Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở địa bàn tỉnh nam định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (861.84 KB, 114 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

Bùi Thị Thu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
của hiệu trưởng trường trung học cơ sở địa bàn tỉnh
Nam Định

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà nội - 2008


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

Bùi Thị Thu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở địa bàn
tỉnh Nam Định
Luận văn Thạc sĩ
Mã Số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Thị Kim Thoa

Hà nội - 2008


MỞ ĐẦU


1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong “Chiến lược con người” ở thời kỳ đất nước đổi mới và hội
nhập, Đảng ta coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Giáo dục với 3 mục tiêu
“Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bôi dưỡng nhân tài” chính là hướng tới và
đáp ứng yêu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học – công nghệ, phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu
trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của thế
hệ trẻ hiện nay và mai sau. Đổi mới giáo dục là xu hướng tất yếu tạo nên
những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng, xây dựng
nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình giáo dục.
1.2. Theo Luật Giáo dục 2005 tại điểm 3 của điều 27 nêu rõ mục tiêu
của giáo dục THCS: nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của
giáo dục tiểu học: có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và hiểu biết ban đầu
về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc
đi vào cuộc sống lao động.
Giáo dục không chỉ diễn ra trên lớp, trong trường học mà còn thực hiện
ở ngoài lớp, ngoài trường theo phương thức kết hợp giáo dục giữa nhà trường,
gia đình và xã hội thông qua các hình thức như học tập, lao động, vui chơi,
hoạt động môi trường, sinh hoạt tập thể... HĐGDNGLL giúp HS mở rộng tri
thức, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, tính tích cực xã hội và kỹ năng sống. Đối
với HS, HĐGD NGLL với ý nghĩa xã hội của nó là dịp để các em có cơ hội
tham gia các họat động thực tiễn. HS khi hoà mình vào đời sống xã hội sẽ có
thêm những hiểu biết, học thêm được kinh nghiệm giao tiếp... để làm giàu
thêm vốn sống cho mình. Do đó những hình thức hoạt động xã hội, hoạt động
thực tiễn là phương tiện rất tốt để HS rèn luyện các phẩm chất nhân cách như

1



“tình thương người, tình đoàn kết, lòng tự trọng, lòng khoan dung, tính tập
thể”...
1.3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với nội dung, hình thức
phong phú, đa dạng sẽ là phương thức để thực hiện nguyên lý giáo dục “Học
đi đôi với hành”; “Nhà trường gắn liền với xã hội”.
- Quản lý tốt HĐGDNGLL sẽ tạo môi trường thống nhất giữa quá trình
dạy học và quá trình giáo dục để HS có cơ hội bộc lộ nhằm phát triển phẩm
chất và năng lực.
- Tổ chức HĐGDNGLL là một đòi hỏi tất yếu của quá trình giáo dục và
không gì thay thế được. Có thể nói, HĐGDNGLL đối với lứa tuổi HS THCS
chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục. HĐGDNGLL là bộ phận
trong chương trình giáo dục THCS. Việc thực hiện HĐGDNGLL trong thực
tế còn gặp những khó khăn nhất định, kể cả trong việc tổ chức, quản lý chỉ
đạo, kiểm tra và đánh giá.
1.4. HĐGDNGLL đưa vào chương trình giáo dục phổ thông được bộ
khẳng định là biểu hiện rõ nhất của đổi mới giáo dục đào tạo. HĐGDNGLL
rèn cho học sinh các đức tính quý báu như tinh thần tương thân, tương ái, ý
thức cộng đồng, lòng yêu cuộc sống, yêu cái đẹp. Đẩy mạnh hoạt động này là
một biện pháp cần thiết và cần phải làm ngay để đáp ứng nhu cầu cuộc sống,
giúp học sinh có hứng thú, niềm tin trong quá trình tiếp thu kiến thức, nó
mang lại kết quả khả quan, những tiêu cực trong học đường bị đẩy lùi. Hoạt
động này còn bổ sung kiến thức, tạo động lực học tập, từ đó chất lượng giáo
dục sẽ được nâng lên. Tuy nhiên qua hơn 5 năm thực hiện HĐGDNGLL
nhưng các trường vẫn còn lúng túng khó khăn. Giáo viên trực tiếp giảng dạy
chưa xác định rõ nhiệm vụ trong việc triển khai thực hiện. Một lý do nữa là
cán bộ quản lý – người phụ trách mảng hoạt động này cũng chưa thực sự quan
tâm đến hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, khâu triển khai kế hoạch, tổ

2



chức thực hiện chỉ đạo và kiểm tra đánh giá chưa đúng mức và còn lỏng lẻo
trong việc quản lý.
Theo báo cáo tổng kết năm học 2007-2008, việc tổ chức HĐGDNGLL
ở các trường THCS trên địa bàn tỉnh NĐ chưa được các cơ sở giáo dục, các
trường học quan tâm một cách đúng mức, nội dung và hình thức tổ chức hoạt
động còn nghèo nàn, đơn điệu.
Việc nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp cấp Trung học cơ sở ở Tỉnh NĐ cho đến nay chưa có ai nghiên cứu và
chưa được đề cập nhiều trong luận văn thạc sĩ những năm trước đây.
Xuất phát từ những lý do trên, là một cán bộ quản lý phụ trách mảng
công tác này tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu Trưởng cấp trung học cơ sở” với mong
muốn góp phần nhỏ vào công tác quản lý giáo dục và giúp cho việc phát triển
toàn diện nhân cách học sinh.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất các biện pháp
quản lý HĐGDNGLL cấp Trung học cơ sở của người Hiệu trưởng nhằm đảm
bảo chất lượng hoạt động này mang lại sự phát triển toàn diện và hài hoà nhân
cách học sinh.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý HĐGDNGLL ở trường THCS
3.2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng HĐGDNGLL và quản
lý HĐGDNGLL của BGH ở các trường THCS Tỉnh Nam Định.
3.3. Đề xuất biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu trưởng các
trường THCS Tỉnh NĐ
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:


3


Biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu Trưởng trường THCS Tỉnh
Nam Định.
4.2. Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lý HĐGD và Dạy học ở trường THCS Tỉnh NĐ.
5. Giả thuyết khoa học
HĐGDNGLL và công tác quản lý HĐGDNGLL ở trường THCS Tỉnh
NĐ trong thời gian qua đã đạt được kết quả nhất định song vẫn còn nhiều bất
cập, chưa phù hợp với yêu cầu đặt ra trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện
nay. Nếu thay đổi biện pháp quản lý như giám sát, đánh giá hiệu quả tốt hơn
đối với HĐGDNGLL và điều chỉnh nội dung và hình thức HĐGDNGLL cho
phù hợp với điều kiện nhà trường thì HĐGDNGLL sẽ thoả mãn được nhu cầu
của học sinh cũng như yêu cầu của xã hội.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý HĐGDNGLL cấp
THCS.
6.2. Xác định thực trạng quản lý HĐGDNGLL cấp THCS Tỉnh NĐ.
6.3. Đề xuất biện pháp quản lý HĐGDNGLL áp dụng cho cấp THCS
Tỉnh Nam Định.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp tư liệu về vấn đề có liên quan đến HĐGDNGLL
làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
7.2. Phương pháp thực tiễn
Sử dụng phương pháp nhằm tìm hiểu thực trạng công tác quản lý
HĐGD NGLL ở các trường THCS tỉnh NĐ. Nhóm phương pháp nghiên cứu
thực tiễn gồm:
- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

4


- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.3. Phương pháp hỗ trợ: Thống kê, xử lý số liệu thu được nhằm đánh
giá, nhận định các vấn đề nghiên cứu.
8. Phạm vi nghiên cứu
8.1. Tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý HĐGDNGLL cấp
THCS (do người Hiệu trưởng đảm nhiệm)
8.2. Nghiên cứu trên mẫu là 30 người làm công tác quản lý, 70 Giáo
viên chủ nhiệm và 100 HS của 15 trường THCS trên địa bàn Tỉnh NĐ (10
trường ở TP Nam định và 5 trường ở huyện Giao thuỷ)
9. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm các phần sau:
- Mở đầu
- Nội dung: Được trình bày trong 3 chương
+ Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý HĐGDNGLL cấp
THCS.
+ Chương 2: Thực trạng quản lý HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường
THCS Tỉnh NĐ.
+ Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu
trưởng trường THCS Tỉnh NĐ.
- Kết luận và khuyến nghị

5



CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HĐGDNGLL
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
HĐGDNGLL là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục ở
hầu hết các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Hoạt động này được chú
trọng và được nghiên cứu để trở thành một công cụ hữu ích giúp học sinh học
tập đạt kết quả cao hơn và phát triển toàn diện hơn về nhân cách.
HĐGDNGLL giúp học sinh gắn kiến thức trong nhà trường vào cuộc sống.
HĐGDNGLL là vấn đề mới được nghiên cứu. Tuy nhiên từ vài thập kỷ
gần đây đã xác định rõ: “Muốn thực hiện giáo dục và giáo dưỡng trong các
môn học cần tổ chức ngoại khóa”.
Các tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn Giáo dục học (9)
đã nhấn mạnh vai trò và tác dụng của hình thức hoạt động ngoại khóa, coi
hoạt động ngoại khóa là một hình thức dạy học có khả năng tạo hứng thú cho
học sinh, giúp các em mở rộng, nâng cao, khắc sâu kiến thức.
Tác giả Nguyễn Thị Tiến với công trình nghiên cứu “Những biện pháp
quản lý HĐGDNGLL của HS ở trường THPT Nam Sách ở Hải Dương”(27)
đã đưa ra một số biện pháp quản lý như nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán
sự lớp, tăng cường CSVC, thi đua, khen thưởng kịp thời...
Nguyễn Thị Thành với nghiên cứu “Các biện pháp tổ chức
HĐGDNGLL cho HS THPT”, (18) đã khẳng định tổ chức HĐGDNGLL có
hiệu quả sẽ phát huy vai trò chủ thể trong quá trình hình thành nhân cách của
mỗi HS, đáp ứng nhu cầu của xã hội trong xu thế hội nhập, góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục của mỗi trường. Một số biện pháp đã được xây dựng như:
xây dựng năng lực đội ngũ tổ chức HĐGDNGLL, phát huy tối đa vai trò chủ
thể của HS, thi đua, XHH giáo dục, đa dạng hóa các loại hình,...

6



Đỗ Văn Lợi với nghiên cứu “Một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL
ở trường phổ thông Hermann Gmeiner”(13) đã khẳng định HĐGDNGLL có
vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hình thành quản lý như: nâng cao nhận
thức cho cán bộ, giáo viên về đặc điểm của trường phổ thông Hermann
Gmeiner; xây dựng đội ngũ quản lý và tổ chức HĐGDNGLL giỏi về chuyên
môn, có tinh thần trách nhiệm cao; nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ
cán sự lớp, toàn thể HS về việc tham gia các HĐGDNGLL.
Sách “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” của Nguyễn Dục Quang
( Chủ biên) (16) – Sách dành cho Cao đẳng Sư phạm đã đề cập đến những nội
dung cơ bản xung quanh những vấn đề của HĐGDNGLL cung cấp cho giáo
sinh làm cơ sở cho công tác thực tập sư phạm và công tác chủ nhiệm lớp sau
này.
Sách “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” của tác giả Hà Nhật
Thăng và Sách giáo viên 6, 7, 8, 9 (20, 21, 22, 23) đã nêu lên mục tiêu giáo
dục, nội dung chương trình, phương thức tổ chức, trang thiết bị cho việc tổ
chức, đánh giá kết quả hoạt động của HS và hướng dẫn thực hiện các chủ
điểm giáo dục.
Nhìn chung các tác giả đã đề cao vai trò và tác dụng của HĐGDNGLL
trong quá trình giáo dục đối với học sinh. Bên cạnh việc khẳng định tính cần
thiết của việc tổ chức các hoạt động này ở trường phổ thông nói chung và
khối trung học cơ sở nói riêng, còn cần có một hệ thống cơ bản các khái niệm
công cụ, cách thức tổ chức cụ thể và quản lý, chỉ đạo từ Hiệu trưởng các
trường.
1.1. Các khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục
1.1.1. Quản lý:
Khái niệm quản lý đã được các nhà khoa học định nghĩa bằng nhiều
cách khác nhau:

7



- Theo C.Mác, quản lý là loại lao động điều khiển mọi quá tình lao
động và phát triển xã hội
- Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt
mục đích nhất định.
- Quản lý là sự tác động có ý thức thông qua kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ
đạo, kiểm tra của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá
trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng
với ý của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan.
- Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là tác động của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp
hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất xã hội để đạt mục đích
đã định. Quản lý trở thành 1 hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực ở
mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. C.Mác coi quản lý là một đặc điểm
vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: “Bất cứ lao
động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô
khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá
nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng
phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với
những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản
xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì
cần phải có nhạc trưởng”. Theo C.Mác: quản lý là loại lao động sẽ điều khiển
mọi quá trình lao động phát triển xã hội.
1.1.2. Quản lý giáo dục
QLGD là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những
mục đích của mình. Giống như khái niệm quản lý đã được trình bày phía trên,
khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều quan điểm khác nhau.


8


QLGD trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến
quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trường
nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể
quản lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội đang yêu cầu.
Như vậy, QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD
trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm
đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác
động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa
học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “QLGD là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm cho hệ vận
hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của
nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy
học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về
chất (15).
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: Mục đích cuối cùng của quản lý
giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên
thông minh sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc
của bản thân xã hội (29).
Qua các khái niệm ở trên ta có thể hiểu quản lý giáo dục là tác động có
hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp
khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm đảm
bảo mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, phát triển thể
lực và tâm lý trẻ em trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung
của xã hội.
Ta có thể hiểu một cách đơn giản QLGD là sự tác động của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Nói một cách rõ ràng

hơn, đầy đủ hơn, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có

9


kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều
hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. QLGD là hoạt động
điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục
theo yêu cầu phát triển xã hội.
1.1.3. Quản lý nhà trường
Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy, quản lý
hoạt động học và các hoạt động giáo dục, trong đó có HĐGDNGLL. Các hoạt
động trong nhà trường bản thân nó đã có tính giáo dục song cần có sự quản lý,
tổ chức chặt chẽ mới phát huy được hiệu quả của bộ máy. Giáo sư – viện sỹ
Phạm Minh Hạc cho rằng “Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
với thế hệ trẻ và với từng học sinh.” (6)
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng
như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo trong nhà trường.
Công tác quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có,
tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát
triển mạnh mẽ các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng
giáo dục.
* Công tác quản lý nhà trường bao gồm các nội dung:
- Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, cán bộ công nhân viên và tập
thể HS thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của Nhà

trường. Giáo dục HS phấn đấu, học tập tu dưỡng trở thành những công dân ưu
tú.

10


- Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình của Bộ GD ĐT làm sao để chương trình được thực hiện nghiêm túc và các phương pháp
giáo dục luôn được cải tiến, chất lượng dạy và học ngày một nâng cao. Biện
pháp quản lý là theo dõi sát sao mọi công việc, kiểm tra kịp thời, thanh tra để
uốn nắn...
- Quản lý tốt việc học tập của HS theo quy chế của Bộ GD - ĐT. Quản
lý HS bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần
thái độ và phương pháp học tập.
- Quản lý toàn bộ CSVC và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất
cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS. Quản lý tốt CSVC nhà trường
không đơn thuần chỉ là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt khả năng cho dạy
học vào giáo dục, đồng thời phải làm sao để có thể thường xuyên bổ sung
thêm những thiết bị mới và có giá trị.
- Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc
quản lý chính của Nhà nước và của ngành giáo dục. Đồng thời biết động viên,
thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng CSVC, mua sắm thiết bị
phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học.
- Quản lý nhà trường cũng có nghĩa là chăm lo đến đời sống vật chất và
tinh thần của tập thể GV, công nhân viên. Cần tạo một phong trào thi đua
phấn đấu liên tục trong nhà trường.
- QLGD trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến
quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trường
nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể
quản lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội đang yêu cầu.
Như vậy, QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD

trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm
đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác

11


động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa
học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo.
1.3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.3.1. Khái niệm:
HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ
môn văn hóa. HĐGDNGLL ở trường THCS giúp các em HS có cơ hội tham
gia các hoạt động thực tiễn. HS khi được hoà mình vào đời sống xã hội sẽ có
thêm những hiểu biết, học thêm được kinh nghiệm giao tiếp... để làm tăng
thêm vốn sống của mình, để rèn luyện mình trở thành những người có nhân
cách.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt, HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục
thông qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học kỹ thuật, lao động công
ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể
dục thể thao, vui chơi giải trí... để giúp các em hình thành và phát triển nhân
cách.
Đây là một bộ phận quan trọng hoạt động giáo dục chung của nhà
trường, là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn theo thời
khoá biểu. Hoạt động này có mục tiêu giúp học sinh mở rộng, củng cố, nâng
cao kiến thức, hình thành và phát triển ở các em các kỹ năng, thái độ, hành vi,
phát triển năng lực sở trường, có thái độ và hành động đúng trước cuộc sống.
HĐGDNGLL được thực hiện có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp
phần vào việc đào tạo những phẩm chất nhân cách tốt đẹp cho học sinh, đáp
ứng những yêu cầu đa dạng của đời sống xã hội. Theo T.A. Ilina “Công tác
giáo dục HS ngoài giờ học thường được coi là công tác giáo dục ngoại khoá.

Công tác này bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khóa, trước tiên
là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng lực của trẻ em, làm thức
tỉnh thiên hướng và hứng thú của học sinh đối với một hoạt động nào đó; đó

12


là một hình thức giải trí của HS và là cơ sở để tổ chức việc thực tập và hành
vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này” (17)
HĐGDNGLL là bộ phận hữu cơ trong quá trình giáo dục ở nhà trường
phổ thông, là bộ phận không thể thiếu được trong kế hoạch giáo dục- đào tạo
của nhà trường; giữa thời gian trong năm học và thời gian hè.
HĐGDNGLL có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động dạy học và tạo
điều kiện gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất giữa nhận thức với hành
động góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển các kỹ năng, tình
cảm, niềm tin, tạo cơ sở cho việc phát triển nhân cách toàn diện HS trong giai
đoạn hiện nay.
Theo G.S Đặng Vũ Hoạt: “HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông
qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt
động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hoá văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể
thao, vui chơi giải trí... để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách.”
1.3.2. Vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
* Vị trí: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục là những bộ phận của
quá trình sư phạm tổng thể. Trong quá trình dạy học, ngoài việc truyền thụ
cho HS những tri thức khoa học cơ bản và có hệ thống còn phải luôn mang lại
hiệu quả giáo dục nhân cách cho các em. Ngược lại, trong quá trình giáo dục,
ngoài việc hình thành cho HS ý thức và niềm tin, về thái độ ứng xử đúng đắn
trong các quan hệ giao tiếp hàng ngày, về hành vi và kỹ năng hoạt động còn
phải tạo cơ sở để HS bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học ở trên lớp.
Quá trình dạy học giáo dục diễn ra ở hai hoạt động chủ yêu: Hoạt động dạy

học trên lớp và HĐGDNGLL.
Như vậy, tổ chức HĐGDNGLL thực sự là cần thiết, là một đòi hỏi tất
yếu của quá trình giáo dục và không có gì có thể thay thế được. Có thể nói,
HĐGDNGLL đối với lứa tuổi THCS chiếm một vị trí quan trọng trong quá
trình giáo dục.

13


* Vai trò: Từ vị trí quan trọng nêu trên, có thể thấy rõ vai trò của
HĐGDNGLL trong trường THCS thể hiện ở những điểm sau:
- HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học, do đó tạo nên sự hài
hoà, cân đối trong quá trình sư phạm tổng thể nhằm thực hiện mục tiêu giáo
dục của cấp học. Đây là dịp để HS củng cố kết quả hoạt động học tập ở trên
lớp, biến tri thức thành niềm tin. Thông qua các hình thức hoạt động cụ thể,
HS có dịp để đối chiếu, để kiểm nghiệm tri thức đã học, bổ sung, cập nhập
thông tin làm cho thông tin đó trở thành của chính các em. HĐGDNGLL với
nhiều nội dung hấp dẫn, kiến thức tích hợp nhiều lĩnh vực khoa học và cuộc
sống có tác dụng bổ trợ cho hoạt động dạy học ở trên lớp, nâng cao hiểu biết
về các giá trị truyền thống của dân tộc, từ đó khơi dậy niềm tự hào dân tộc và
mong muốn được cống hiến.
- HĐGDNGLL vừa củng cố, vừa phát triển quan hệ giao tiếp giữa các
lớp trong trường và với cộng đồng xã hội, góp phần giáo dục tinh thần hợp tác
vì mục tiêu chung. Để thực hiện tốt các HĐGDNGLL đòi hỏi tập thể HS phải
có sự tương tác giữa các thành viên. Chẳng hạn như, qua việc tổ chức cắm
trại, theo sự phân công của GVCN, các thành viên trong nhóm phải phối hợp
chặt chẽ với nhau và với các nhóm khác.
- HĐGDNGLL thu hút và phát huy được tiềm năng của các lực lượng
giáo dục trong và ngoài nhà trường để nâng cao hiệu quả giáo dục HS. Đồng
thời cũng giúp các nhà giáo dục phát hiện được năng khiếu của HS, giúp các

em phát triển năng khiếu, sở thích của bản thân trong học tập và cuộc sống.
- HĐGDNGLL phát huy cao độ tính chủ thể, tính chủ động, tích cực
của HS, giảm thiểu tình trạng yếu kém đạo đức của HS. Dưới sự cố vấn, giúp
đỡ của GV, HS cùng nhau tổ chức các hoạt động tập thể khác nhau trong đời
sống hàng ngày ở trường, ngoài xã hội. HĐGDNGLL với nhiều hình thức
phong phú nên khi HS đầu tư thời gian vào các hoạt động bổ ích sẽ giảm bớt
thời gian tham gia vào các hoạt động không làm mạnh, hạn chế nhóm tự phát,

14


tránh ảnh hưởng xấu. Tham gia vào các hoạt động, các em HS yếu kém về
đạo đức có nhiều cơ hội điều chỉnh nhận thức, hành vi sai lệch của mình. Từ
đó hình thành những kinh nghiệm giao tiếp ứng xử có văn hóa, giúp cho việc
hình thành và phát triển nhân cách ở các em.
Vai trò quan trọng nhất của HĐGDNGLL là góp phần phát triển tâm
lực, yếu tố nội lực tạo ra động cơ của sự phát triển nhân cách, khai thác nguồn
tài nguyên người. Đó là mục tiêu của cuộc cách mạng giáo dục của nhân loại
cũng như của dân tộc ta đang tiến hành.

Trí tuệ

Con người

Tâm lực

Nhân cách

Thể lực
Như vậy, với vị trí và vai trò quan trọng của mình, HĐGDNGLL thực

sự là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các hoạt động giáo dục ở nhà
trường THCS hiện nay. Thực hiện các HĐGDNGLL tích cực và hiệu quả sẽ
góp phần vào việc gắn liền nhà trường với cuộc sống xã hội, thiết thực phục
vụ sát những mục tiêu kinh tế – xã hội và quốc phòng giai đọan CNH – HĐH
đất nước.
1.3.3. Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trong thời kì kinh tế hội nhập, đòi hỏi mọi lĩnh vực của cuộc sống cũng
phải thay đổi. Đặc biệt đối với học sinh ở lứa tuổi từ 11 – 14 (lứa tuổi học
sinh bậc THCS) các em có sự nhạy cảm cao, đời sống tâm sinh lý có nhiều

15


biến động. Đây là thời kỳ các em muốn tự khẳng định mình, muốn mình thực
sự là người lớn, muốn được gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, hình thành
phẩm chất, năng lực của người công dân. Mặc dù học tập vẫn là hoạt động
chủ đạo nhưng nội dung, hình thức và tính chất của hoạt động học tập ở lứa
tuổi này khác nhiều so với lứa tuổi ở cấp trước (cấp tiểu học). Chính vì thế
mục tiêu của HĐGDNGLL phải thực hiện được mục tiêu giáo dục phổ thông,
giáo dục toàn diện con người và phát triển hài hoà nhân cách cho học sinh.
* Mục tiêu về nhận thức:
- HĐGDNGLL giúp HS biết vận dụng những tri thức đã học để giải
quyết các vấn đề do thực tiễn đời sống đặt ra, tạo cơ hội kiểm nghiệm những
tri thức đó, làm cho nó đi vào tiềm thức của HS một cách chắc chắn và lâu
bền, kích thích sự phát triển tư duy của các em.
- HĐGDNGLL giúp HS định hướng chính trị, xã hội, có những hiểu
biết nhất định về truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, truyền thống văn hóa của đất nước,... Từ đó tăng thêm sự
hiểu biết của các em về Bác Hồ, về Đảng, về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội
TNTP Hồ Chí Minh.

- HĐGDNGLL giúp HS hướng nhận thức, biết tự điều chỉnh hành vi
đạo đức, lối sống cho phù hợp. Trên cơ sở ấy cũng từng bước làm giàu thêm
những kinh nghiệm thực tiễn, xã hội cho các em.
- HĐGDNGLL giúp HS củng cố, bổ sung và nâng cao thêm hiểu biết
về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hoàn thiện những tri thức đã
được học trên lớp, mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh, với cộng đồng
xã hội. Những tri thức tiếp thu được ở trên lớp mới chỉ là một phần kho tàng
tri thức của loài người. Đó là những tri thức phổ thông, cơ bản nhất mà hoạt
động dạy học có nhiệm vụ truyền đạt. Muốn bổ sung thêm, muốn làm sâu sắc
thêm những tri thức ấy thì cần phải thông qua HĐGDNGLL.
* Mục tiêu về thái độ:

16


- HĐGDNGLL bồi dưỡng cho HS những tình cảm đạo đức trong sáng
với bạn bè, với thầy cô, với những người lớn khác, với quê hương đất nước...
Từ đó giúp các em biết kính yêu và trân trọng cái tốt, cái đẹp, biết ghét những
cái xấu, cái lạc hậu không phù hợp với thời đại.
- HĐGDNGLL bồi dưỡng tính tích cực, tính năng động, sẵn sàng tham
gia những hoạt động xã hội, hoạt động tập thể của trường, của lớp vì lợi ích
chung, vì sự trưởng thành và tiến bộ của bản thân.
- HĐGDNGLL phải tạo cho HS hứng thú và ham muốn được hoạt
động. Muốn vậy, nội dung và hình thức cũng như quy mô hoạt động phải phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và nhu cầu của HS. Thực tế, hoạt động
phải mang lại lợi ích cho HS để thu hút, lôi cuốn các em tự giác tham gia thì
mới đạt được hiệu quả giáo dục.
- HĐGDNGLL từng bước hình thành cho HS niềm tin vào những gá trị
mà các em phải vươn tới, đó là niềm tin vào sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.
Từ đó hình thành cho HS lòng tự hào dân tộc, mong muốn làm đẹp thêm

truyền thống của trường, của lớp, của quê hương mình; mong muốn vươn lên
thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tích cực để trở thành những công dân có
ích cho đất nước sau này.
- HĐGDNGLL góp phần giáo dục cho HS tình đoàn kết hữu nghị với
các bạn thiếu nhi quốc tế, với các dân tộc khác trên thế giới.
* Mục tiêu về rèn kỹ năng:
Đối với HS cấp THCS, các kỹ năng cơ bản cần rèn luyện đó là:
- Kỹ năng giao tiếp, ứng xử có văn hoá. Giao tiếp là hình thức đặc
trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua đó nảy sinh sự
tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung
cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau. Giao tiếp là nhu cầu của con
người muốn tiếp xúc với con người. Nhu cầu tiếp xúc với những người khác
trở thành tâm thế của mỗi người để cùng hợp tác với nhau hướng tới mục đích

17


trong học tập, lao động, vui chơi và các hoạt động tập thể khác. Vì vậy rèn
luyện kỹ năng giao tiếp cho HS thông qua HĐGDNGLL là rất cần thiết.
- Kỹ năng tự quản các hoạt động tập thể. Đó là những kỹ năng lập kế
hoạch hoạt động, kỹ năng thiết kế chương trình hoạt động, kỹ năng tự kiểm
tra và đánh giá kết quả hoạt động. Đây là những kỹ năng rất cần cho việc tổ
chức các hoạt động của HS theo những mức độ khác nhau, có tính đến đặc
điểm cá biệt. Đồng thời rèn luyện cho HS biết cách tự điều chỉnh hành vi phù
hợp với các yêu cầu xã hội, kỹ năng sống hoà nhập và nhiều kỹ năng khác
nữa.
1.3.4. Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
* Nguyên tắc lựa chọn nội dung HĐGDNGLL:
- Nguyên tắc tính đến đặc điểm lứa tuổi và tính cá biệt của HS. Nội
dung của HĐGDNGLL phải được thay đổi tuỳ thuộc vào sự chuyển từ giai

đoạn lứa tuổi khác. GV phải lựa chọn được các nội dung HĐGDNGLL khác
nhau sao cho phù hợp với nhu cầu và khả năng của HS THCS cũng như phù
hợp với hứng thú của cá nhân. Chính vì vậy, GV cần thường xuyên nghiên
cứu đặc điểm của HS, ghi nhận những cái mới được hình thành ở các em để
có thể kịp thời đề xuất và điều chỉnh nội dung hoạt động cho phù hợp.
- Nguyên tắc đảm bảo phát triển tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS.
Tính tích cực, độc lập, sáng tạo được coi là những tiêu chí đánh giá khả năng
tham gia hoạt động của HS, trình độ tự quản các hoạt động tập thể của các
em. Đối với HS THCS, nguyên tắc này phải được quán triệt trong quá trình tổ
chức hoạt động cho HS, phải được thể hiện từ bước chuẩn bị hoạt động, đến
bước tiến hành hoạt động và sau cùng là bước đánh giá kết quả của hoạt động.
Trong mỗi bước, HS phải được thực sự phát huy khả năng của mình, được
bày tỏ quan điểm cũng như những sáng kiến nhằm giúp cho chính hoạt động
của tập thể đạt hiệu quả.

18


- Nguyên tắc phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Nội dung của
HĐGDNGLL phải phản ánh được những đổi thay của quê hương đất nước
trong giai đoạn CNH - HĐH hiện nay. Đây là những chất liệu sống động giúp
HS nâng cao thêm hiểu biết về sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của địa
phương mình, của đất nước, đồng thời giúp các em có thêm thông tin về bạn
bè quốc tế. Vì vậy, khi xây dựng và sắp xếp nội dung hoạt động của từng chủ
điểm giáo dục cần cập nhật thông tin mới để đưa vào hoạt động cụ thể.
- Nguyên tắc phù hợp với tình hình cộng tác của các ban ngành có liên
quan. Giáo viên cần phải nắm bắt được mức độ nhiệt tình cộng tác để có thể
triển khai HĐGDNGLL cho phủ hợp và đạt hiệu quả cao.
* Nội dung HĐGDNGLL
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được phân phối theo chương trình

của Bộ GD - ĐT ban hành cho từng khối lớp (Từ lớp 6 – lớp 9), cụ thể như
sau:

STT

Tháng

Chủ điểm giáo dục

1

9

Truyền thống nhà trường

2

10

Chăm ngoan học giỏi

3

11

Tôn sư trọng đạo

4

12


Uống nước nhớ nguồn

5

1+2

Mừng Đảng, mừng xuân

6

3

Tiến bước lên đoàn

7

4

Hoà bình và hữu nghị

8

5

Bác Hồ kính yêu

9

6+7+8


Hè vui khoẻ và bổ ích

Mặc dù chủ điểm từng tháng của các khối lớp giống nhau nhưng nội
dung có sự khác nhau.

19


- Nội dung hoạt động ở lớp 6
Nội dung chương trình HĐGDNGLL lớp 6 được xây dựng dựa trên cơ
sở của sự kết hợp giữa các hình thức hoạt động xã hội – chính trị, vui chơi
giải trí, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, hoạt động theo hứng hú khoa
học. Các nội dung về giáo dục pháp luật, giáo dục môi trường, giáo dục phòng
chống các tệ nạn xã hội... được lồng ghép vào nội dung hoạt động của các chủ
điểm giáo dục. Hoạt động của các ngày như : 20 – 11; 22 – 12; 3 – 2, ngày
Giỗ tổ Hùng Vương (ngày 10 – 3 âm lịch) sẽ để các nhà trường tự xây dựng
nội dung hoạt động cho phù hợp với khả năng và điều kiện của trường. Phần
tự chọn được bố trí trong chương trình giúp nhà trường có thêm những hình
thức hoạt động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương
và phù hợp với điều kiện của nhà trường, đồng thời cũng giúp nhà trường mở
rộng thêm các hình thức hoạt động mang tính sáng tạo, tính địa phương, tính
thời sự. Các hoạt động có thể lựa chọn là: Tổ chức các câu lạc bộ trẻ; hội diễn
văn nghệ; hoạt động của các đội thể thao theo lớp, khối lớp hay toàn trường
(như đội bóng đá, điền kinh, cờ vua). Tổ chức các cuộc du lịch, cắm trại, tham
quan danh lam thắng cảnh của địa phương; xem phim, xem biểu diễn nghệ
thuật, tham gia trồng cây mùa xuân...
- Nội dung hoạt động ở lớp 7
Nội dung hoạt động ở lớp 7 sâu và rộng hơn so với lớp 6. Chẳng hạn
như: ở lớp 6, học sinh mới chỉ dừng lại ở việc học tập quy mô và nhiệm vụ

năm học mới, ghi nhớ và làm quen với môi trường học mới. Lên lớp 7, các
em cần phải hiểu rõ nội dung của những quy định mới thông qua việc trao
đổi, thảo luận tập thể. Từ đó giúp học sinh khắc sâu những hiểu biết về nội
quy, nhiệm vụ năm học mới và giúp các em có ý thức chủ động ngay từ đầu
năm trong việc lập kế hoạch học tập, rèn luyện. Các nội dung về giáo dục
pháp luật, giáo dục môi trường, giáo dục an toàn giao thông v.v... được thực
hiện ở phần tự chọn. Tuỳ theo yêu cầu thực tế của từng địa phương, các

20


trường sẽ lựa chọn, vận dụng. Hoạt động tự chọn ở lớp 7 giúp các em tích luỹ
thêm kinh nghiệm hoạt động cho bản thân, phát triển tư duy, khả năng sáng
tạo, trí tưởng tượng và rèn luyện các kỹ năng giao tiếp với mọi người, với
công việc, với môi trường.
- Nội dung hoạt động ở lớp 8
Ngoài những nội dung chính được phân phối trong chương trình, HS
khối lớp 8 còn có thêm những hoạt động khác. Những hoạt động chung do
trường hoặc địa phương tổ chức thường là những hoạt động phục vụ cho các
vấn đề chính trị, xã hội cất thiết như bảo vệ môi trường, thực hiện trật tự an
toàn giao thông, phòng chống AIDS, ma tuý và các tệ nạn xã hội.
- Nội dung hoạt động ở lớp 9
Cũng giống như nội dung hoạt động của khối 8, đối với khối 9, cũng
vẫn là các hoạt động theo chủ điểm hàng tháng nhưng từng nội dung, hình
thức hoạt động được rõ ràng hơn, phù hợp với lứa tuổi.
Nội dung HĐGDNGLL rất phong phú và đa dạng. Những loại hình
hoạt động được lựa chọn để đưa vào chương trình HĐGDNGLL như: giáo
dục đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ, thể chất, lao động, môi trường, pháp luật...
được thể hiện ở các loại hình hoạt động sau đây:
- Hoạt động chính trị xã hội: HĐGDNGLL mang tính định hướng xã

hội cao nên các nội dung giáo dục trọng hoạt động chứa đựng ý nghĩa xã hội
rất lớn. Đó là những hoạt động có liên quan đến những dịp kỷ niệm các ngày
lễ lớn của dân tộc; các hoạt động nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động
từ thiện; các hoạt động tuyên truyền cổ động về nội quy nhà trường, những
quy định về pháp luật (như luật an toàn giao thông, trật tự công cộng ...),
những chính sách lớn của nhà nước (như dân số, bảo vệ môi sinh, môi trường,
phòng chống các tệ nạn xã hội...); các hoạt động trao đổi, thảo luận hoặc thi
tìm hiểu về các sự kiện xã hội, chính trị, kinh tế... trong và ngoài nước (như
thi tìm hiểu về AIDS với các câu hỏi tuyên truyền cũng như những tiểu phẩm,

21


tìm hiểu về những thành tựu kinh tế, văn hóa của địa phương); các hoạt động
giao lưu, kết nghĩa; công tác Trần Quốc Toản và phụ trách Sao nhi đồng...
- Hoạt động văn hóa, nghệ thuật: là những hoạt động như ca hát, vui
chơi, xem biểu diễn nghệ thuật,... chúng mang lại cho HS hơi thở của cuộc
sống, giúp các em sảng khoái về tinh thần, bớt được những căng thẳng vốn có
trong quá trình học tập của các em. Hoạt động văn hóa nghệ thuật giáo dục
HS biết cách cảm xúc với nghệ thuật, với cái hay, cái đẹp của con người, của
cuộc sống, của tự nhiên, tạo nên ở các em những tình cảm thẩm mỹ; giúp HS
có những hiểu biết, những tình cảm chân thành đối với con người, với tổ
quốc, với thiên nhiên và với chính mình. Có nhiều hình thức hoạt động văn
hóa nghệ thuật như thơ ca, múa hát, kịch ngắn, kể chuyện... được thể hiện
dưới các hình thức khác nhau; cuộc thi vẻ đẹp HS tuổi thiếu niên từng khối
lớp hoặc trường; thi khéo tay như thi thêu, cắm hoa, nấu ăn, may vá... hoặc
trưng bày những bài văn hay, những cách giải độc đáo, những dụng cụ học tập
tự làm; xem phim, xem biểu diễn nghệ thụât; tham gia du lịch; CLB chuyên
đề.
- Hoạt động thể dục, thể thao: hoạt động thể dục thể thao chiếm một

vị trí đáng kể trong nhà trường, là một bộ phận quan trọng của giáo dục nói
chung. Tham gia các họat động thể dục thể thao các em sẽ có điều kiện để rèn
luyện thể lực, tăng cường sức khoẻ, hình thành nhiều phẩm chất tốt như: ý
thức tổ chức kỷ luật, ý chí vượt khó, tinh thần đồng đội, tính kiên trì, lòng
dũng cảm, tình đoàn kết, lòng tự trọng... Hoạt động thể dục thể thao diễn ra
dưới nhiều hình thức như: thể dục chống mệt mỏi, các hình thức nghỉ ngơi
tích cực (thể dục nhịp điệu,đá cầu, nhảy dây, các trò chơi tập thể...), các đội
đá bóng mini, cờ vua, điền kinh, Hội khoẻ Phù đổng, ngày hội thể thao toàn
trường.
Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rất phong phú và đa
dạng. Những loại hình hoạt động được lựa chọn để đưa vào chương trình hoạt

22


động giáo dục ngoài giờ lên lớp như: giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ, thể
chất, lao động, môi trường, pháp luật.... và được thể hiện ở các loại hình hoạt
động sau đây:
- Hoạt động lao động, khoa học, kỹ thuật, hướng nghiệp: Đây là một
loại hình hoạt động có trong chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp. nội dung của loại hình hoạt động này nhằm đáp ứng những hững thú và
niềm say mê tìm tòi cái mới trong học tập, ứng dụng kiến thức của học sinh
vào trong thực tế. Đó là các hoạt động của các CLB tìm hiểu về xã hội, khoa
học theo các chuyên đề (toán, lý, hoá, sinh...); sưu tầm, tìm hiểu về các danh
nhân, nhà bác học, những tấm gương ham học, say mê phát minh sáng chế,
nghe nói chuyện về các ngành nghề trong xã hội, các thành tựu khoa học kỹ
thuật, thi làm đồ dùng học tập, dụng cụ trực quan, tham quan các cơ sở sản
xuất – các công trình khao học, xem triển lãm về thành tựu kinh tế, kỹ thuật.
- Hoạt động vui chơi giải trí: Vui chơi giải trí góp phần tăng cường
sức khoẻ, giúp học sinh cân bằng trạng thái tâm lý và phát triển trí tuệ, thúc

đẩy khả năng học tập của các em. Tổ chức hoạt động vui chơi có mục đích
giáo dục rõ ràng là một “sân chơi” rất tốt để rèn luyện cho học sinh các kỹ
năng rất cơ bản như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển,
kỹ năng cùng tham gia... Nội dung của hoạt động vui chơi giải trí phải cụ thể,
dễ thực hiện và có tác dụng kích thích sự hưng phấn của học sinh, làm giảm đi
sự căng thẳng, mệt mỏi ở các em. Vui chơi giải trí có nhiều hình thức như: trò
chơi vận động, trò chơi thể thao, trò chơi trí tuệ, thi ứng xử...
- Hoạt động lao động công ích: Là hoạt động trong đó học sinh tham
gia giữ gìn và bảo vệ môi trường cảnh quan của nhà trường, địa phương bằng
những việc làm hữu ích, thiết thực, phù hợp với khả năng và hứng thú của các
em. Có nhiều hình thức lao động công ích như: trực nhật, vệ sinh lớp học, sân
trường và các khu vực của nhà trường, sửa bàn ghế, trang trí lớp học, trồng
cây, làm bồn hoc, cây cảnh cho đẹp trường, đẹp lớp, tham gia lao động trong

23


×