Tải bản đầy đủ (.doc) (73 trang)

Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNNN tại Sở Giao Dịch NHNo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (370.49 KB, 73 trang )

Lời Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Nớc ta là một quốc gia giầu tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào nhng nền kinh tế
còn cha phát triển, nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn, công nghiệp còn kém phát triển
so với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Do đó, không có khả năng khai thác đợc hết
những tiềm năng sẵn có của mình. Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, Đất nớc ta đã thu
đợc những kết quả bớc đầu rất khả quan, tạo đợc niềm tin trong nhân dân cũng nh các nhà đầu
t trong và ngoài nớc. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu đến
năm 2010: Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá Đất nớc, tập trung xây dựng và phát
triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, có tính mũi nhọn, xây dựng nền
tảng để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp, hoà nhập vào nền kinh tế
khu vực và trên thế giới để phát triển toàn diện.
Cùng với sự chuyển dịch đó, ngành Ngân hàng trong những năm gần đây đã liên tục đổi
mới về cơ cấu, hoạt động, khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu
đầu t phát triển. Ngành Ngân hàng đã hiểu rõ một điều là nền kinh tế muốn phát triển đợc,
muốn thực hiện đợc công nghiệp hoá - hiện đại hoá Đất nớc thì phải cung cấp vốn cho các
thành phần, các tổ chức kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn trung dài hạn. Với nguồn vốn trung
dài hạn đợc cung ứng hợp lý sẽ tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, đặt nền
móng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển mà Đảng và Nhà nớc đã đề ra.
Việc đổi mới và phát triển các hoạt động của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng, bên
cạnh những mặt đợc thì Ngân hàng còn có những hạn chế: nợ quá hạn, nợ khê đọng khó
đòi là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh của NHTM. Hiệu quả
kinh doanh của NHTM tập trung chủ yếu là hiệu quả của hoạt động tín dụng. Do vậy, vấn đề
mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng, đặc biệt là tín dụng trung dài hạn có ý nghĩa
quyết định đến sự tồn tại, tăng trởng và phát triển của NHTM nói riêng và của nền kinh tế
nói chung.
Qua thời gian thực tập tại chi nhánh NHNo & PTNT Hoàn Kiếm, từ việc nắm bắt tình
hình thực tế của nền kinh tế và tình hình hoạt động của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm, em đã
1
chọn đề tài nghiên cứu: Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung - dài
hạn tại NHNo & PTNT Hoàn Kiếm, với mong muốn góp phần vào sự đổi mới hoạt động


kinh doanh của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm. Nội dung đề tài là một vấn đề rộng và phức tạp
vì vậy bài khoá luận sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong nhận đợc sự
giúp đỡ của các thầy cô, của ban lãnh đạo chi nhánh NHNo & PTNT Hoàn Kiếm và các bạn
sinh viên để bài viết đợc hoàn thiện và có tính thực tiễn hơn.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng của
NHTM trong nền kinh tế thị trờng, đặc biệt quan tâm đến các nhân tố ảnh hởng đến việc mở
rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung - dài hạn. Xem xét thực trạng hoạt động tín dụng
trung - dài hạn của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm mở
rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung - dài hạn của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tín dụng trung - dài hạn.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động tín dụng trung - dài hạn tại NHNo & PTNT Hoàn Kiếm.
4. Phơng pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng chủ yếu là phơng pháp duy vật biện chứng, bên cạnh đó còn kết hợp
với phơng pháp khác: phân tích diễn giải, tổng hợp, thống kê
5. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đợc trình bày thành ba chơng:
Chơng 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng trung - dài hạn của NHTM.
Chơng 2: Thực trạng tín dụng trung - dài hạn tại NHNo & PTNT Hoàn Kiếm.
Chơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung - dài
hạn tại NHNo & PTNT Hoàn Kiếm.

2
Chơng 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng trung - dài
hạn của NHTM
1.1. Tín dụng trung - dài hạn và vai trò của tín dụng trung
- dài hạn trong sự phát triển nền kinh tế.
1.1.1. Khái niệm đặc điểm và vai trò của tín dụng trung - dài hạn.
1.1.1.1. Khái niệm.

Tín dụng trung - dài hạn là các khoản cho vay của Ngân hàng có thời hạn trên
một năm nhng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết của tài sản hình thành
bằng vốn vay.
Ngân hàng cấp tín dụng trung - dài hạn cho khách hàng bằng các hình thức sau:
- Tín dụng theo dự án: Đây là việc Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện các dự án đầu t phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ
đời sống. Trớc khi cho vay, NHTM thờng thẩm định rất kỹ các nội dung của dự án,
đặc biệt là phơng diện tài chính, nhằm hạn chế những rủi ro có thể phát sinh.
- Tín dụng tuần hoàn: Tín dụng tuần hoàn là một hình thức cho vay, trong đó
Ngân hàng cam kết chính thức dành cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong
một thời hạn nhất định. Cam kết này có thể kéo dài từ 1 đến 5 năm.
- Cho thuê tài chính: Thuê mua là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp
đồng tín dụng thuê mua theo đó ngời cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sở
hữu của mình cho ngời đi thuê sử dụng và ngời thuê có trách nhiệm thanh toán tiền
thuê trong suốt thời hạn thuê và có thể đợc quyền sở hữu tài sản thuê, đợc quyền
mua tài sản thuê, hoặc đợc quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã đợc hai bên thoả
thuận. Theo phơng thức này, ngời vay đợc sử dụng tài sản mình cần trên cơ sở đi
thuê, không phải bỏ vốn mua mà chỉ phải trả tiền thuê tài sản cho công ty thuê
mua.
- Cho vay đồng tài trợ: là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ
hai tổ chức tín dụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối,
phối hợp với các bên tài trợ để thực hiện.
3
1.1.1.2. Đặc điểm cơ bản của tín dụng trung - dài hạn.
a. Đặc điểm về pháp lý.
Vốn cho vay thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng, nhng quyền sử dụng vốn
thuộc doanh nghiệp vay vốn và doanh nghiệp vay vốn đợc quyền định đoạt, sử
dụng số vốn trên trong thời gian vay mặt khác, vốn vay trở thành nguồn hình thành
nên tài sản của doanh nghiệp và doanh nghiệp có đầy đủ quyền năng: sở hữu, sử
dụng, định đoạt, đối với tài sản này.

b. Đặc điểm của đối tợng tài sản đầu t.
Tài sản đầu t của tín dụng trung dài hạn có đặc điểm là cần vốn lớn và thời
gian dài nên thu hồi vốn chậm.
Nếu nh tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho tài sản lu động của doanh nghiệp
và đợc hoàn trả bởi kết quả các khoản tiền thu về tơng ứng thì tín dụng trung - dài
hạn tài trợ về nhà xởng, máy móc thiết bị, công cụ lao động của doanh nghiệp nên
vốn đầu t thờng lớn, nguồn trả nợ tín dụng trung - dài hạn chỉ có thể thực hiện cơ
bản bởi khấu hao và lợi nhận trong tơng lai.
Xuất phát từ tính phức tạp của hoạt động đầu t là dài hạn, các công cuộc đầu t
phải trải qua nhiều giai đoạn. Thông thờng mỗi dự án đầu t phải trải qua ba giai
đoạn đó là: Giai đoạn chuẩn bị đầu t, giai đoạn tiến hành đầu t, và giai đoạn vận
hành đầu t. Mỗi giai đoạn phải tiến hành nhiều bớc, để hoàn thành các bớc và các
giai đoạn đó cần phải có thời gian. Tổng thời gian để thực hiện các bớc và các giai
đoạn sẽ làm cho các công cuộc đàu t phải kéo dài.
Từ những đặc điểm của đối tợng tài sản đầu t là những dự án lớn, thời gian dài
nên tín dụng trung - dài hạn có đặc điểm là khối lợng tín dụng thờng lớn và thời
gian thu hồi vốn cũng dài để phù hợp với đối tợng đầu t. Các NHTM không thể cho
vay ngắn hạn đối với dự án đầu t trung - dài hạn, vì nh vậy các dự án mới xây dựng
xong đã phải trả nợ, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải dùng nguồn khác để trả nợ.
Điều đó sẽ ảnh hởng tới chất lợng tín dụng của NHTM.
c. Tín dụng trung - dài hạn có đặc điểm là tính rủi ro cao.
4
Với đặc điểm nêu trên, ta thấy tín dụng trung - dài hạn chịu tác động mạnh của
sự biến động thị trờng, lãi suất. Tín dụng trung - dài hạn có thời gian hoàn vốn dài
và phụ thuộc nhiều vào hiệu hoạt độrng của dự án vay vốn. Hay nói cách khác, tín
dụng trung - dài hạn có tính rủi ro cao. Vì vậy, các NHTM ngoài việc mở rộng cho
vay thì ngày càng phải quan tâm tới chất lợng tín dụng trung- dài hạn nhằm giảm
thiểu tới mức thấp nhất rủi ro do tín dụng trung - dài hạn đem lại.
1.1.1.3. Vai trò của tín dụng trung - dài hạn.
a. Vai trò của tín dụng trung - dài hạn đối với nền kinh tế.

Trong bất kỳ nền kinh tế nào, đã phát triển hay đang phát triển, việc cho vay
trung - dài hạn từ các NHTM cũng giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Từ chính
khái niệm tín dụng trung - dài hạn, có thể thấy, rằng Ngân hàng đã cung cấp vốn
cho các doanh nghiệp để đầu t đổi mới xây dựng nhà xởng, trang thiết bị bằng các
nguồn vốn huy động từ dân c và những nơi thừa vốn. Việc vay vốn trung - dài hạn
từ các Ngân hàng rất đợc các nhà kinh doanh yêu thích vì nó cho phép các nhà
kinh doanh vay vốn kiểm soát toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
đồng thời họ có thể trả nợ sớm hơn khi họ không cần sử dụng đến vốn đó nữa. So
với việc phát hành trái phiếu dài hạn hay cổ phiếu các doanh nghiệp luôn phải chịu
sự kiểm soát của cổ đông và họ phải đối phó với việc trả lãi cổ phiếu hay lãi cổ
phần u đãi khi việc sử dụng vốn của họ có khó khăn hoặc không cần thiết nữa.
Cho vay trung - dài hạn còn là phơng pháp thích hợp trong phát triển nền kinh
tế đa thành phần. Bởi lẽ, đó là hình thức tín dụng đầu t theo chiều rộng nhằm mở
rộng sản xuất, tăng quy mô, tăng năng lực sản xuất kinh doanh, tăng thêm sản l-
ợng, nâng cao chất lợng công trình. Nó rất phù hợp với điều kiện thực tế của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngay cả những công ty lớn cũng thích vay trung - dài
hạn để tránh phát hành cổ phiếu, trái phiếu là những hình thức có thể dẫn đến việc
phân chia quyền lợi kiểm soát công ty. Khi mục tiêu của Đất nớc là phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần thì tất yếu việc cho vay trung - dài hạn phải có giải pháp
từ ba phía: Nhà nớc, Ngân hàng, doanh nghiệp để thực hiện đợc mục tiêu này.
5
Cho vay trung - dài hạn tạo thị trờng sử dụng vốn ngắn hạn, làm kích thích việc
mở rộng sản xuất, đòi hỏi vốn lu động, nâng cao chất lợng sản phẩm, chiếm lĩnh thị
trờng trong và ngoài nớc của các doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp vay vốn trung
- dài hạn có nghĩa là sẽ có một sự đầu t mới vào các trang thiết bị hay nhà xởng làm
sản xuất phát triển. Do sản xuất phát triển thì cần nhiều vốn lu động hơn và thị trờng
vốn ngắn hạn đợc mở rộng theo tốc độ sản xuất.
Cho vay trung - dài hạn để phát triển nền kinh tế theo chiều sâu. Đối với nền
kinh tế kém phát triển thì việc đầu t theo chiều sâu để tăng tính cạnh tranh của hàng
hoá trên thị trờng quốc tế là giải pháp mang tính chiến lợc không chỉ đối với doanh

nghiệp mà đối với cả nền kinh tế Đất nớc. Cho vay trung - dài hạn sẽ là một phơng
pháp để nhà nớc theo chơng trình đầu t mang tính trọng tâm, trọng điểm đối với các
ngành mũi nhọn để xuất khẩu và tạo lợi thế trên thị trờng.
Việc cho vay trung - dài hạn giúp cho sản xuất phát triển theo, giúp cho các
doanh nghiệp tăng thêm thu nhập. Chính vì vậy, ngân sách sẽ tăng lên góp phần
cân đối ngân sách, ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát.
Nh vậy, việc cho vay trung - dài hạn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát
triển nền kinh tế. Nó là nền tảng vững chắc cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá Đất nớc. Chính vì vậy, Nhà nớc cần có chính sách để tạo vốn cũng nh sử dụng
vốn trong hệ thống Ngân hàng để việc cho vay trung - dài hạn của Ngân hàng
đóng góp tích cực vào quá trình chuyển biến của Đất nớc.
b. Vai trò của tín dụng trung - dài hạn đối với các doanh nghiệp.
Nền kinh tế của Đất nớc đã chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền
kinh tế thị trờng. Qua hơn mời năm đổi mới đến nay chúng ta đã nhận thấy đợc
những u điểm lớn của nền kinh tế thị trờng đem lại, từ đó các ngành các doanh
nghiệp đã quán triệt và từng bớc đổi mới về cơ cấu máy móc, hoạt động của mình.
Các doanh nghiệp quốc doanh phần lớn có hệ thống máy móc, dây truyền làm việc
lạc hậu không theo kịp đợc tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện nay. Vì
vậy cần phải từng bớc khôi phục lại bằng cách trang bị lại máy móc, trang thiết bị
6
tiên tiến để làm việc. Việc cho vay trung - dài hạn đối với các doanh nghiệp, cung
cấp vốn cho các doanh nghiệp, có tiềm năng mở rộng sản xuất kinh doanh nhng
thiếu vốn.
Đặc biệt, đối với nền kinh tế các nớc kém phát triển, nhu cầu vay vốn xây dựng
cơ bản là rất lớn, trong lúc các nhà kinh doanh cha tích luỹ đợc nhiều, cha có thời gian
để tích luỹ vốn, tâm lý đầu t trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn rất
hạn chế. Do vậy đầu t trực tiếp vào các doanh nghiệp mới chủ yếu dựa vào vốn tự có
của nhà kinh doanh và bộ phận còn lại dựa vào sự hỗ trợ của hệ thống Ngân hàng. Đối
với nền kinh tế Việt Nam, đẩy mạnh cho vay trung - dài hạn là giải pháp đúng đắn kịp
thời để chuyển hoạt động của các đơn vị quốc doanh từ cơ chế quản lý quan liêu bao

cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh, góp phần tháo gỡ khó khăn, thật sự trao quyền
tự chủ cho các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt. Cùng với nền kinh tế thị tr-
ờng ra đời đã kéo theo sự ra đời của nhiều loại hình doanh nghiệp t nhân, doanh
nghiệp quốc doanh... đợc thành lập, nó phù hợp với hoạt động của nền kinh tế thị tr-
ờng, các doanh nghiệp này làm ăn tốt, có hiệu quả cần có sự cung ứng vốn của Ngân
hàng đặc biệt là vốn trung - dài hạn.
Nh vậy, vốn trung - dài hạn thực sự cần thiết đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh và doanh nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế của nớc ta. Hiện nay, hệ thống
Ngân hàng cần có giải pháp nhanh chóng để mở rộng nguồn vốn này đáp ứng kịp thời
nhu cầu.
c. Vai trò tín dụng trung - dài hạn đối với bản thân hệ thống Ngân hàng.
Hoạt động chính của Ngân hàng là đi vay để cho vay nhằm mục đạt đợc mục
tiêu xã hội và mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động trong cơ chế kinh tế thị trờng là hoạt
động trong môi trờng cạnh tranh gay gắt. Để có thể đứng vững đòi hỏi mỗi Ngân
hàng phải thực sự quan tâm tới việc mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng của
mình. Chính vì vậy hoạt động tín dụng đợc xem là thực sự cần thiết để nâng tính
cạnh tranh của Ngân hàng. Hơn nữa, khi nền kinh tế phát triển, tín dụng ngắn hạn
phải thực sự xuất phát từ chính việc nâng cao khả năng sản xuất của doanh nghiệp
7
tức là liên quan đến tín dụng trung- dài hạn, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hoá
hiện đại hoá. Do vậy, các Ngân hàng rất quan tâm tới nghiệp vụ tín dụng trung- dài
hạn của mình. Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trờng đang vận động
trong điều kiện nền kinh tế mở với nhu cầu mở rộng quy mô, trang bị cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, đổi mới toàn bộ nền kinh tế cho thấy nhu cầu về
vốn trung - dài hạn là rất cần thiết và quan trọng, nguồn vốn này tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp đổi mới kỹ thuật, trang bị công nghệ mới, phơng pháp sản xuất
mới, để sản xuất ra hàng hoá mới. Ngân hàng cần phải nắm bắt đợc tình hình thực
tế của nền kinh tế và nhiệm vụ của Ngân hàng là phải mở rộng, tăng cờng tín dụng
trung - dài hạn đáp ứng yêu cầu thiết yếu của nền kinh tế. Đây là điều kiện để mở
rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình

trong nền kinh tế thị trờng.
Chính vì vậy, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đóng góp tích cực vào sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá Đất nớc thông qua việc nâng cao tỷ trọng cho
vay trung - dài hạn của mình. Hệ thống Ngân hàng nâng tỷ trọng cho vay trung -
dài hạn đối với nền kinh tế nh vậy đã thể hiện sự lớn mạnh rõ rệt sau những năm
triền miên trong thời kỳ bao cấp. Và vì vậy mỗi Ngân hàng cần chú ý và coi trọng
loại hình tín dụng này là một chiến lợc để phát triển do tính cạnh tranh gay gắt của
nền kinh tế thị trờng. Hơn nữa, do tính đa dạng về hình thức số lợng và ngày càng
lớn mạnh về quy mô chất lợng của hệ thống Ngân hàng nớc ta nên Ngân hàng nào
có đáp ứng đợc nhu cầu về vốn trung - dài hạn thì Ngân hàng đó có cơ hội để phát
triển. Và nhất là trong giai đoạn hiện nay, điều này đã trở thành mục tiêu chiến lợc
của Ngân hàng.
1.1.2. Nội dung cơ bản của mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung - dài
hạn của NHTM.
1.1.2.1. Quan niệm về mở rộng và nâng cao chất l ợng tín dụng trung - dài hạn của NHTM
Hoạt động tín dụng nói chung, đặc biệt là tín dụng trung dài hạn nói riêng, là
một nghiệp vụ chủ yếu đem lại lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn của các ngân hàng th-
8
ơng mại. Vì vậy các ngân hàng thơng mại đều đặc biệt quan tâm chú trọng đến
hoạt động mở rộng cho vay trung dài hạn để tăng lợi nhuận. Hoạt động mở rộng
tín dụng trung dài là sự thể hiện ở quy mô, phạm vi và đối tơng cho vay. Qua đó ta
có thể nhìn nhận đánh giá hoạt động mở rộng tín dụng trung dài hạn của một
ngân hàng thơng mại qua thông số tuyệt đối và tơng đối.
Thông số tuyệt đối của hoạt động mở rộng tín dụng trung dài hạn là tăng số d
của khoản mục này trong bảng cân đối kế toán so với kỳ trớc, điều đó đòi hỏi phải
tăng số lợng các dự án đầu t hay mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi quy trình công
nghệ, tăng doanh số cấp tín dụng lớn hơn tăng số thu hồi tín dụng trung dài hạn.
Thông số tơng đối của hoạt động mở rộng tín dụng trung dài hạn là tăng tỷ
trọng d nợ tín dụng trung dài hạn trong tổng d nợ và đầu t của hệ thống ngân hàng,
làm thay đổi cơ cấu hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo hớng tăng hoạt động

tín dụng trung dài hạn.
Mức d nợ tín dụng trung dài hạn về con số tuyệt đối và tơng đối tăng cao là
mục tiêu phấn đấu của tất cả các ngân hàng thơng mại nhng không vì thế mà các
ngân hàng bỏ qua chất lợng của các khoản vay này, ngợc lại họ đặc biệt chú trọng,
quan tâm về chất lợng và thờng họ tiến hành thẩm định kiểm tra rất kỹ lỡng khi cấp
một khoản tín dụng trung dài hạn, nếu không khoản cho vay đó có thể sẽ gặp rủi ro
cao ảnh hởng đến lợi nhuận và kết quả kinh doanh.
Vì vậy, chất lợng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu hợp lý của khách hàng có lựa
chọn đồng thời thúc đẩy tăng trởng kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại phát triển
của Ngân hàng. Chất lợng tín dụng trung - dài hạn là chất lợng các món vay có thời
hạn trên một năm, đợc đánh giá là có chất lợng tốt khi vốn vay đợc khách hàng sử
dụng đúng mục đích phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả
đảm bảo trả nợ Ngân hàng đúng hạn, vừa bù đắp đợc chi phí và lợi nhuận. Xét về
tổng thể, Ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế vừa đem lại hiệu quả xã hội.
Từ khái niệm trên chúng ta thấy khách hàng, bối cảnh kinh tế xã hội và
NHTM đều là ba nhân tố đợc tính đến khi xem xét về chất lợng hoạt động tín dụng
9
trung - dài hạn. Việc xem xét chất lợng hoạt động tín dụng trung - dài hạn nếu chỉ
xuất phát từ một hoặc hai nhân tố là không đầy đủ, phiến diện vì cả ba nhân tố này
trong vận động thực tiễn đều có tác dụng qua lại hoặc thúc đẩy hoặc kiềm chế lẫn
nhau, gây ảnh hởng tích cực hay tiêu cực đến chất lợng tín dụng trung - dài hạn. Vì
thế chúng ta xem xét chất lợng tín dụng trung - dài hạn trên từng giác độ.
Thứ nhất: Xét từ giác độ khách hàng:
Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu khách hàng sẽ giúp Ngân
hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của khách hàng từ đó tiếp cận tìm cách thoả mãn
nhu cầu của họ. Trong bất cứ nền kinh tế cạnh tranh nào, doanh nghiệp muốn đứng
vững thì việc quan tâm tới chất lợng là điều thiết yếu, vừa thoả mãn nhu cầu khách
hàng vừa tạo điều kiện cho họ nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị trờng. Đối với khách
hàng, chất lợng tín dụng là sự thoả mãn yêu cầu hợp lý (ngời vay vốn) với lãi suất
hợp lý, thủ tục đơn giản đảm bảo thu hút khách hàng nhng vẫn tuân thủ đúng

những quy định của tín dụng phù hợp với tốc độ tăng trởng kinh tế xã hội, góp
phần lành mạnh tài chính doanh nghiệp, cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh
và duy trì sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
Thứ hai: Chất lợng hoạt động tín dụng trung - dài hạn xét từ giác độ kinh tế xã hội.
Trong những năm gần đây, hoạt động tín dụng trung - dài hạn phản ánh rõ nét
sự tác động đối với nền kinh tế. Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc
làm cho ngời lao động, tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trởng kinh
tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nớc, vừa tranh thủ vốn vay nớc ngoài
phục vụ phát triển kinh tế.
Thứ ba: Xét từ giác độ Ngân hàng.
Chất lợng tín dụng trung - dài hạn thể hiện ở phạm vị mức độ, giới hạn tín
dụng phải phù hợp với khả năng thực lực theo hớng tích cực của bản thân Ngân
hàng và phải đảm bảo đợc sự cạnh tranh trên thị trờng, tuân thủ nguyên tắc hoàn
trả đúng hạn và có lãi. Chất lợng hoạt động tín dụng trung - dài hạn phải thể hiện ở
10
chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý, đảm bảo cơ cấu
nguồn vốn giữa ngắn - trung - dài hạn trong nền kinh tế.
Qua đó có thể rút ra:
Chất lợng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ tiêu có
thể tính toán đợc nh kết quả kinh doanh, nợ quá hạn ) vừa trừu t ợng (thể hiện qua
khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế ) và khách quan (theo sự
thay đổi của môi trờng bên ngoài). Khuynh hớng phát triển của nền kinh tế, sự thay
đổi các yếu tố thị trờng, môi trờng pháp lý nhìn chung đều ảnh hởng tới chất lợng
tín dụng.
- Chất lợng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi
của NHTM và sự thay đổi của môi trờng bên ngoài, thể hiện sức mạnh của một
Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
- Chất lợng tín dụng tín dụng đợc xác định qua nhiều yếu tố: thu hút khách
hàng tốt thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng, chi phí tổng
thể về lãi suất, chi phí nghiệp vụ.

-Chất lợng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy trình kết
hợp hoạt động giữa con ngời trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau vì một mục
đích chung. Do đó để đạt đợc chất lợng cần có sự quản lý khoa học chặt chẽ.
1.1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng và nâng cao chất l ợng tín dụng trung - dài hạn.
Việc mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung dài hạn mang tính hai
mặt của một vấn có mối quan hệ tơng hỗ chặt chẽ với nhau, hoạt động mở rộng
phải luôn gắn liền với chất lợng của các khoản tín dụng. Để quản lý việc mở rộng
và nâng cao chất lợng tín dụng trung - dài hạn đòi hỏi phải hiểu rõ ràng các chỉ tiêu
đánh giá chất lợng tín dụng trung - dài hạn. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh một
cách khách quan, khoa học và toàn diện về chất lợng tín dụng trung - dài hạn bao
gồm:
a. Chỉ tiêu định tính.
Hoạt động mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng nói chung và tín dụng
trung - dài hạn nói riêng là một chỉ tiêu tổng hợp đợc đánh giá trên quan điểm cụ
11
thể: Ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế. Các chỉ tiêu định tính đánh giá mở
rộng và nâng cao chất lợng tín dụng Ngân hàng chỉ là căn cứ đánh giá một cách
khái quát.
- Trớc hết hoạt động và nâng cao chất lợng tín dụng của một Ngân hàng
phụ thuộc vào uy tín của Ngân hàng đó.
Nếu một NH có uy tín nó sẽ có khả năng thu hút đợc nhiều khách hàng hơn.
Và nếu một Ngân hàng có đội ngũ khách hàng đông đảo và là các doanh nghiệp
làm ăn có uy tín thì đó là một trong những dấu hiệu chất lợng tín dụng khả quan, từ
đó cũng làm cho hoạt động mở rộng tín dụng trung dài hạn đợc thuận lợi.
Vấn đề mở rộng và chất lợng tín dụng còn thể hiện ở khả năng đáp ứng tốt
nhu cầu vốn của khách hàng ở chỗ thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn
nhanh chóng kịp thời nhng vẫn đảm bảo những nguyên tắc an toán tối thiểu. Tuy
nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế cạnh tranh gay gắt và nhiều biến động thì
các Ngân hàng phải năng động hơn nữa thì mới có thể mong đợi đợc hoạt động mở
rộng và chất lợng tín dụng tốt. Vì vậy, Ngân hàng thực sự phải là ngời bạn của

doanh nghiệp sẵn sàng giúp đỡ, t vấn, cung cấp thông tin Điều đó giúp cho doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quả đông thời Ngân hàng cũng tránh đợc rủi ro đảm bảo
hiệu quả kinh doanh của mình.
-Yêu cầu thứ hai để có sự mở rộng và chất lợng tín dụng tốt phải đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
Điều này không chỉ phụ thuộc vào Ngân hàng mà phụ thuộc rất lớn vào
doanh nghiệp vay vốn. Một khoản tín dụng chỉ có thể coi là hiệu quả khi các
nguyên tắc cho vay đợc tuân thủ triệt để. Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tín
dụng vừa là điều kiện cần thiết cho việc mở rộng, vừa là biểu hiên của chất lợng
tín dụng tốt. Sử dụng vốn vay đúng mục đích cùng với sự nhạy bén trong kinh
doanh của doanh nghiệp và sự hiệu quả trong đánh giá của Ngân hàng tạo điều
kiện để doanh nghiệp đạt đợc kết quả cao trong kinh doanh là tiền đề thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ trả nợ dảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
12
- Một yêu cầu nữa đặt ra với hoạt động tín dụng là phải đóng góp vào sự
tăng trởng và phát triển kinh tế xã hội của vùng địa phơng và của quốc gia.
Điều này là hệ quả tất yếu khi cả doanh nghiệp và Ngân hàng hoạt động có
hiệu quả. Nó biểu hiện ở sự ổn định của nền tài chính - tiền tệ quốc gia, nâng cao
năng lực sản xuất công nghệ cho doanh nghiệp, giải quyết công ăn việc làm, tăng
thu nhập nâng cao mức sống dân c. Tuy nhiên khi đánh giá tiêu thức này cần căn
cứ vào từng trờng hợp, từng thời kỳ chứ không có một tiêu chuẩn chung cho tất cả
các trờng hợp.
b. Chỉ tiêu định lợng.
Để có kết luận đánh giá chính xác về việc mở rộng và nâng cao chất lợng tín
dụng cần dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu liên quan đến Ngân hàng và doanh
nghiệp. Còn các chỉ tiêu liên quan đến nền kinh tế rất khó có thể đo lờng tác động
cụ thể đến sự phát triển chung, nên trong thực tế chủ yếu sử dụng chỉ tiêu dịnh l-
ợng nh sau:
* Về phía Ngân hàng:
Chỉ tiêu về doanh số và tốc độ tăng nhanh số cho vay trung - dài hạn: Doanh số

cho vay thể hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động tín dụng trung - dài hạn, còn tốc
độ tăng nhanh doanh số thể hiện khả năng mở rộng quy mô cho vay qua từng thời
kỳ. Các chỉ tiêu này cao đánh giá hoạt động mở rộng tín dụng trung dài hạn tốt nh-
ng chỉ là điều kiện cần chứ cha đủ khẳng định chất lợng tín dụng.
Chỉ tiêu về d nợ: D nợ cho vay trung dài hạn
Tổng d nợ cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô, tỷ trọng cho vay trung dài hạn so với tổng
d nợ cho vay của Ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao, ngày càng tăng chứng tỏ rằng
Ngân hàng chú trọng tới việc cho vay trung dài hạn là một hoạt động mang lại
thu nhập khá lớn. Tuy nhiên, do đặc điểm thời gian hoàn vốn chậm nên tuỳ thuộc
vào cơ cấu về nguồn vốn, khă năng quản lý, trình độ chuyên môn của từng Ngân
hàng đề xác định tỷ lệ này cho phù hợp. Song tỷ lệ này cao cũng có thể là do hậu
13
quả của công tác thu nợ không đợc thực hiện tốt. Bên cạnh đó tỷ lệ này còn đợc
đánh giá trên cơ sở chấp hành tỷ lệ cho vay tối đa với tín dụng trung - dài hạn của
NHNo ở từng thời kỳ (hiện nay quy định từ 25% - 30%).

D nợ cho vay trung - dài hạn
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh tơng quan so sánh về quy mô cho vay trung dài hạn
so với tổng tài sản của Ngân hàng, đồng thời cho phép đánh giá tính hợp lý trong
cơ cấu sử dụng vốn của Ngân hàng. Tỷ lệ này cao thể hiện khả năng mở rộng tín
dụng trung dài hạn tốt chứng tỏ Ngân hàng có tiềm năng dồi dào về nguồn vốn
trung dài hạn, quản lý các khoản cho vay tốt đảm bảo an toàn.
Chỉ tiêu quay vòng vốn:
Doanh số thu nợ trung dài hạn
D nợ trung dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này tăng trởng qua từng thời kỳ thì chứng tỏ hoạt động cho vay của
Ngân hàng đang gặp thuận lợi về thu nợ để có thể tiếp tục cho vay dự án mới, hoạt
động cho vay đang đợc mở rộng về quy mô, nguồn vốn trung dài hạn mà Ngân

hàng đầu t hoạt động có hiệu quả. Ngợc lại, chỉ tiêu này thấp chứng tỏ công tác thu
nợ đang gặp khó khăn hoặc do doanh số cho vay giảm, hoặc cả hai dẫn đến chất l-
ợng tín dụng không tốt.
Chỉ tiêu đánh giá tình trạng nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đề đánh giá chất lợng
tín dụng của Ngân hàng, nó phản ánh những rủi ro mà Ngân hàng phải đối mặt,
gây ảnh hởng đến hoạt động mở rộng tín dụng trung dài hạn. Để đánh giá một cách
kỹ lỡng hơn ngời ta chia nợ quá hạn ra thành các loại nợ quá hạn có khả năng thu
hồi, nợ quá hạn khó đòi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi. Căn cứ để phân
chia các loại nợ quá hạn chủ yếu dựa vào các tiêu thức sau: Thời gian nợ quá hạn,
14
nguyên nhân gây ra nợ quá hạn, uy tín của doanh nghiệp vay vốn, khả năng phát
mại của các tài sản cầm cố thế chấp
Chỉ tiêu 1: Nợ quá hạn của tín dụng trung - dài hạn
Tổng d nợ tín dụng trung - dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn trong cho vay trung
dài hạn. Tỷ lệ này càng thấp càng tốt, tỷ lệ này càng cao chứng tỏ Ngân hàng đang
gặp nhiều rủi ro. Thực tế rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi nên Ngân
hàng thờng chấp nhận một tỷ lệ nợ quán hạn nhất định đợc coi nh giới hạn an
toàn. Theo ý kiến của một số chuyên gia thì tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng d nợ nhỏ hơn
3% có thể chấp nhận đợc.
Chỉ tiêu 2: Nợ quá hạn khó đòi trung dài hạn
Tổng d nợ trung dài hạn
Chỉ tiêu 3: Nợ quá hạn trung - dài hạn không có khả năng thu hồi
Tổng d nợ trung dài hạn
Những khoản nợ quá hạn cha phản ánh chân thực và đầy đủ chất lợng tín dụng
của Ngân hàng do vậy cần phải dùng thêm hai chỉ tiêu 2 và 3. Nếu hai chỉ tiêu này
ở mức thấp thì dù chỉ tiêu một có cao cũng cha phải là cái gì đó quá tồi tệ đối với
các khoản tín dụng trung - dài hạn của Ngân hàng . Ngợc lại, hai chỉ tiêu này ở
mức cao, nhất là ở chỉ tiêu 3 thì rõ ràng hoạt động của Ngân hàng đang gặp rủi ro

tuy có thể cha đe doạ tới sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng song rõ ràng là chất
lợng tín dụng trung - dài hạn trong trờng hợp này là rất lo ngại,cản trở hoạt động
mở rộng.
Nợ quá hạn khó đòi là những khoản nợ ít có cơ hội nhng còn hy vọng đòi đợc, còn
nợ không có khả năng thu hồi thì cũng đồng nghĩa với mất vốn. Chính vì vậy để
đánh giá chính xác cần sử dụng cả ba chỉ tiêu trên.
Chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận:
Hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều hớng mục
tiêu là lợi nhuận, NHTM cũng không phải là ngoại lệ. Cho dù NHTM với t cách là
15
trung gian tài chính, giữ vai trò đòn bẩy thúc đẩy phát triển kinh tế, chú ý tới hiệu
quả xã hội nhng lợi nhuận vẫn là điều kiện cần thiết đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của Ngân hàng do đó không thể bỏ qua. Chất lợng tín dụng không thể nói là
cao nếu lợi nhuận hoạt động này mang lại thấp.
Lợi nhuận thu đợc từ hoạt động tín dụng trung - dài hạn
Tổng d nợ trung dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trung - dài hạn
của Ngân hàng. Cho biết một đồng d nợ trung - dài hạn mang lại bao nhiêu đồng
lợi nhuận. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận từ hoạt động trung - dài hạn
mang lại càng lớn, đó là một trong những nhân tố tạo nên chất lợng tín dụng tốt
của Ngân hàng tạo thuận lợi cho hoạt động mở rộng tín dụng trung dài hạn.
Lợi nhuận thu đợc từ hoạt động tín dụng trung - dài hạn
Tổng lợi nhuận Ngân hàng
Cho phép đánh giá mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng trung - dài hạn
vào toàn bộ kết quả kinh doanh của Ngân hàng. Tỷ lệ này cao chứng tỏ vị thế của
hoạt động cho vay trung - dài hạn. Đó là những nhân tố tạo ra hoạt động mở rông
và chất lợng tín dụng tốt.

* Về phía doanh nghiệp:
Các chỉ tiêu thờng đợc sử dụng để đánh giá chất lợng của khoản tín dụng xét

theo quan điểm doanh nghiệp bao gồm:
- Mức tăng năng suất lao động nhờ thực hiện dự án.
- Doanh thu tăng từ dự án.
- Lợi nhuận tăng từ dự án.
Các chỉ tiêu này càng cao càng tốt, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn vay của
doanh nghiệp đạt mức cao. Đó là tiền đề để doanh nghiệp thực hiện đúng cam kết
16
trả nợ cho Ngân hàng đồng thời bản thân doanh nghiệp cũng có lợi nhuận đóng
góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
Tóm lại, việc mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng nói chung và chất lợng
tín dụng trung - dài hạn nói riêng là một khái niệm tổng hợp vừa mang tính cụ thể
vừa mang tính trừu tợng. Nó đợc biểu hiện thông qua nhiều chỉ tiêu liên quan đến
nhiều chủ thể (doanh nghiệp, Ngân hàng, nền kinh tế). Các chỉ tiêu đó có thể là chỉ
tiêu định lợng hay định tính, có mối liên hệ phụ thuộc hay bổ sung lẫn nhau và
cũng có thể mâu thuẫn lẫn nhau. Do đó, để đánh giá một cách chính xác toàn diện
hoạt động mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung - dài hạn thì phải đánh giá
toàn bộ các chỉ tiêu đó trong một hệ thống trên quan điểm của Ngân hàng, doanh
nghiệp, nền kinh tế. Đồng thời phải căn cứ vào từng trờng hợp cụ thể có sự u tiên
chỉ tiêu này hay chỉ tiêu khác chủ thể này hay chủ thể khác.
1.1.3. Nhân tố ảnh hởng tới việc mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung
- dài hạn.
Nh đã phân tích ở trên, việc mở rộng và chất lợng tín dụng trung - dài hạn là
một khái niệm tổng hợp liên quan tới nhiều chủ thể, nhiều lĩnh vực khác nhau và đ-
ợc đánh giá theo quan điểm của Ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế. Chính vì
vậy, việc mở rộng và chất lợng tín dụng trung - dài hạn tốt hay xấu là phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố. Muốn có giải pháp hữu hiệu đề tạo điều kiện cho sự thanh
công của hoạt động tín dụng nói chung cũng nh tín dụng trung - dài hạn nói riêng,
vấn đề cơ bản đặt ra là chúng ta phải nắm vững các nhân tố ảnh hởng tới tín dụng
trung - dài hạn và phải biết vận dụng sáng tạo sự ảnh hởng của các nhân tố này
trong hoàn cảnh thực tế. Có nhiều nhân tố ảnh hởng tới việc mở rộng và chất lợng

tín dụng trung - dài hạn nhng tựu chung lại để thuận tiện cho việc nghiên cứu ngời
ta thờng chia các nhân tố thành ba nhóm nh sau:
1.1..3.1 Nhóm nhân tố thuộc phía Ngân hàng.
* Quy mô và cơ cấu kỳ hạn của nguồn vốn.
17
Muốn cho vay đợc thì điều kiện trớc tiên là Ngân hàng phải có nguồn vốn, nh-
ng do yêu cầu phải đảm bảo khả năng thanh toán thờng xuyên nên các khoản cho
vay trung - dài hạn của Ngân hàng chủ yếu lấy từ nguồn vốn trung - dài hạn có
thời hạn trên một năm và các nguồn vốn huy động có thời hạn dới một năm nhng
có tính ổn định cao trong thời gian dài. Các nguồn vốn mà NHTM có thể sử dụng
để cho vay trung dài hạn bao gồm: Nguồn vốn tự có của Ngân hàng, vốn vay
trung - dài hạn trong và ngoài nớc, vốn huy động trung - dài hạn, vốn uỷ thác, một
bộ phận nhất định của vốn huy động ngắn hạn. Quy mô các nguồn vốn này là nhân
tố quy mô cho vay trung - dài hạn, tạo lập uy tín với khách hàng nhờ đó thu hút đ-
ợc nhiều khách hàng hơn và do đó ảnh hởng tới mở rộng và chất lợng tín dụng
trung dài hạn của Ngân hàng.
* Năng lực của Ngân hàng trong việc thẩm định tín dụng.
Một trong những tiêu chí để đánh giá hoạt động mở rộng và nâng cao chất lợng tín
dụng của Ngân hàng là vốn và lãi vay đợc hoàn trả đúng kỳ hạn. Điều này sẽ
không thể có đợc nếu việc thực hiện dự án không đạt hiệu quả nh mong muốn,
doanh nghiệp cố tình lừa đảo Ngân hàng. Để hạn chế nguy cơ đó Ngân hàng cần
thực hiện tốt công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng. Thẩm định là khâu
phức tạp nhất mà các cán bộ tín dụng thờng gặp những khó khăn và thờng xuyên
có sai sót. Thông thờng công tác thẩm định khách hàng trớc hết chủ yếu xem xét
các mặt: Khả năng tài chính, khả năng quản lý điều hành kinh doanh, năng lực sản
xuất kinh doanh mức độ tín nhiệm Sau đó xem xét dự án đầu t để có quyết định
cho vay hay không. Vấn đề đặt ra ở đây là các thủ tục và các điều kiện, tiêu chuẩn
đợc sử dụng làm căn cứ đánh giá khách hàng và dự án đầu t có hợp lý không. Nếu
tiêu chuẩn điều kiện quá khắt khe thủ tục rờm rà không phù hợp với thực tiễn dẫn
tới có ít doanh nghiệp đảm bảo thoả mãn đợc yêu cầu, gây trở ngại cho Ngân hàng

trong việc thu hút khách hàng, mở rộng tín dụng. Ngợc lại, sẽ khiến cho Ngân
hàng sai lầm trong việc ra quyết định cho vay dẫn đến rủi ro tín dụng gây ảnh hởng
xấu tới chất lợng tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng phải không ngừng cải tiến công tác
18
thẩm định. Làm nh vậy sẽ giúp cho Ngân hàng lựa chọn chính xác những khách hàng
thực sự tin cậy, những dự án thực sự khả thi và đó là tiền đề để mở rộng và nâng cao
chất lợng tín dụng của Ngân hàng.

* Năng lực giám sát và xử lý các tình huống tín dụng của Ngân hàng.
Cho dù công tác thẩm định đợc tiến hành tốt, song cha đảm bảo chắc chắn để
có đợc chất lợng tín dụng cao đặc biệt với tín dụng trung - dài hạn. Bởi vì hoạt
động sản xuất kinh doanh trong thời gian dài luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn
cha thể lờng trớc. Chính vì vậy, mà công tác giám sát và xử lý các tình huống tín
dụng sau khi cho vay có ý nghĩa quan trọng. Hoạt động giám sát chủ yếu tập trung
vào một số vấn đề sau: Sự tuân thủ đúng mục đích sử dụng vốn, tình hình hoạt
động thực tiễn của dự án, tiến độ trả nợ, quá trình sử dụng, bảo quản và sự biến
động tài sản của doanh nghiệp, những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dự
án. Làm tốt công tác này giúp Ngân hàng ngăn chặn kịp thời những biểu hiện tiêu
cực của doanh nghiệp đồng thời giúp đỡ doanh nghiệp thông qua việc cung cấp
những lời khuyên, thông tin bổ ích, kịp thời hoặc trực tiếp giúp đỡ doanh nghiệp
khi gặp khó khăn bằng cách điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ, cho vay thêm nhằm
giúp doanh nghiệp thực hiện dự án đạt hiệu quả cao nhất. Qua đó góp phần mở
rộng và nâng cao chất lợng tín dụng của Ngân hàng.
* Chính sách tín dụng của Ngân hàng.
Là hệ thông các biện pháp tín dụng của NHTM liên quan đến việc khuyếch tr-
ơng hoặc hạn chế tín dụng nhằm đạt đợc các mục tiêu của Ngân hàng trong từng
thời kỳ. Với ý nghĩa nh vậy rõ ràng chính sách tín dụng có tác động rất lớn đến
việc mở rộng và chất lợng tín dụng của Ngân hàng. Chính sách tín dụng của Ngân
hàng đợc xây dựng trên cơ sở căn cứ vào quy mô, tính chất nguồn vốn của Ngân
hàng; trình độ khả năng kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ Ngân hàng; chính sách

19
kinh tế của Nhà nớc; chu kỳ phát triển của nền kinh tế. Từ đó Ngân hàng sẽ xây
dựng đợc chính sách tín dụng với nội dung hợp lý đảm bảo sự an toàn, tránh rủi ro
trong hoạt động kinh doanh. Nếu chính sách tín dụng đợc xây dựng và thực hiện
một cách khoa học, chặt chẽ kết hợp hài hoà lợi ích của Ngân hàng, của khách
hàng và của xã hội thì sẽ hứa hẹn một sự mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng
tốt và ngợc lại.
* Thông tin tín dụng
Mọi thông tin chính xác, kịp thời về dự án về khách hàng luôn giúp cho Ngân
hàng đa ra quyết định tín dụng có chất lợng cao. Một khoản cho vay ra rồi cũng
luôn đợc cán bộ tín dụng theo dõi khi đó cần có thông tin kịp thời chính xác để
Ngân hàng có phơng hớng giải quyết cho phù hợp với thực tế.
* Công nghệ Ngân hàng, trang thiết bị kỹ thuật.
Đây cũng là một nhân tố tác động đến mở rộng và chất lợng tín dụng trung
dài hạn nhất là trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển nh vũ bão hiện nay. Với
công nghệ, trang thiết bị hiện đại sẽ tạo điều kiện đơn giản hoá các thủ tục, rút ngắn
thời gian giao dịch đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng, thu thập thông tin
nhanh chóng chính xác hơn, lập kế hoạch xây dựng chính sách tín dụng có hiệu quả
hơn. Nh vậy, trang thiết bị công nghệ cũng là một trong những nhân tố không thể
thiếu đợc để không ngừng mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng.

* Chất lợng nhân sự và quản lý nhân sự của Ngân hàng.
Cho dù khoa học kỹ thuật hiện đại đã mở ra cơ hội tự động hoá trong nhiều
lĩnh vực, song nhân tố con ngời vãn luôn giữ vai trò quyết định. Đặc biệt hoạt động
tín dụng Ngân hàng là hoạt động rất phức tạp, có liên quan tới nhiều vấn đề đời
sống xã hội thì vai trò con ngời ngày càng cao. Các phơng tiện kỹ thuật không thể
thay thế kinh nghiệm hay sự nhạy cảm của cán bộ tín dụng.
20
Chất lợng nhân sự không đơn thuần là trình độ chuyên môn mà cả ở lơng tâm,
đạo đức tác phong kỷ luật lao động của cán bộ tín dụng. Chất lợng nhân sự biểu

hiện ở sự năng động sáng tạo trong công việc có tinh thần trách nhiệm có ý thức kỷ
luật cao, ý thức tự chủ để vợt qua những cám dỗ, những lợi ích vật chất tác động
đến tâm lý của cán bộ tín dụng trong một chừng mực nhất định cũng có thể giúp
Ngân hàng bù đắp những hạn chế về công nghệ kỹ thuật đề tồn tại và phát triển.
Muốn phát huy đợc thế mạnh và hạn chế điểm yếu của cán bộ tín dụng trớc hết
phải tạo ra môi trờng kinh doanh có văn hoá, tăng cờng trang bị kiến thức, nhận
thức cho cán bộ bằng các quy chế, chính sách, quy trình ngày càng ngày càng hoàn
thiện, thực hiện mô tả công việc đến từng cán bộ, kiểm tra đánh giá thờng xuyên
kết quả công việc và có chế độ đãi ngộ hợp lý, kịp thời tạo sự phối hợp nhịp nhàng
hoạt động của từng thành viên trong một guồng máy có thống nhất hớng tới mục
tiêu chung là mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng của Ngân hàng, đặc biệt là
tín dụng trung - dài hạn.
1.1.3.2. Nhóm nhân tố thuộc phía khách hàng.
* Nhu cầu đầu t của doanh nghiệp.
Bất kỳ loại hàng hoá hay dịch vụ nào muốn tiêu thụ đợc phải có ngời mua, tín
dụng Ngân hàng cũng vậy. Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế thì nhu cầu vốn
trung dài hạn cho đầu t phát triển là luôn cần thiết, nhng với từng NHTM thì
không phải lúc nào cũng vậy. Do số lợng doanh nghiệp quan hệ với Ngân hàng là
có hạn, nhu cầu đầu t của các doanh nghiệp không cao chẳng hạn trong giai đoạn
doanh nghiệp gặp khó khăn thu hẹp sản xuất. Lúc đó nhu cầu vốn trung dài hạn
của doanh nghiệp sẽ không cao, Ngân hàng khi đó sẽ gặp khó khăn trong việc mở
rộng tín dụng.


Khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn
cuả Ngân hàng.
Để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro khi cho vay NHTM thờng đặt ra những điều
kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại cho ra khách hàng có thể hay không có
21
thể cho vay. Đó là những vấn đề nh: tính pháp lý, hợp pháp của mục đích sử dụng

vốn vay; năng lực tài chính; năng lực sản xuất kinh doanh; tính khả thi của dự án;
biện pháp đảm bảo
Rõ ràng khả năng của doanh nghiệp sẽ ảnh hởng trực tiếp đến vấn đề mở rộng và
chất lợng tín dụng, nếu khả năng của doanh nghiệp quá thấp hoặc do điều kiện đặt ra
quá khắt khe, không thực tế thì Ngân hàng không thể mở rộng cho vay.


Khả năng của doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng vốn vay có hiệu quả.
Khi cho vay thì Ngân hàng trông đợi khoản trả nợ lấy đợc từ chính kết quả
hoạt động của dự án chứ không phải bằng cách phát mại tài sản thế chấp cầm cố.
Điều này phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp với vị thế và năng lực thị trờng mạnh sẽ dễ dàng hơn trong việc
chiếm lĩnh thị trờng, chiến thắng trong cạnh tranh thể hiện ở uy tín của sản phẩm,
khả năng thích ứng với nhu cầu thị trờng, khối lợng sản phẩm và doanh thu mang
lại.
Chất lợng nhân sự là điều kiện thuận lợi để có thể đạt kết quả cao trong kinh
doanh. Muốn vậy, doanh nghiệp phải có đội ngũ nhân công lành nghề am hiểu
khoa học công nghệ với đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ kinh nghiệm.
Năng lực quản lý doanh nghiệp, bao gồm chất lợng nhân sự, quản lý một cơ
cấu tổ chức tối u cho phép tận dụng tối đa nguồn tài lực và vật lực để đạt mục tiêu
kinh doanh cao nhất.
* Đạo đức, thiện chí của khách hàng: Trong quan hệ tín dụng đòi hỏi phải có
sự hợp tác từ hai bên. Nếu khách hàng không có thiện chí nh sử dụng vốn vay sai
mục đích, lừa đảo Ngân hàng, kinh doanh trái pháp luật, chiếm dụng vốn lẫn
nhau ảnh h ởng tới chất lợng mang lại rủi ro cho Ngân hàng .
1.1.3.3. Nhóm nhân tố thuộc môi tr ờng


Môi trờng tự nhiên: Điều kiện tự nhiên diễn ra thuận lợi hay bất lợi sẽ ảnh h-
ởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hởng tới khả năng trả

nợ Ngân hàng.
22
Môi trờng kinh tế: Là tế bào trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của
Ngân hàng cũng nh doanh nghiệp chịu ảnh hởng rất nhiều của môi trờng này. Sự
biến động của nền kinh tế tốt hay xấu ảnh hởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng, cũng nh của doanh nghiệp theo chiều hớng tơng tự.
* Môi trờng chính trị - xã hội: Sự ổn định chính trị - xã hội là căn cứ quan
trọng để đầu t. Nếu môi trờng này ổn định thì các nhà đầu t sẽ yên tâm thực hiện
mở rộng đầu t do đó nhu cầu về vốn tín dụng trung - dài hạn tăng lên và ngợc lại.
Môi trờng pháp lý: Môi trờng pháp không chặt chẽ nhiều khe hở và bất cập
sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau,
lừa đảo Ngân hàng, khiến cho các nhà đầu t e dè, không dám mạnh dạn đầu t phát
triển sản xuất kinh doanh.
Sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc và các cơ quan chức năng: Sự ổn định và
hợp lý của các đờng lối chính sách, quy định thể lệ của Nhà nớc, của cơ quan chứa
năng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng cũng nh doanh
nghiệp, là tiền đề rất quan trọng để Ngân hàng nâng cao chất lợng tín dụng của
mình.
Tóm lại, với t cách là trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động tín
dụng có liên quan tới nhiều đối tợng, lĩnh vực khác nhau. Do đó, việc mở rộng và
nâng cao chất lợng tín dụng nói chung và chất lợng tín dụng trung dài hạn nói
riêng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Việc nghiên cứu nắm rõ từng nhân tố giúp
cho Ngân hàng có biện pháp thích hợp để mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng,
phát huy tối đa vai trò đòn bẩy kinh tế của mình.
1.1.4. Sự cần thiết phải mở rộng và nâng cao chất l ợng tín dụng trung - dài hạn.
Nh đã trình bày ta có thể thấy tín dụng Ngân hàng nói chung và tín dụng
trung dài hạn nói riêng có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế,
đối với doanh nghiệp cũng nh đối với bản thân Ngân hàng. Cùng với sự phát triển
của kinh tế thị trờng, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và phát triển đa dạng
với sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế, theo đó quan hệ tín dụng cũng đợc mở

23
rộng về đối tợng và quy mô làm cho hoạt động tín dụng của NHTM ngày càng khó
khăn, phức tạp hơn. Để có thể đứng vững đợc trong điều kiện kinh tế cạnh tranh
ngày càng gay gắt và để phục vụ nền kinh tế ngày càng tốt hơn thì việc thực hiện
có hiệu quả các hoạt động tín dụng và nâng cao chất lợng tín dụng là yêu cầu đối
với mỗi Ngân hàng ngày nay:
- Một là đối với Ngân hàng :
Trớc hết mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung - dài hạn là điều kiện
để Ngân hàng tăng cờng nguồn vốn của mình. Biểu hiện ở việc áp dụng linh hoạt
và hiệu quả công tác huy động vốn sẽ tạo đợc nguồn vốn đa dạng dồi dào làm cơ
sở tạo ra các tài sản Có sinh lời. Bên cạnh đó, nâng cao chất lợng tín dụng là điều
kiện để Ngân hàng bảo toàn vốn và tài sản của mình cũng nh tài sản của nền kinh
tế tại Ngân hàng.
Hơn nữa, mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng là điều kiện để Ngân hàng
tăng cờng lợi nhuận mà tỷ trọng lợi nhuận tín dụng trung - dài hạn chiếm tỷ trọng
lớn hơn trong cơ cấu tài sản Có của mọi NHTM.
Mặt khác, nó là điều kiện để Ngân hàng tăng cờng uy tín, vai trò duy trì khả
năng thanh toán, mở rộng các dịch vụ Ngân hàng đồng thời đảm bảo quyền lợi cho
khách hàng
- Hai là đối với doanh nghiệp vay vốn:
Trớc hết mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng góp phần lành mạnh hoá quan
hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng, tạo đợc các khoản tín dụng có chất l-
ợng từ đó giúp doanh nghiệp thoả mãn yêu cầu về vốn, duy trì và mở rộng khả
năng sản xuất kinh doanh. Mặt khác, mở rộng vànâng cao chất lợng tín dụng là đòi
hỏi cần thiết để nâng cao hiêu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì Ngân hàng
là trung gian thanh toán, trung gian tín dụng sẽ giúp các doanh nghiệp thực hiện tốt
các giao dịch với nhiều đối tợng khác, đáp ứng nhu cầu về vốn thờng xuyên cho
doanh nghiệp.
24
Mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng còn là điều kiện củng cố chế độ hạch

toán kế toán của doanh nghiệp theo yêu cầu cũng nh t vấn thờng xuyên của Ngân
hàng
- Ba là đối với nền kinh tế:
Nâng cao chất lợng tín dụng sẽ góp phần ổn định tài chính, tạo điều kiện cho
Nhà nớc thực thi tốt chính sách tiền tệ, góp phần phát triển nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trờng có rất nhiều tổ chức cung cấp vốn, có nhiều kênh
dẫn vốn cho nền kinh tế và không thể không khẳng định vai trò hàng đầu của các
NHTM. Bởi vì nhu cầu đầu t vốn, mở rộng sản xuất, nâng cao khả năng sản xuất
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng là luôn tồn tại và không ngừng lớn mạnh.
NHTM mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu vốn
không ngừng lớn mạnh này. Ngợc lại, thị trờng tín dụng sẽ đóng băng thì nền kinh
tế sẽ rơi vào trì trệ suy thoái.
Trên đây là những nghiên cứu lý luận cơ bản, hệ thống hoá các vấn đề có liên
quan tới việc mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng trung - dài hạn tại NHTM. Đánh
giá đúng vai trò của tín dụng Ngân hàng, hoạt động mở rộng đi cùng với
chất lợng tín dụng nói chung và tín dụng trung - dài hạn nói riêng là hết sức cần
thiết. Nó giúp cho quá trình đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng tín
dụng trung - dài hạn nói chung và tín dụng trung - dài hạn tại NHNo& PTNT
Hoàn Kiếm nói riêng.

25

×