương và chính quyền địa phương phải có cơ cấu tổ chức và hệ thống pháp lý
thống nhất để quản lý môi trường và bảo vệ các dạng tài nguyên. Một cơ cấu
thống nhất cần kết hợp được các nhân tố con người, sinh thái và kinh tế; đây là
yếu tố quan trọng để xây dựng một xã hội phát triển bền vững. Muốn xây dựng
nền kinh tế phát triển bền vững thì trước hết phải lựa chọn những mục tiêu và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

chương trình ưu tiên như: Phải có thể chế thống nhất, có tầm nhìn xa, bao quát
các lĩnh vực khi quyết định các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; phải có
các chính sách, cơ chế quản lý hữu hiệu để đảm bảo quyền lợi trước mắt của con
người và lợi ích của thế hệ tương lai; xây dựng các chính sách kinh tế - kỹ thuật
hợp lý không gây tác hại đến nguồn tài nguyên mà còn hỗ trợ đắc lực cho việc
bảo vệ tài nguyên và môi trường (Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc
phải xử lý hồi phục môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm. Phòng ngừa là biện pháp
ít tốn kém và hiệu quả hơn xử lý nếu để xảy ra ô nhiễm. Ngoài ra, khi chất ô
nhiễm tràn lan ra môi trường, chúng có thể xâm nhập vào tất cả các thành phần
môi trường, lan truyền theo các chuỗi thức ăn và không gian xung quanh. Để loại
trừ khỏi các ảnh hưởng của chất ô nhiễm với con người và sinh vật, cần phải có
nhiều công sức và tiền của hơn so với việc thực hiện các biện pháp phòng tránh
(Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên không tái tạo được. Đó là các loại tài
nguyên hóa thạch, chúng có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế -

xã hội của mỗi quốc gia. Trữ lượng của các loại tài nguyên này là hữu hạn, nếu
khai thác không hợp lý sẽ dẫn đến cạn kiệt. Do vậy, quản lý tài nguyên không tái
tạo được là một yêu cầu bức thiết, đảm bảo cho việc sử dụng lâu dài trong lương
lai. Việc quản lý cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành trong nền kinh tế
cùng với sự phối hợp, hỗ trợ của các nước trong khu vực và trên thế giới (Tạp chí
cộng sản, 2013).
+ Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và
các phòng trào quần chúng bảo vệ môi trường. Cụ thể như: Đưa bảo vệ môi
trường vào chương trình giáo dục của tất cả các hệ thống giáo dục quốc dân, tạo
điều kiện cho nhân dân nhận được các thông tin về môi trường, động viên nhân
dân thực hiện nếp sống sạch, hợp về sinh… (Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ, đào tạo cán bộ, chuyên
gia về lĩnh vực môi trường như xây dựng hệ thống quan trắc, đánh giá và dự báo
môi trường toàn quốc; hình thành hệ thống cơ sở nghiên cứu về khoa học và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

công nghệ môi trường; tổ chức đào tạo cán bộ và chuyên gia môi trường ở nhiều
mức độ và nhiều ngành nghề; hình thành ngành công nghệ môi trường phù hợp
với điều kiện Việt Nam (Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Hoạch định chính sách và chiến lược BVMT là chức năng quan trọng
nhất, nhằm định ra mục tiêu, chính sách, chiến lược, chương trình kế hoạch
BVMT cho quốc gia và từng địa phương. Bao gồm việc ban hành và tổ chức thực
hiện các văn bản pháp quy về BVMT, ban hành hệ thống tiêu chuẩn MT; xây
dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách BVMT, kế hoạch phòng
chống, khắc phục suy thoái, ô nhiễm và sự cố MT (Tạp chí cộng sản, 2013).
+ Tổ chức thực hiện công tác BVMT: Thiết lập và sử dụng các công cụ
quản lý môi trường như: Công cụ Luật pháp và chính sách; Công cụ kinh tế và
Công cụ kỹ thuật để thực hiện các mục tiêu, triển khai thực hiện các chính sách
và chiến lược môi trường. Bao gồm:

+ Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng
môi trường, dự báo diễn biến môi trường (UBND Thành phố Hồ Chí Minh, 2010).
+ Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và
các cơ sở sản xuất kinh doanh (UBND Thành phố Hồ Chí Minh, 2010).
+ Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường (UBND Thành phố
Hồ Chí Minh, 2010).
+ Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường (UBND
Thành phố Hồ Chí Minh, 2010).
k). Kiểm tra, điều chỉnh việc thực hiện bảo vệ môi trường
Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về BVMT, xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường (Nguyễn Hữu Cát, 2005).
2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường và công tác quản lý nhà nước
về môi trường
a) Phong tục tập quán
Trước những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau của môi trường, con
người có những cách ứng xử khác nhau, đồng thời những hành vi ứng xử
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

của con người trước môi trường cũng tùy thuộc vào thói quen, phong tục,
tập quán và nhiều yếu tố khác nhau như văn hóa cá nhân, văn hóa cộng
đồng, văn hóa dân tộc.
Sự ứng xử của con người với môi trường có sự khác nhau giữa các khu
vực nông thôn – thành thị, đồng bằng – miền núi. Môi trường xã hội nông thôn
gắn bó chặt chẽ với quá trình sản xuất nông nghiệp, với các hình thức canh tác,
trồng trọt, chăn nuôi, trong đó yêu cầu thời tiết như mưa, nắng, gió, bão, lũ lụt,
hạn hán…ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả lao động. Mặc dù ngày
nay nước ta đã áp dụng một số tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp, nhưng môi trường tự nhiên vẫn đóng vai trò quyết định thành quả sản

xuất nông nghiệp.
Môi trường xã hội đô thị gắn với sản xuất công nghiệp có xu hướng
ngược lại. Điều kiện tự nhiên không phải là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất công nghiệp. Song để có nhiên liệu phục vụ cho các máy
móc hiện đại, con người vẫn phải khai thác dầu mỏ, khí đốt… từ thiên nhiên.
Sản xuất và tiêu dùng khác được đẩy mạnh thì con người càng can thiệp nhiều
vào tự nhiên. Mặt khác, các nhà máy, cơ sở sản xuất lại thường xuyên thải ra
một số lượng lướn chất thải công nghiệp làm ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc
sống của các khu vực dân cư, dẫn đến tình trạng đa dạng sinh học bị suy giảm
và thoái hóa tại các khu vực này.
Nhìn chung người Việt Nam hiện vẫn còn thói quen xả rác bừa bãi chưa
hình thành được ý thức bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày, một bộ
phận dân cư sống du canh du cư, khai thác tài nguyên bừa bãi làm ảnh hưởng tới
môi trường sinh thái. Để thay đổi tập tục, thói quen trong việc bảo vệ môi trường
đòi hỏi tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục rộng khắp, thường xuyên trong
cộng đồng dân cư, vận động nhân dân bảo vệ môi trường, xóa bỏ thói quen lạc
hậu, hình thành thói quen mới, ăn ở vệ sinh…thực hiện các biện pháp ngăn ngừa
những tác hại đến tự nhiên, môi trường sinh thái là vấn đề có ý nghĩa hết sức
quan trọng (Nguyễn Hữu Cát, 2005).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16

b) Nhận thức của cán bộ quản lý và của người dân về môi trường
Nhận thức của nhà nước và người dân về tài nguyên thiên nhiên, môi
trường và phát triển là cơ sở để kết hợp giữa khai thác, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên, môi trường với phát triển bền vững. Đây là 2 chủ thể tác động vào môi
trường thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy biện pháp nâng cao
nhận thức của Nhà nước và người dân về vấn đề môi trường là biện pháp bảo vệ
môi trường ít tốn kém nhất mà lại đạt hiệu quả cao nhất.
Kinh tế thị trường càng phát triển, đời sống xã hội cũng như đời sống tinh

thần và vật chất của con người được nâng cao. Đi đôi với nó là nhu cầu được
thỏa mãn về cả vật chất và tinh thần cũng ngày càng phát triển. Để thỏa mãn nhu
cầu đó con người tiến hành khai thác môi trường tự nhiên nhằm đáp ứng lợi ích
trước mắt, dẫn đến tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt. Do vậy việc nâng cao vai
trò của các tổ chức xã hội và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường tuyên
truyền giáo dục và nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về bảo vệ môi
trường là hết sức cần thiết (Nguyễn Hữu Cát, 2005).
c) Khoa học công nghệ lạc hậu
Với phương châm “ đi tắt đón đầu” cập nhật công nghệ có hàm lượng chất
xám cao và công nghệ sạch của các nước phát triển nhằm nhanh chóng phát triển
kinh tế, Nhà nước có chủ trương đầu tư từng bước thay đổi trang thiết bị kỹ thuật
lạc hậu. Đó là điều hết sức cần thiết, song do trình độ của người lao động cũng
như của cán bộ quản lý nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu nên quá trình nhập
công nghệ mới từ nước ngoài về, chúng ta chưa đủ năng lực nghiên cứu, lựa chọn
và sử dụng hết công suất, tính năng của công nghệ mới, ứng dụng chưa có hiệu
quả những thành tựu khoa học và công nghệ thế giới vào sản xuất. Ở một số nơi,
một số ngành còn nhập công nghệ lạc hậu mà các nước phát triển đã sử dụng,
gây ô nhiễm môi trường (Nguyễn Hữu Cát, 2005).
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý Nhà nước về môi trường
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về môi trường của một số nước trên thế
giới
Hiện nay, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về vai trò của
Nhà nước trong hoạt động quản lý môi trường từ nhiều góc độ khác nhau. Các

×