Tải bản đầy đủ (.doc) (76 trang)

Thực trạng hoạt động quản lý tài chính của công ty TNHH thương mại Và dịch vụ Đỗ Hữu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (395.05 KB, 76 trang )

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, càng ngày càng có nhiều thành phần kinh tế, đa dạng các loại hình
sở hữu để phát huy tối đa ưu điểm của nền kinh tế thị trường. Với môi trường
hoạt động như thế, thành phần kinh tế tư nhân được tạo điều kiện để phát triển
mạnh mẽ, và hòa nhập vào xu hướng đó, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân ngày
nay hoạt động tốt, có nhiều đóng góp cho nên kinh tế.
Với các hoạt động linh hoạt, đa dạng hóa ngành nghề, các doanh nghiệp
tư nhân đã và đang thu hút vốn nhàn rỗi từ cộng đồng dân cư, thu hút lao
động và góp phần thúc đẩu phát triển kinh tế, hỗ trợ cho thành phần kinh tế
nhà nước.
Cũng như các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp tư nhân cũng nằm
trong guồng máy của cơ chế thị trường, mục tiêu hoạt động chủ yếu là lợi
nhuận, nếu được tự do vận động, thì rất dễ phát triển không theo định hướng
phát triển của nhà Đảng và nhà nước, nếu xảy ra các vấn đề gì sẽ rất khó kiểm
soát và xử lý. Vì thế, để các doanh nghiệp tư nhân hoạt động có hiệu quả, góp
phần xây dựng đất nước, được các quyền lợi bình đẳng và đi theo định hướng
quản lý của Nhà nước, thì các doanh nghiệp phải hoạt động theo cơ chế quản
lý của nhà nước đặt ra, nhất là cơ chế quản lý tài chính.
Tuy nhiên, cơ chế quản lý của nhà nước dùng để quản lý bao quát chung,
tầm vĩ mô, không thể áp dụng toàn bộ tất cả cho mọi loại doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau thì không thể cùng chung
một cơ chế quản lý , như thế sẽ dẫn đến sự bất hợp lý, áp đặt hoặc hạn chế
hoạt động của các tổ chức. Vì thế phải tùy thuộc vào đặc điểm của doanh
nghiệp mà mỗi doanh nghiệp phải có một cơ chế quản lý tài chính riêng, dựa
theo cơ chế quản lý chung của nhà nước.
Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Đỗ Hữu là một
công ty mới thành lập, trước sự phát triển của thị trường ngày càng nhiều cơ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
1


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
hội và thách thức, việc thiết lập cơ chế quản lý tài chính riêng cho công ty là
một việc tất yếu, góp phần tạo môi trường pháp lý, là căn cứ hoạt động hiệu
quả cho công ty và là căn cứ để các cơ quan chức năng quản lý và có những
chính sách áp dụng đối với công ty.
Sau một thời gian thực tập tại công ty, trong quá trình tìm hiểu của mình,
em càng nhận thấy rõ được sự cần thiết của việc cần có một cơ chế quản lý tài
chính cụ thể. Với kiến thức đã được tích lũy, với sự hướng dẫn tận tình của
thầy giáo Nguyễn Đức Hiển, em mạnh dạn di sâu vào nghiên cứu đề tài:
“ Thiết lập cơ chế quản lý tài chính tại công ty TNHH thương mại và
dịch vụ Đỗ Hữu”
Phần nghiên cứu của em bao gồm:
Chương 1: Lý thuyết chung về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh
nghiệp tư nhân.
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý tài chính của công ty TNHH
thương mại Và dịch vụ Đỗ Hữu.
Chương 3: Xây dựng dự thảo cơ chế quản lý tài chính cho công ty.
Do kiến thức và khả năng hiểu biết còn hạn chế, phần nghiên cứu dưới
đây của em mang nhiều tính chủ quan nên không thể tránh khỏi, rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và những người quan tâm.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
1.1 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp tư nhân.
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp tư nhân
Phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường hiện
nay trở thành một quy luật phổ biến trên toàn thế giới. Tuy nhiên đặc điểm

kinh tế của mỗi nước lại khác nhau. Ở Việt Nam trong quá trình phát triển
kinh tế theo cơ chế thị truờng, kinh tế được chia thành kinh tế nhà nước và
kinh tế tư nhân ( hay kinh tế ngoài quốc doanh).
Kinh tế nhà nước: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu Nhà nước
về tư liệu sản xuất. Chủ yếu bao gồm các đơn vị kinh tế mà toàn bộ số vốn
thuộc về Nhà nước hoặc Nhà nước chiếm tỉ lệ chi phối.
Kinh tế tư nhân: là thành phần kinh tế không thuộc thành phần kinh tế
Nhà nước. Bao gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
hợp doanh và doanh nghiệp tư nhân gọi chung là doanh nghiệp tư nhân.
1.1.2 Phân loại doanh nghiệp tư nhân.
1.1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân xét trên nghĩa thực hiện theo luật.
Các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp là các đơn
vị kinh tế tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, do một hay nhiều người làm
chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình( hữu hạn hoặc vô hạn) về
mọi hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2.2 Doanh nghiệp tư nhân xét theo tính chất sở hữu.
Tất cả các đơn vị, tổ chức cá nhân thuộc khu vực kinh tế tư nhân dựa
trên sở hữu vốn của cá nhân tự có hoặc đi vay.
Cá nhân, họ cá thể kinh doanh hoặc tự bỏ vốn ra thành lập, tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Đây là loại hình kinh tế hộ gia đình, bao
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
gồm: kinh tế hộ gia đình nông dân, thợ thủ công, dịch vụ, doanh nghiệp.
Công ty là các đơn vị kinh tế hoạt động theo luật doanh nghiệp, bao
gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và
doanh nghiệp tư nhân.
Công ty cổ phần là công ty, trong đó:
Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải cố trong suốt thời gian hoạt

động ít nhất là 7 người.
Vốn điều lệ của công ty được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần. Giá trị mỗi cổ phần được gọi là mệnh giá cổ phiều. Mỗi cổ động có thể
mua một hoạc nhiều cổ phiếu.
Cổ phiếu được phát hành có ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu của
sáng lập viên, của thành viên hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi
tên.
Cổ phiếu không ghi tên được quyền tự do chuyển nhượng. Cổ phiếu có
ghi tên chỉ được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của hội đồng quản trị.
Riêng số cổ phiếu của thành viên hội đồng quản trị không được chuyển
nhượng trong thời gian tại chức và trong thời hạn hai năm kể từ ngày thôi giữ
chức thành viên hội đồng quản trị.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty, trong đó:
Phần vốn góp của tất cả các thành viên phải được đóng đủ ngay khi
thành lập công ty. Các phần vốn góp được ghi rõ trong điều lệ công ty. Công
ty không được phép phát hành một loại chứng khoán nào.
Việc chuyển nhượng phần vốn góp giữa các thành viên được chuyển
nhượng tự do. Việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người không phải là
thành viên phải được sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất ¾
vốn điều lệ của công ty.
Công ty hợp doanh là doanh nghiệp, trong đó:
Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
có thể có thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn, uy tín
nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các
nghĩa vụ của công ty.
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty

trong phạm vi số vốn đã đóng góp vào công ty.
Công ty hợp danh không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán
nào.
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn
vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ
tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữ tư
nhân về tư liệu sản xuất, Nhà nước có thể góp vốn nhưng không chiếm tỷ lệ
chi phối.
Doanh nghiệp tư nhân thành lập, hoạt động vì lợi ích của chủ sở hữu
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân là loại hình kinh tế năng động, phát triển theo quy
luật kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh chủ yếu theo mục tiêu lợi nhuận,
sẵn sàng tham gia vào các lĩnh vực mạo hiểm với mức lợi nhuận vao và quan
tâm tới lợi ích của doanh nghiệp hơn lợi ích của xã hội.
1.2 Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp tư nhân.
1.2.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính.
Doanh nghiệp tư nhân cũng giống như các doanh nghiệp khác là một
thực thể tồn tại độc lập trong nền kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của doanh
nghiệp mang tính khách quan. Các nhà quản lý, các chủ doanh nghiệp chỉ có
thể áp đặt ý chí chủ quan của mình lên hoạt động của doanh nghiệp khi ý chí
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
đó phù hợp với xu thế vận động khách quan của doanh nghiệp trong từng điều
kiện kinh tế xã hội nhất định. Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được
hình dung là sản phẩm chủ quan của con người, được sử dụng để tác động lên
động tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp tồn tại và thực hiện các

mục tiêu của mình.
Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là tổng thế các hình
thức và phương pháp hoạt động lên hoạt động tài chính doanh nghiệp, nhờ đó
mọi nguồn lực của doanh nghiệp ( vốn, lao động, tài nguyên) được kết hợp
chặt chẽ với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp cho doanh nghiệp tồn tại,
vận động để thực hiện các mục tiêu của mình.
Bởi vậy, mỗi loại doanh nghiệp khác nhau tất yếu hoạt động theo một cơ
chế riêng, phù hợp với sự tồn tại và hoạt động của bản thân mình.
Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được cấu thành và chịu sự tác
động của nhiều yếu tố.
1.2.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế quản lý tài chính của doanh
nghiệp tư nhân.
Theo khái niệm trên, có thể nêu một các khái quát các yếu tố chủ yếu
cấu thành cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm: pháp luật, hệ thống
các biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật, quyết định quản lý của người quản
lý và mức độ phù hợp 3 yếu tố trên.
1.2.2.1 Yếu tố pháp luật:
Là yếu tố trước hết và quan trọng của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp.
Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước trong quản lý kinh tế
nói chung, quản lý hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân nói tiêng chỉ có
thể đi vào thực tiễn khi nó được cụ thể hóa thành pháp luật. Vì, thông qua
pháp luật mọi yêu cầu của quản lý được cụ thể hóa thành các quy tắc quy định
về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến quản lý, đồng thời quy
định các biện pháp bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ đó được thực hiện.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
Trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau và đối với mỗi chủ thể khác
nhau được pháp luật quy định cho với những quyền và nghĩa vụ khác nhau,
nhờ đó trật tự trong nền kinh tế được duy trì. Ví dụ để thực hiện chủ trương

mở rộng quyết định tự chủ về tài chính cho các doanh nghiệp tư nhân, nhà
nước thông qua pháp luật quy định cho doanh nghiệp có các quyền rộng rãi
trong quá trình huy động vốn, quản lý sử dụng vốn….phù hợp với nhiệm vụ
của doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Căn cứ vào quy định của pháp luật mà doanh nghiệp thực hiện được vai
trò tự chủ của mình. Bởi vì, chính yếu tố pháp luật đảm bảo an toàn cho hoạt
động kinh doanh có hiệu quả.
Từ những phân tích trên cho thấy yếu tố pháp luật có ý nghĩa rất quan
trọng trong cơ chế quản lý. Thực tế đã chứng minh rằng, việc chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế quản lý này sang cơ chết quản lý khác, thì điều trước hết cần
làm là thay đổi hệ thống chính sách, pháp luật trong quản lý. Đối với quản lý
hoạt động tài chính của các doanh nghiệp cũng vậy, pháp luật là cơ sở cho
hoạt động tài chính doanh nghiệp và là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm
quyền điều hành, giám sát, kiểm tra hoạt động tài chính doanh nghiệp. Tuy
nhiên nếu chỉ pháp luật không thôi thì chưa đủ, mà điều quan trọng cần thiết
phải thực hiện tiếp theo là đảm bảo cho pháp luật được thực hiện.
1.2.2.2 Hệ thống các biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật.
Hệ thống này bao gồm từ việc cụ thể hóa pháp luật tới việc triển khai
thực hiện pháp luật trong thực tế. Đối với mỗi chủ thể quản lý khác nhau thì
có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp luật.
1.2.2.3 Quyết định quản lý:
Hình thức biểu hiện cụ thể và cuối cùng của quá trình quản lý là quyết
định quản lý. Các quyết định quản lý phải phù hợp với quy định của pháp
luật, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của doanh nghiệp ( các điều
kiện về khoa học công nghệ, điều kiện về tài chính, điều kiện về thị trường, về
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
trình độ kỹ thuật của người lao động…), nhằm kết hợp chặt chẽ các yếu tố sản
xuất trong doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố vào mục đích kinh

doanh hoặc mục đích xã hội. Trong mọi quyết định quản lý phải luôn được
khách quan mà người quản lý ra quyết định trên cơ sở vận dụng các quy luật
khách quan.
Quyết định quản lý đúng đắn sẽ có tác dụng tích cực tới hoạt động của
doanh nghiệp, còn ngược lại quyết định quản lý sai lầm sẽ làm cản trở hoạt
động của doanh nghiệp, và trong chừng mực nhất định không chỉ với doanh
nghiệp, còn làm ảnh hưởng tới lợi ích của nhà nước. Ví dụ, quyết định đầu tư
vào những ngành, những lĩnh vực mà doanh nghiệp không có khả năng về kỹ
thuật công nghệ hoặc đầu tư sản xuất bị hạn chế bởi thị trường…
Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp là sản phẩm chủ quan nhưng bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng.
1.2.3.1 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Là một yếu tố quyết định tới nội dung của cơ chế quản lý tài chính
doanh nghiệp. Những định hướng trong đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước là căn cứ để đặt ra yêu cầu đối với quản lý tài chính doanh nghiệp.
Sự thay đổi yêu cầu quản lý tài chính doanh nghiệp trong đường lối, chính
sách sẽ trực tiếp dẫn tới sự thay đổi trong nội dung của cơ chế quản lý tài
chính doanh nghiệp.
1.2.3.2 Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp
Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp cũng làm ảnh hưởng tới cơ chế
quản lý tài chính. Vì thế cơ chế quản lý tài chính được đặt ra là để quản lý
hoạt động tài chính của chính doanh nghiệp. Việc thực hiện cơ chế phải bảo
đảm khắc phục những tồn tại của doanh nghiệp, phát huy mọi tiềm năng của
doanh nghiệp, kết hợp hài hòa được các yếu tố của sản xuất để thực hiện tốt
nhiệm vụ kinh doanh, đồng thời, nhằm định hướng cho sự phát triển của
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
doanh nghiệp ở mức độ cao hơn.

1.2.3.3 Điều kiện thị trường trong nước và quốc tế.
Trên thực tế, các doanh nghiệp có tồn tại được hay không tồn tại được
không chỉ phụ thuộc vào sự bảo trợ của nhà nước mà điều quan trọng là sản
phẩm hoặc dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất có cung ứng được nhu cầu ngày
càng tăng lên và thường xuyên thay đổi của thị trường trong nước và quốc tế
hay không. Bởi vậy, cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp phải tạo điều kiện
cho doanh nghiệp có những quyền chủ động nhất định trong quản lý, sử dụng
tài sản và tiền vốn do nhà nước giao cho để có thể tập trung được nhu cầu của
thị trường, đồng thời đảm bảo sự can thiệp của nhà nước ràng buộc trách
nhiệm của nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp trong từng trường
hợp cần thiết để bảo vệ lợi ích của nhà nước và lợi ích quốc gia.
1.2.3.4 Trình độ, khả năng nhận thức của người đưa ra quyết định quản

Đây cũng là yếu tố làm ảnh hưởng tới cơ chế quản lý tài chính doanh
nghiệp. Nhất là đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta nói chung trình độ
còn thấp.
Quyết định quản lý là hình thức biểu hiện cụ thể và cuối cùng của quá
trình quản lý tài chính doanh nghiệp, quyết định quản lý là kết quả của sự
nhận thức và kết hợp các quy định của pháp luật với thực trạng hoạt động của
doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường hoặc các đặt hàng của nhà nước.
1.2.4 Vai trò của cơ chế quản lý tài chính.
Vai trò của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp nói chung , doanh
nghiệp tư nhân nói riêng được hiểu là tác dụng của việc thực hiện một cơ chế
quản lý nhất định đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp. Khi đề cập đến
vai trò của quản lý thông thường được xem xét tác động của cơ chế quản lý
đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp trên khía cạnh tích cực.
Vai trò của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp tư nhân được thực
hiện ở những khía cạnh sau đây:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
9

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
- Là căn cứ để các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động tài chính của
mình như: hoạt động huy động vốn, hoạt động quản lý, sử dụng vốn, các hoạt
động trong phân phối thu nhập của doanh nghiệp…
- Việc tuân theo một cơ chế nhất định, nhằm đảm bảo trật tự chung trong
hoạt động tài chính của các doanh nghiệp. Thông qua các qui định của các
văn bản pháp lý với các hoạt động tài chính của doanh nghiệp đã tạo nên sự
thống nhất, phối hợp nhịp nhàng, hài hòa trong hoạt động tài chính của từng
doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Trên cơ sở đó nhà nước có thể quản lý và định hướng được hoạt động tài
chính doanh nghiệp.
- Trong điều kiện và hoàn cảnh nhất định, đối với từng loại hình doanh
nghiệp cụ thể, cơ chế quản lý còn cho phép áp dụng các hình thức, phương
pháp quản lý mới, tiên tiến hơn. Ví dụ so với trước đây, doanh nghiệp nhà
nước có nhiều quyền rộng rãi hơn trong quản lý và sử dụng vốn của doanh
nghiệp như: được phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu, được đầu tư ra
ngoài doanh nghiệp…hoặc các doanh nghiệp nhà nước được tham gia thị
trường tài chính với tư cách là chủ thể độc lập. Với những quy định đó, các
hoạt động tài chính nhằm làm cho doanh nghiệp hòa nhập với các doanh
nghiệp khác trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ngày càng
phát triển.
Tất nhiên, như đã đề cập chỉ có thể nói đến vai trò của cơ chế quản lý tài
chính doanh nghiệp tư nhân khi nó phù hợp với xu hướng khách quan và tình
hình thực tế của doanh nghiệp, còn ngược lại, thì cơ chế quản lý tài chính
doanh nghiệp có thể làm cản trở hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh
nghiệp, chẳng hạn:
- Có ảnh hưởng mạnh đến các quyết định đầu tư của các doanh nghiệp tư
nhân:
Đối với bất kỳ quốc gia nào, chính sách tài chính luôn luôn là một công
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A

10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
cụ quan trọng để quản lý về mặt vĩ mô, điều chỉnh cơ chế nền kinh tế. Thông
qua chính sách tài chính, chính phủ có thể có những tác động khuyến khích
hoặc hạn chế đối với một hoặc một số lĩnh vực, lĩnh vực kinh tế phát triển
hướng theo chiến lược phát triển của quốc gia. Chẳng hạn, khi mức đánh thuế
của chính phủ tăng lên, phần thu nhập còn lại của nhà đầu tư giảm xuống, và
do đó mà sẽ có tác động hạn chế tăng trưởng nhu cầu, làm giảm sự gia tăng
đầu tư vào sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư, nhất là khu vực tư nhân.
Ngược lại, khi mức đánh thuế của nhà nước giảm xuống sẽ có tác dụng
khuyến khích tăng trưởng đầu tư. Chính sách thuế còn tác động đến cơ cấu
đầu tư trong nền kinh tế. Đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân thì sự tác
động này lại càng nhạy cảm hơn, các doanh nghiệp này có ưu thế là linh hoạt,
dễ thay đổi ngành nghề, mặt hàng kinh doanh, mặt khác, do quy mô nhỏ, năng
lực sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh hạn chế hơn các doanh
nghiệp có quy mô nên khả năng “ chống trả” với tác động từ môi trường hoạt
động của các doanh nghiệp tư nhân cũng có phần khó khăn hơn. Vì vậy các
phản ứng từ khu vực doanh nghiệp này khi chính phủ có những thay đổi trong
chính sách thuế cũng như chính sách tài chính nói chung thường nhanh hơn
các doanh nghiệp, tập đoàn có quy mô lớn.
Bên cạnh chính sách thuế, thì chính sách chi tiêu ngân sách của chính
phủ cũng có tác động đến môi trường hoạt động của các doanh nghiệp, trong
đó có doanh nghiệp tư nhân. Chằng hạn chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản…
- Là công cụ quan trọng để chính phủ thực hiện việc định hướng, hỗ trợ
đối với doanh nghiệp tư nhân.
Cơ chế quản lý tài chính có tác động rất lớn đến quyết định đầu tư của
các nhà đầu tư và dân cư đã phân tích ở trên, vì vậy trong chính sách hỗ trợ
với khu vực doanh nghiệp tư nhân, hầu hết các nước đều sử dụng các biện
pháp qua chính sách tài chính. Thông qua các chính sách thuế, chi tiêu chính

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
phủ, chính sách tài chính doanh nghiệp là những nhân tố có vai trò rất lớn tạo
ra các đòn bẩy kinh tế tác động đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân trên các
khía cạnh khuyến khích và định hướng phát triển doanh nghiệp thuộc khu vực
tư nhân trong những lĩnh vực mà chính phủ cần khuyến khích theo mục tiêu
phát triển kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ.
- Tác động trực tiếp đến việc tạo nguồn vốn từ kênh tín dụng ngân hàng,
giải quyết nhu cầu vốn cho hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân
Có thể khẳng định rằng, không một doanh nghiệp nào hoạt động mà
không có nhu cầu hỗ trợ nguồn vốn từ bên ngoài, và tín dụng ngân hàng chính
là kênh đáp ứng tốt nhất nhu cầu này của doanh nghiệp. Đối với các doanh
nghiệp tư nhân, một hạn chế mang tính phổ biến của các doanh nghiệp này là
quy mô vốn tự có nhỏ bé, thường xuyên thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Do
đó xét cả về lý luận và thực tiễn thì nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, đặc biệt
là tín dụng ngân hàng có ý nghĩa không thua kém bộ phận vốn tự có của
doanh nghiệp. Thậm chí, thực tế cho thấy, nguồn vốn vay từ bên ngoài còn
chiếm tỷ lê lớn hơn vốn tự có trong tổng vốn hoạt động của doanh nghiệp.
Ngay tại Nhật Bản, vốn tín dụng ngân hàng cũng chiếm khoảng 70% trong
tổng nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; ở Việt Nam ,
con số này lên tới 80-90%, và có thể nói doanh nghiệp đang “ sống” bằng
nguồn tín dụng ngân hàng. Từ thực trạng như trên thấy rằng, chính sách tín
dụng có tác động rất lớn đến việc hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân.
1.2.5 Nội dung của cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp tư nhân.
Chính sách tạo lập, huy động vốn, quản lý và sử dụng vốn là bộ phận
quan trọng hàng đầu của cớ chế quản lý chính sách tài chính dối với doanh
nghiệp.
Việc hoạch định chính sách này phải nhằm động viên mọi nguồn vốn
nhàn rỗi trong xã hội vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức đầu tư trực tiếp

và gián tiếp, như thành phần doanh nghiệp góp vốn cổ phần, liên doanh ở
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
trong và ngoài nước, cho vay vốn mua trái phiếu, tún phiếu, nằm khai thác
triệt để mọi nguồn vốn tiềm tàng trong dân cư và trong nền kinh tế quốc dân.
Bằng hệ thống các đòn bẩy kinh tế của cơ chế thị trường đặt các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế vào môi trường cạnh tranh, hạch toán kinh
doanh thật sự, buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc tự chủ tài chính, sử
dụng tiết kiệm và có hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh, thúc đẩy quá trình tự
tích lũy vốn để phát triển.
Chính sách tạo vốn, quản lý, sử dụng vốn phải tác động đến sử dụng tiết
kiệm và có hiệu quả mọi nguồn của cải xã hội. Chính sách này cần được thay
đổi linh hoạt cho phù hợp với vị trí quan trọng của từng loại hình doanh
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh
nghiệp tư nhân cũng mang những mục tiêu như vậy.
1.2.5.1 Chính sách huy động, tạo lập vốn.
Trong một môi trường và không gian kinh tế thống nhất của nền kinh tế
thị trường, nội dung chính sách huy động, tạo lập vốn đối với các doanh
nghiệp tư nhân vè nguyên tắc cơ bản giống như chính sách huy động, tạo lập
vốn đối với doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên xuất phát từ tính đa dạng của
sở hữu vốn, các doanh nghiệp tư nhân có những điểm khác với doanh nghiệp
nhà nước trong quá trình tạo vốn.
Xuất phát từ các đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân, xuất phát từ mối
quan hệ của nhà nước với loại hình doanh nghiệp này trong việc thực hiện
nghĩa vụ với nhà nước, để đảm bảo có sự quản lý trực tiếp của nhà nước đối
với doanh nghiệp tư nhân; đồng thời tạo điều kiện pháp lý để doanh nghiệp
hoàn thành các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình, nhà nước thông qua
chức năng của mình quy định nội dung mang tính nguyên tắc của cơ chế quản
lý tài chính đối với các loại hình doanh nghiệp tư nhân, bao gồm các vấn đề

sau:
Nhà nước không khống chế số vốn tối đa, mà khuyến khích các doanh
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
nghiệp tư nhân đầu tư vốn nhất là vốn tự có của bản thân vào kinh doanh càng
nhiều càng tốt, tất nhiến vốn đầu tư vào doanh nghiệp phải được đăng ký theo
pháp luật hiện hành và phải ghi vào điều lệ công ty.
Trong mọi trường hợp cần mở rộng quy mô đầu tư chiều sâu, các chủ
doanh nghiệp đều có quyền bỏ thêm vốn hoặc sử dụng lợi nhuận để lại dưới
hình thức quỹ dự trữ tài chính, để tái đầu tư hoặc phát triển các hình thức liên
kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều kinh doanh bằng hai
nguồn vốn: vốn tự có và vốn đi vay, tạo vốn từ các loại hình tín dụng cho
doanh nghiệp ( tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng của thị
trường vốn, tín dụng của các tổ chức kinh tế và cá nhân…)
Trong giai đoạn hiện nay, khả năng tạo vốn để cho vay qua thị trường vốn
còn hạn chế, thì nguồn vốn tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp tư nhân là rất
quan trọng. Về lâu dài, các công ty cổ phần có thể phát hành trái phiếu, tín phiếu
công ty để huy động vốn bổ sung. Hình thức tạo vốn này là một điều kiện quan
trọng để hình thành thị trường vốn. Nhằm huy đông mọi nguồn vốn nhà rỗi trong
nền kinh tế và dân cư vào phát triển sản xuất kinh doanh.
1.2.5.2 Chính sách sử dụng vốn
Do đặc điểm về sở hữu vốn khác nhau, cho nên chính sách sử dụng vốn
đối với từng loại doanh nghiệp tư nhân không giống nhau. Chẳng hạn:
Các công ty cổ phần đều hoạt động theo quy định đối với công ty trong
luật doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn của doanh nghiệp được thực hiện trong
phạm vi luật pháp và theo theo quyết định của hội đồng quản trị. Hội đồng
quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của công ty cổ phần.
Việc quản lý vốn và sử dụng vốn ở công ty cổ phần được thực hiện theo

quyết định của hội đồng quản trị. Ban giám đốc là cơ quan thừa hành các
quyết định của hội đồng quản trị, trực tiếp điều hành và quản lý vốn và quản
lý sản xuất kinh doanh.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
Công ty cổ phần hoàn toàn tự chủ về tài chính, kinh doanh theo nguyên
tắc lời ăn lỗ chịu, nhà nước không bao cấp bù lỗ. Nếu công ty cổ phần làm ăn
không đủ khả năng thanh toán thì phải bị phá sản theo luật.
Các công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ta hiện nay gồm 2 loại: Một
loại công ty được thành lập do các cá nhân góp vốn. Còn một loại công ty thì
được thành lập từ các bên; trong đó có nhà nước góp vốn.
Xét về nguyên tắc thì cả hai loại doanh nghiệp này đều là hoạt động theo
qui định đối với công ty trong luật doanh nghiệp.
Đối với loại doanh nghiệp thứ nhất, nhà nước hoàn toàn không can thiệp
hành chính vào việc quản lý, sử dụng vốn. Các cá nhân chủ sở hữu doanh
nghiệp tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh. Nếu công ty bị
phá sản thì các cá nhân phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ tỷ lệ với phần
vốn góp của mình..
Đối với loại hình doanh nghiệp thứ hai, nhà nước cũng không trực tiếp
can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, các bên doanh nghiệp tham gia
góp vốn phải cử người tham gia hội đồng quản trị và ban giám đốc điều hành
doanh nghiệp.
Tuy nhiên các doanh nghiệp nhà nước góp vốn vẫn chịu sự quản lý của
cơ quan nhà nước. Cụ thể là trong những trường hợp, các cơ quan quản lý nhà
nước có thể kiểm tra, giám sát quá trình quản lý, sử dụng vốn ở các công ty
trách nhiệm hữu hạn do các bên quốc doanh góp vốn. Trường hợp công ty này
lâm vào tình trạng phá sản thì các bên quốc doanh góp vốn phải chịu trách
nhiệm đối với các khoản nợ tỷ lệ với phần vốn góp của từng bên.
Các doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn

trong kinh doanh bằng toàn bộ tài sản của bản thân. Chủ doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh trong phạm vi pháp luật, hoàn toàn tự chủ về tài chính, nếu
lâm vào tình trạng không trả được nợ thì phải chịu phá sản theo luật phá sản.
Các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, trong đó, bên Việt Nam có
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
thể là doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân…để
hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp này là các pháp
nhân độc lập, thuộc loại công ty trách nhiệm hữu hạn, tổ chức hoạt động kinh
doanh theo mô hình hội đồng quản trị và ban giám đốc điều hành. Các bên
góp vốn liên doanh sẽ thực hiện quyền quản lý, sử dụng vốn, quản lý quá
trình sản xuất kinh doanh thông qua hội đồng quản trị và ban giám đốc điều
hành. Nếu một bên góp vốn liên doanh là doanh nghiệp nhà nước thì nhà
nước thực hiện quyền quản lý của chủ sở hữu vốn, thông qua doanh nghiệp
nhà nước có vốn góp. Nhà nước hoàn toàn không can thiệp hành chính vào
quá trình quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý vốn ở doanh nghiệp liên
doanh. Nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không có khả năng thanh toán các
khoản nợ thì phải chịu phá sản theo luật phá sản, trách nhiệm đối với các
khoản nợ của các bên góp vốn tỷ lệ với số vốn góp của mỗi bên.
Các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài thì hoạt động theo pháp luật
Việt Nam. Chủ sở hữu vốn doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong kinh doanh.
1.2.5.3 Những nội dung khác:
Ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, cơ chế quản lý tài chính còn
phải bao quát các nội dung sau:
Về chi phí sản xuất:
Việc quản lý này là cần thiết và hợp lý nhằm theo dõi và giám sát việc
hạch toán đúng chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh
của từng thời kỳ, xác định chính xác thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp,

bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu vốn.
Nội dung của chính sách quản lý chi phí sản xuất được xây dựng thống
nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp nhằm đảm bảo các yếu tố chi phí sản
phẩm tính vào giá thành và phí lưu thông một cách trung thực, khách quan và
hợp lý.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
Chính sách phân phối lợi nhuận còn lại:
Cơ sở kinh tế và pháp lý quyết định nội dung phân phối lợi nhuận còn lại
của doanh nghiệp là quan hệ về sở hữu vốn ở doanh nghiệp. Người bỏ vốn
kinh doanh, sau khi thực hiện các nghĩa vụ với ngân sách theo các luật thuế
bù đắp chi phí sản xuất kinh doanh từ doanh thu, được hưởng toàn bộ phần lợi
nhuận còn lại của doanh nghiệp. Nói cách khác, chủ sở hữu doanh nghiệp
được toàn quyền sở hữu và sử dụng lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp. Điều
này hoàn toàn phù hợp với lý luận về quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu
quyết định quan hệ quản lý và phân phối và mục đích khách quan của viếc bỏ
vốn và kinh doanh sinh lời. Tương ứng với từng loại hình sở hữu doanh
nghiệp, chính sách phân phối lợi nhuận có những nội dung khác nhau.
Đối với công ty cổ phần: có quyền chi phối và sử dụng lợi nhuận còn lại
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhà nước vẫn cần phải định hướng đối với quá
trình sử dụng số lợi nhuận còn lại ở đây.
Từ thực tế cho thấy phần lợi nhuận ròng còn lại của các công ty cổ phần
thường được phân phối như sau: trích lập một tỷ lệ % để lập quỹ dự trữ tài
chính theo luật định; trả tiền lãi cho các trái phiếu theo một tỷ lệ cố định, tính
trên mệnh giá của trái phiếu, tương tự như việc trả lãi các khoản vay bên
ngoài, phần còn lại được phân phối vào các quỹ khác.
Đối với doanh nghiệp tư nhân chỉ có vốn sở hữu của một người chủ, thì
lợi nhuận còn lại do chủ sở hữu hoàn toàn có quyền quyết định sử dụng.
Cơ chế chính sách về xử lý tài chính khi doanh nghiệp phá sản:

Trong cơ chế thị trường canh tranh tất dẫn đến một số doanh nghiệp phát
triển, một số doanh nghiệp phá sản.
Phá sản là tình trạng các pháp nhân và thể nhân không có khả năng thanh
toán các khoản nợ cho chủ nợ. Để xử lý tình trạng phá sản của doanh nghiệp
tư nhân, ở bất kỳ đâu cũng phải dựa vào luật phá sản.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
1.3 Tính cấp thiết của việc thiết lập cơ chế quản lý tài chính.
1.3.1 Độ tín nhiệm của doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế
Doanh nghiệp tư nhân là nơi làm việc còn ít được ưa chuộng nhất là
trong lựa chọn của sinh viên tốt nghiệp đại học và cả cha mẹ của họ, nếu so
với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài, chỉ có 8% sinh viên
nói rằng họ chọn khối tư nhân sau khi tốt nghiệp đại học. Hầu như tất cả
những người được hỏi ý kiến đều cho rằng doanh nghiệp tư nhân là sự lựa
chọn không hấp dẫn bởi vì không ổn định, không đảm bảo công việc, không
có tiềm năng để phát triển sự nghiệp và không có cơ hội được đào tạo.
Đối với ngân hàng: khi được lựa chọn ai trong hai khách hàng vay có
cùng những phẩm chất như nhau, nhưng là một doanh nghiệp nhà nước còn
một là doanh nghiệp tư nhân, thì 80% trả lời rằng họ chọn doanh nghiệp nhà
nước. Những lí do chính đưa ra cho sự lựa chọn là họ cho rằng doanh nghiệp
tư nhân không trung thực và thường sự dụng vốn vay sai mục đích; chính
sách chung của ngân hàng là thận trọng đối với doanh nghiệp tư nhân; doanh
nghiệp tư nhân ít có sự ủng hộ của chính phủ; doanh nghiệp tư nhân không
đáng tin cậy và các cán bộ tín dụng đã có những kinh nghiệm xấu đối với
người vay tư nhân. Trên 50% cho rằng ít rủi ro hơn nếu doanh nghiệp nhà
nước vay, lý do chính đáng là doanh nghiệp nhà nước nhận được nhiều sự hậu
thuẫn của chính phủ. Một số khác cho rằng những dự án của nhà nước là quan
trọng đối với đất nước và doanh nghiệp nhà nước có khả năng hơn để thực thi
dự án.

Các nhà cung cấp và khách hàng: của doanh nghiệp tư nhân có quan
niệm tích cực hơn về khối tư nhân so với khối cán bộ tín dụng. Các nhà cung
cấp và khách hàng có quan điểm tích cực trong giao dịch với doanh nghiệp tư
nhân thì cho rằng chất lượng dịch vụ tốt hơn và linh hoạt hơn; còn những
người có thái độ tiêu cực thì cho rằng khả năng tài chính của các doanh
nghiệp tư nhân kém, không đáng tin tưởng và không được chính phủ đảm bảo.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
Thông tin đại chúng: Đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ảnh
hưởng tiêu cực đến quan niệm về những doanh nghiệp tư nhân của những
người được hỏi. Hơn 85% thành viên của tất cả các nhóm nói rằng thông tin
đại chúng là nguồn thông tin về khối tư nhân ở Việt Nam. Khi được hỏi cụ
thể, họ cho rằng: tin tức về những vụ lừa đảo, kinh doanh sai trái, trốn thuế
của doanh nghiệp tư nhân; những bài báo viết về doanh nghiệp “ ma”, tin về
buôn lậu, đút lót của tư nhân, tin về sự phá sản của doanh nghiệp tư nhân, tin
tức về sự đối xử tồi tệ với người lao động của doanh nghiệp tư nhân.
Về phía nhà nước khi thiết lập các chính sách: còn có phần thiên vị đối
với các doanh nghiệp nhà nước so với doanh nghiệp tư nhân. Một số ý kiến
không có sự thông cảm và nghĩ rằng cần phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa khố
tư nhân, cho rằng họ không trung thực, là nguồn gốc của tham những và
không công bằng trong xã hội, và theo logic thì nó dễ đi chệch con đường chủ
nghĩa xã hội. Một số ý kiến khác, nêu ra những bất lợi thế trong lĩnh vực như
đầu tư , đất đai , thuế , kiểm soát xuất nhập khẩu mà doanh nghiệp tư nhân
phải chịu hậu quả.
1.3.2 Nhận thức của các doanh nghiệp tư nhân:
1.3.2.1 Từ giác độ quản lý
- Trong những cuộc điều tra trước đây đối với những nhà sản xuất tư
nhân lớn do MPDF (Me Kong Project Development Facilities) thực hiện cho
thấy rằng họ rất ít hi vọng vào chính phủ, và giữ thái độ trông chừng. Những

nhà sản xuất tư nhân này thấy họ không thể dựa vào sự bảo vệ của chính phủ
đối với những quyền theo luật định đối với doanh nghiệp tư nhân. Lòng tin
của họ về sự cam kết của chính phủ đối với khối tư nhân thường xuyên bị phá
vỡ bởi một sốt trái ngược giữa tuyên bố và chính sách của chính phủ, cũng
như hàng loạt những báo chí. Trong khi sự bảo vệ của chính phủ đối với
doanh nghiệp tư nhân chống lại những quan chức tham những và tuyên truyền
chỉ trích là rất ít.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
- Các doanh nghiệp tư nhân thường bị ám ảnh với lo ngại: nếu kinh
doanh lớn sẽ gặp nhiều rủi ro lớn hơn. Khi các quyết định về kinh tế còn khó
dự đoán được và các thành phần kinh tế tư nhân thường xuyên bị chỉ trích
trên báo chí thì dễ dẫn đến suy nghĩ cho rằng tố hơn hết là đừng có nhô đầu
lên cao, tức là chỉ kinh doanh nhỏ thôi.
- Chi phí cho tham nhũng:
• Việc đòi hỏi những khoản tiền không chính thức cũng là chuyện hay
được nhắc đến. Những người phỏng cấn đã hỏi những câu hỏi đa mục đích về
việc chi phí của các doanh nghiệp cho nạn tham những. Hầu hết các nhà
doanh nghiệp đã hạ thấp tầm quan trọng của tham những, coi đó là một khoản
thuế nhỏ chấp nhận được mà sẽ đem lại lợi ích rõ ràng. Họ thường dùng
những thuật ngữ “ dầu bôi trơn” và “ ngoại giao” để chi cho những khoản đầu
tư này. Nhiều nhà doanh nghiệp nói rằng họ là nguồn tài trợ chính cho việc
khắc phục hậu quả thiên tai tại những thời điểm khó khăn, còn khi thịnh
vượng thì tài trợ cho các cuộc thi hoa hậu. Có doanh nghiệp đã nói hình ảnh
rằng: phải trả lương tháng cho nhân viên thuế là 500000đ, coi đó là việc phải
trả đều đặn những khoản tiền nhỏ cho nhiều quan chức khác nhau.
• Việc chi phí những khoản tiền nhỏ ( phải có sự đồng ý của người quản
lý) là cho hải quan, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân nói rằng họ phải trả nhiều
tiền để đường xếp hàng và gửi hàng. Một chủ doanh nghiệp tư nhân đã chia

các chi phí của mình như sau: Tổng số tiền phải chi trong một năm là 500
triệu đồng, một nửa trả cho cán bộ hải quan. Chị ta gửi 1000 contenor một
năm và mỗi contenor phải trả 250.000đ trong đó 100.000đ cho thanh tra viên
đến doanh nghiệp, 50.000 cho người mở cổng kho cảng và 100.000 cho thanh
tra tại cảng. Hầu như không ai dám tố cáo nhà nước một các cụ thể về việc
này.
•Tham nhũng cũng có tác động tiêu cực tới đầu tư trực tiếp nước ngoài:
phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam đã tiến hành một cuộc nghiên
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
cứu và kết luận cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân đều mất đến một phần
ba thời gian để xin cấp phép từ nhiều bộ phận khác nhau thuộc bộ máy hành
chính. Điều này có thể làm tăng rủi ro đối với đầu tư nước ngoài, đặc biệt là
với đầu tư dài hạn và tài sản cố định.
1.3.2.2 Từ giác độ sản xuất kinh doanh:
Cũng trong cuộc điều tra về các nhà sản xuất của MPDF, chủ các doanh
nghiệp được yêu cầu liệt kê theo thứ tự ba vấn đề ảnh hưởng nhiều nhất đến
công việc kinh doanh hiện tại của họ. Liên quan mật thiết tới khuôn khổ chính
sách là: những chính sách không rõ ràng, hay thay đổi của chính phủ. Theo họ
các quy định của Việt Nam rất thường xuyên bị thay đổi mà không được báo
trước, đồng thời việc các luật và quy định thiếu cụ thể đã tạo điều kiện cho
các cán bộ trung gian lợi dụng.
Khả năng tiếp cận vốn đầu tư hạn chế. Các chủ doanh nghiệp đều có
nhận định chung là những yêu cầu về tài sản thế chấp là trở ngại lớn nhất khi
tiếp cận các khoản vay lớn và dài hạn. Ngoài những đòi hỏi quá cáo về tài sản
thế chấp, trị giá khoản vay thấp, danh mục những tài sản được thế chấp hạn
chế, thì một thực trạng là các doanh nghiệp nhà nước không cần thế chấp
cũng có thể nhận được những khoản vay lớn đã khiến cho phần lớn nguồn tín
dụng khan hiếm hiện có chảy vào các doanh nghiệp nhà nước chứ không phải

tư nhân. Bởi không tiếp cận được tới vốn đầu tư để mua sắm máy móc thiết bị
mới và mở rộng cơ sở, nên rất nhiều doanh nghiệp vẫn chỉ hoạt động với thiết
bị lạc hậu hay những thiết bị không tối ưu trong những nhà máy vô cùng chật
hẹp, nhỏ bé.
Khả năng tiếp cận thông tin kinh doanh hạn chế. Nếu không được tự do
thành lập các hiệp hội tư nhân để đáp ứng những nhu cầu thông tin cụ thể của
các doanh nghiệp thành viên thì các loại thông tin được xử lý về ngành nghề
và thị trường sẽ trở nên khan hiếm. Các chủ doanh nghiệp lo lắng nhất về việc
thiếu thông tin về các thị trường quốc tế, cả thị trường đầu vào và thị trường
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
đầu ra. Một số chủ doanh nghiệp bày tỏ sự thất vọng khi không thể tìm kiếm
được thông tin về người cung cấp hay người tiêu thụ cũng như về giá cả để có
thể củng cố vị thế trước bạn hàng. Phần lớn đều cho rằng chỉ có các doanh
nghiệp nhà nước luôn được ưu tiên tiếp cận những thông tin thực sự giá trí từ
bộ chủ quản.
Nhiều quy định liên quan đến các mặt hoạt động kinh doanh của họ,
song phần nhiều trong số đó rất khó tìm, với nội dung không rõ ràng có thể
hiểu theo nhiều cách, thường xuyên thay đổi và không được thông báo đầy
đủ. Những quy định về thuế và hải quan gây ra nhiều rắc rối nhất. Việc thực
hiện theo các quy định hiên hành gây lãng phí nhiều thời gian và luôn phải rất
thận trọng; trong nhiều trường hợp tiền phạt vi phạm là khá cao. Hoặc tình
trạng hình sự hóa những vị phạm hành chính sx khiến cả các doanh nghiệp và
các cán bộ phải e dè. Các nghị định và tuyên bố cảu nhà nước tuy đều có ý
nghĩa tích cực đối với khu vực tư nhân nhưng nhiều khi chưa đủ cụ thể để có
hiệu lực ở cấp địa phương. Cuối cùng, việc thực thi dựa nhiều vào ý kiến chủ
quan của cán bộ thừa hành chứ không phải theo câu chữ trong luật và do đó
gây ra nhiều rủi ro cho người kinh doanh.
Thủ tục hành chính phức tạp và không rõ ràng. Để có thể đi vào hoạt

động mỗi doanh nghiệp phải xin hàng trăm thứ giấy phép khác nhau, mà theo
thông báo, phần nhiều trong số đó phải xin cấp lại hàng năm. Các giấy phép
đầu tư phải được sự phê duyệt từ 12 bộ khác nhau với nhiều chi tiết như vị trí
số vốn đầu tư, tên của đối tác trong nước, lượng vốn phải nhập khẩu, nhu cầu
nhân sự và phân tích tính khả thi. Tổng hợp các chi tiết đó lại sẽ hạn chế tính
mềm mềm dẻo cần thiết để điều hành một doanh nghiệp có hiệu quả. Ngoài
ra, các doanh nghiệp nước ngoài phải được chấp thuận của ngân hàng nhà
nước cho mỗi khoản vay từ nước ngoài, được quyền sử dụng đất và xử lý đền
bù tái định cư cho những người phải di chuyển. Quá nhiều thủ tục để được
phê duyệt và phải làm lại nếu quy định thay đổi – đã dẫn tới phí tổn cao và sự
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
bất bình của nhà đầu tư. Từ khi có luật doanh nghiệp, những cản trở trên đã
được tháo gỡ khá nhiều, tạo điều kiện cho sự ra đời hàng loạt luật doanh
nghiệp tư nhân. Tuy nhiên trên thực tế, các doanh nghiệp tư nhân vẫn còn gặp
nhiều trở ngại, phiền hà, cần được tiếp tục tháo gỡ.
1.3.3 Tiếp cận thông tin còn hạn chế:
Doanh nghiệp tư nhân thường dễ gặp rủi ro hơn do thiếu thông tin chủ
yếu về sản phẩm, thị trường, công nghệ, xu hướng… có rất ít nguồn thông tin
cập nhập, có chất lượng cao về thị trường ở Việt Nam, và tìm kiếm nguồn
thông tin về tình hình thế giới thì không những tốn kém mà còn quá ít nhà
quản lý biết về tình hình thế giới thì không những tốn kếm mà còn quá ít nhà
quản lý biết được, nên tìm ở đâu. Thông tin kinh tế có thể tin cậy về xu hướng
thị trường trong nước hầu như không có, và nguồn thông tin cũng ko được
sàng lọc để tìm ra những phần phù hợp nhất. Thiếu thông tin có chất lượng
cao về thị trường xuất khẩu dẫn đến sự phụ thuộc vào những tổ chức trung
gian, mà những tổ chức này thường không muốn chia sẻ thông tin thị trường
cho các nhà sản xiaats. Ngoài ra, rào cản về ngôn ngữ hạn chế việc tiếp cận
vác nguồn thông tin ngoài vào Việt Nam, các hạn chế sự giao tiếp với các

khách hàng ngoại quốc.
Một số luồng thông tin quan trọng chỉ chảy vào các doanh nghiệp nhà
nước mà không vào các doanh nghiệp tư nhân. Khi người mua từ nhiều nước
tới Việt Nam tìm đối tác, nhiều hiệp hội thương mại hướng họ tới các doanh
nghiệp nhà nước. Thông tin về các hợp động quan trọng được các bộ và các
doanh nghiệp trực thuộc lưu hành nội bộ và ít khi tiết lộ ra bên ngoài, ở các
chuyến thăm chính thức, tại hội chợ và căn phòng thương mại, doanh nghiệp
tư nhận ít khi được đề cao, và doanh nhận gặp nhiều khó khăn và mất nhiều
thời gian xin cấp hộ chiếu và visa để đi công tác nước ngoài. Nói tóm lại,
phần lớn cơ sở hạ tầng thông tin hiện có được xây dựng để chuyển thông tin
và tạo cơ hội còn nặng về cho các doanh nghiệp nhà nước.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
1.3.4 Tiếp cận các định chế tài chính chính thức của Nhà nước còn
hạn chế.
Các thể chể tài chính. Khu vực ngân hàng ở Việt Nam bao gồm 4 ngân
hàng quốc doanh lớn, chiếm hơn 70% tổng tài sản tài chính trong hệ thống
ngân hàng và mấy chục ngân hàng cổ phần nhỏ thuộc sở hữu chung hoặc sở
hữu tư nhân.
Hầu như các loại hình doanh nghiệp trong khu vực tư nhận không tiếp
cận được với nguồn đầu tư còn rất hạn chế của nhà nước. Đặc biệt đối với các
nhà sản xuất, do ít có các khoản tín dụng dài hạn từ ngân hàng đã làm cho các
doanh nghiệp không thể đầu tư vào thiết bị, nhà xưởng. Thiếu vốn lưu động
làm cho các doanh nghiệp tư nhân bị “ trói buộc” bởi những khách hàng cung
cấp đầu vào, cụ thể như các doanh nghiệp dệt may. Thiếu vốn lưu động cũng
làm sản xuất cầm chừng vì các doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động khi có đơn
đặt hàng.
Các ngân hàng thương mại nhà nước do có sự phân biệt đối xử khi cấp
tín dụng cho khu vực tư nhân( chủ yếu thông qua thế chấp và quy định về sử

dụng đất) và còn ít kinh nghiệp trong việc cấp tín dụng cho các doanh nghiệp
tư nhân nhất là trong phân tích dự án nên tổng số cho vay đối với khu vực
kinh tế tư nhân mặc dù tăng khá nhanh nhưng vẫn còn hạn chế so với nhu
cầu.
Nói tóm lại: Quy mô của tổ chức không tương thích với năng lực quản
lý, nhiều cán bộ quản lý không thể hiện được khả năng vốn có... có thể là
những mối đe dọa đối với tương lai của một công ty. Những hiện tượng nguy
hại này không phải lúc nào cũng nhìn thấy được, nhưng mức độ của nó có thể
khiến tất cả các nhà quản lý phải lo lắng
Cấu trúc doanh nghiệp cần phải được tổ chức chặt chẽ để có thể đảm bảo
việc vận hành thông suốt và hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp thu đuợc lợi nhuận
cao là yên tâm về đường lối và không quan tâm đúng mức đến cấu trúc doanh
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Đức Hiển
nghiệp, rồi để cho các bộ phận bị chồng chéo hay thiếu người quản lý, chịu
trách nhiệm. Đây là nguy cơ tiềm ẩn của nhiều doanh nghiệp cả lớn lẫn nhỏ.
Ngay cả khi doanh nghiệp không có quy mô lớn việc phân tầng rõ ràng và
quy định chặt chẽ cũng vô cùng quan trọng. Đây chính là yêu cầu không thể
thiếu được để các bộ phận hợp tác chặt chẽ với nhau, cùng đôn đốc giám sát.
1.4 Các quan điểm cần quán triệt trong việc thiết lập cơ chế quản lý
tài chính.
Để đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động ổn định và hiệu quả thì vấn đề
đặt ra là phải có cơ chế quản lý phù hợp với mô hình tổ chức, với đặc thù của
nó và với quy định của pháp luật. Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính doanh
nghiệp cần phải quán triệt các quan điểm sau.
1.4.1 Về nhận thức
Về mặt nhận thức cũng như hành động phải thực sự coi việc thiết lập cơ
chế quản lý tài chính doanh nghiệp là công việc cần thiết và bức xúc trong
điều kiện hiện nay.

1.4.2 Về mục đích
- Việc thiết lập cơ chế quản lý tài chính phải tạo khả năng chính cho
doanh nghiệp hoàn thành được các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình,
đồng thời mở rộng phát triển các dịch vụ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà
nước. Đảm bảo cho doanh nghiệp có thu nhập đủ bù đắp các chi phí, bảo toàn
vốn, đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu của khách hàng, phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân.
- Việc thiết lập cơ chế quản lý tài chính phải tạo ra môi trường huy động
vốn thuận lợi nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp trong điều kiện
hiện nay.
- Việc thiết lập cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp phải bao quát mọi
nguồn thu, thu hợp lý đồng thời có cơ chế quản lý chi thích hợp với loại hình
doanh nghiệp.
- Việc thiết lập cơ chế quản lý tài chính doanh nghệp một mặt phù hợp
dưới sự quản lý điều hành của nhà nước nhưng đồng thời có sự phận công,
nhiệm vụ cụ thể rõ ràng đối với hoạt động nội bộ doanh nghiệp trong việc
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Nhung Lớp: TCDN 47A
25

×